Mục lục:

Archives:

Meta:

Xin giới thiệu:

Truy tìm:

BA THÁCH THỨC CỦA DÂN TỘC VIỆT

Hôm 29 tháng 8, 2018, trong buổi phóng vấn dành cho hệ thống truyền hình FOX, Đại tướng hồi hưu John M. Keane, nguyên Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ và hiện là Chủ Tịch Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh, lần nữa xác định quan điểm chiến lược của Mỹ xem “Trung Cộng là đe dọa an ninh lâu dài.”

Theo tướng John M. Keane, trong giai đoạn từ khi Tập Cận Bình nắm quyền tối cao tại Trung Cộng, khả năng quốc phòng của Trung Cộng đã phát triển nhanh hơn bất cứ quốc gia nào, kể cả Mỹ. Vào năm 2017, Trung Cộng có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới về số lượng tàu chiến với 317 chiến hạm so với 283 của Mỹ.

Dĩ nhiên, sự so sánh của tướng John M. Keane chỉ đơn thuần về con số, các yếu tố khác có thể còn quan trọng hơn chưa được ông phân tích hay tạm gác qua bên.

Chính sách của Mỹ trong những năm sau biến cố 9/11 2001 tập trung vào chống khủng bố, chiến tranh Iraq, Afghanistan, và khủng hoảng Trung Đông. Giới cầm quyền Trung Cộng đã lợi dụng sự thờ ơ đó của Mỹ để quân sự hóa các vùng chiếm được trên Biển Đông và mở rộng ảnh hưởng trên Thái Bình Dương.  

Chính sách đối ngoại “bẫy nợ” của Trung Cộng

Trung Cộng áp dụng chính sách đối ngoại hai mặt, vừa lấn áp chủ quyền thô bạo trên Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế và đồng thời vừa mở rộng quan hệ kinh tế với các quốc gia đang phát triển trong vùng để dụ họ vào chiếc bẫy nợ.

“Bẫy nợ” kinh tế tài chánh sẽ ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại và quốc phòng. Các nước như Sri Lanka, Pakistan, Cambodia, Bangladesh, Nepal, Philipppines v.v.. đang sập vào bẫy nợ của Trung Cộng.

Các nhà phân tích ví von một cách mỉa mai rằng giấc mơ tươi đẹp của chủ nợ Trung Cộng là cơn ác mộng hãi hùng của các nước con nợ.

Mục đích chính của “bẫy nợ” do Trung Cộng tạo ra là an ninh chiến lược. Nỗi sợ của Trung Cộng là bị bao vây nên mọi chính sách đối ngoại của Trung Cộng đều nhằm giải tỏa vòng vây.

“Bẫy nợ” tại Sri Lanka như nhiều phân tích đã bàn đến. Ấn Độ là nước quan tâm nhất vì cảng chiến lược Hambantota chỉ cách Ấn Đô một trăm dặm . Các điều khoản của hợp ước sang nhượng Hambantota  99 năm có cả việc cho phép các tàu chiến Trung Cộng thả neo.  Báo chí cho rằng Sri Lanka có khả năng đe dọa Ấn Độ tương tự như vị trí của Cu Ba đối với Mỹ trong Chiến tranh Lạnh.

Một ví dụ khác là Pakistan. Một phần năm tổng số nợ nước ngoài của Pakistan đến từ Trung Cộng. Không phải tự nhiên mà Trung Cộng trói Pakistan vào cột nợ. Pakistan giữ vị trí chiến lược cạnh sườn của Ấn Độ, đối thủ đáng lo của Trung Cộng tại Á Châu. Chính sách bị quốc tế kết án là có ý định chủ nghĩa đế quốc này của Trung Cộng không chỉ áp dụng với Pakistan mà còn đối với nhiều nước Á Châu khác. (Is Pakistan falling into China’s debt trap?, Abdul Khaliq, Committee For The Abolition Of Illegitimate Debt, 16-4-2018)

Nhưng trọng tâm của tất cả là chính sách Một Vòng Đai Một Con Đường (One Belt, One Road hay thường được gọi tắt là OBOR) của Tập Cận Bình. Khác với đề án Con Đường Tơ Lụa thời phong kiến Trung Hoa nối kết qua đường bộ, OBOR sẽ tập trung vào đường biển. 

Đề án khổng lồ có ảnh hưởng đến 68 quốc gia, 4.4 tỉ người và 40 phần tổng sản lượng của nhân loại. Mục đích tối hậu không phải chỉ đơn thuần kinh tế nhưng nhằm phục hồi vị trí của đế quốc Trung Hoa một thời chế ngự Á Châu và lần này chế ngự thế giới.

Phản công của Mỹ

Với sự lắng dịu tình hình Trung Đông và sự đe dọa đến mức khẩn cấp của Trung Cộng tại Á Châu, bảo vệ vùng Thái Bình Dương Ấn Độ Dương đã trở thành mục đích tối quan trọng của Mỹ trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài.

Về phía Mỹ, qua đạo luật NDAA 2019  được TT Donald Trump ký hôm 13 tháng 8, 2018 chuẩn chi 717 tỉ Mỹ kim cho các đề án quốc phòng tài khóa 2019 nhằm đương đầu với hai đối thủ khả năng là Nga và Trung Cộng. Đạo luật giải thích một cách chi tiết nhằm “cung cấp các lực lượng cần thiết và các cơ sở quân sự, khả năng yểm trợ trong khu vực. Đạo luật ủng hộ các thực tập quân sự với Nhật, Úc, và Ấn Độ và cải thiện sự hợp tác an ninh để đối lực lại ảnh hưởng đang dâng cao của Trung Quốc tại Á Châu, Đông Nam Á Châu và các khu vực khác.” (H.R. 5515: John S. McCain National Defense Authorization Act for Fiscal Year 2019)

Trật tự mới đang hình thành tại Á Châu

Điểm nổi bật trong chính sách đối ngoại của TT Trump thể hiện qua chuyến đi năm quốc gia Á Châu là việc giới thiệu chiến lược Ấn-Thái Bình Dương (Indo-Pacific Strategy). Mục đích của chính sách là tạo một không gian “tự do” và  “mở” (free and open Indo-Pacific) đối xử theo cam kết và luật định tại khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Rõ ràng chính sách này nhằm tạo một đối lực thông qua các liên minh giữa Mỹ và các đồng minh Á Châu, cụ thể là Ấn Độ quốc gia có dân số 1.3 tỉ người, để làm đối lực với chính sách bành trướng vô luật pháp của Trung Cộng.

Chận đứng tham vọng bành trướng của Trung Cộng là một thách thức lớn lao, không thể thực hiện bởi riêng một quốc gia nào mà bằng hàng loạt các liên minh tin cậy về kinh tế, chính trị và quốc phòng.

Một số nhà bình luận gọi chính sách Mỹ đang áp dụng đối với Trung Cộng là ngăn chận mới (new containment) mang nội dung kinh tế quân sự để phân biệt với chính sách ngăn chận thời Chiến tranh Lạnh mang nội dung chống Cộng sản bành trướng.

Một liên minh trục theo dạng NATO tại Á Châu sớm hay muộn cũng sẽ ra đời. Bên cạnh liên minh trục, các liên minh quốc phòng và hợp tác song phương, đa phương để dựa lưng nhau cũng sẽ được hình thành.

Còn quá sớm để dự đoán khả năng nào có thể xảy ra và tầm tác hại đến mức độ nào trong cuộc tranh chấp giữa Trung Cộng và khối tự do. 

Trung Cộng sụp đổ do các mâu thuẫn bản chất đối kháng mang tính triệt tiêu hay chiến tranh có thể bùng nổ trong thời gian ngắn nữa tùy thuộc vào nhiều yếu tố.

Dù với  khả năng nào, vai trò và tư cách lãnh đạo của các quốc gia nằm trong vòng ảnh hưởng của xung đột Á Châu hiện nay đóng một vai trò vô cùng quan trọng.

Bài học chủ quan ỷ lại vào phòng tuyến Maginot và thiếu lãnh đạo xứng đáng của Pháp trong giai đoạn trước thế chiến thứ hai đã làm Pháp, một trong ba cường quốc kinh tế và quân sự của Châu Âu, rơi vào tay Đức chỉ trong vòng 46 ngày vẫn còn là một đề tài nóng bỏng.

Ba thách thức của dân tộc Việt

Việt Nam như một dân tộc đang đứng trước ba thách thức chính, hai khách quan và một chủ quan: (1) ngoại xâm Trung Cộng, (2) nội thù Cộng Sản và (3) phân hóa trong  nội bộ những người quan tâm đến tiền đồ đất nước. Các thành phần vô cảm, xu thời, cơ hội không cần thiết phải bàn trong bài này.

Trong ba thách thức, thách thức thứ ba nguy hiểm nhất, mang đặc tính chủ quan nhưng không khó khăn lắm để nhận diện. Nếu thắng được thách thức thứ ba, dân tộc Việt sẽ thắng thách thức thứ hai một cách dễ dàng và có khả năng cao sẽ thắng được thách thức thứ nhất. 

Để nhận diện ra thách thức thứ ba, mỗi người chỉ cần tự trả lời cho mình một câu hỏi “Anh (chị) thật sự muốn gì cho đất nước?”

Câu hỏi thoạt có vẻ rất đơn giản, ngô nghê nhưng ít ai có thể trả lời cho chính mình một cách thông suốt.

Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả đều đồng ý, con đường duy nhất hiện nay là tập trung sức mạnh dân tộc, gạt bỏ mọi bất đồng, vận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam đến thành công, xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị CS, thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị, hiện đại hóa đất nước toàn diện làm nền tảng cho việc phục hồi chủ quyền đất nước, mở đường cho một Việt Nam thăng tiến lâu dài.

“Đúng thế. Không có con đường nào khác”, nhiều người có thể thét to lên.

Tuy nhiên, không phải ai cũng sống và hành xử ngoài cộng đồng, ngoài xã hội đúng với tinh thần của câu trả lời mình đồng ý. Không ít người vẫn thích nguyền rủa hơn khuyên răn, thích dạy khôn hơn học hỏi lẫn nhau, thích kết án vội vàng hơn tìm hiểu lý do.

Nhận thức đúng không chỉ dành riêng những người có kiến thức rộng, đọc nhiều biết nhiều, đi nhiều hay ngay cả ở tù CS nhiều mà từ những người biết vượt qua hay luôn  tìm cách vượt qua những tiêu cực, tị hiềm, hẹp hòi để sống vì cái chung của đất nước.

Cuộc chiến dài và hành trình tỵ nạn đầy hiểm nguy gian khổ đã để lại những vết thương, những vết hằn cá nhân sâu đậm trên thân thể và trong nhận thức của nhiều người, nhưng phải cố gắng vượt qua. Sinh mệnh của dân tộc lớn hơn, quan trọng hơn nỗi đau nhức riêng tư.

Tiền đề của cách mạng dân chủ

Thách thức thứ ba này cũng chính là tiền đề cách mạng dân chủ, và do đó, chưa thể có cách mạng dân chủ nếu những người đang tranh đấu không đồng thuận được ở những bước tiền đề.

Phong trào đối đầu với đảng CS Nga nói riêng và đảng CS Liên Xô nói chung trước 1991 cũng chứa đựng nhiều phân hóa, hận thù, nghi kỵ với đủ loại người từ một cựu ủy viên Bộ Chính trị Boris Yelstin cho tới nhà vật lý nguyên tử Andrei Sakharov. Tuy nhiên, họ đã đoàn kết dựa trên những mục tiêu cụ thể, giới hạn, rõ ràng và dứt khoát.

Phong trào dân chủ Nga biết muốn thắng đảng CS Liên Sô họ không thể đấu tranh bí mật, lén lút mà cần phải có cần một “sân chơi dân chủ” công khai và muốn có “sân chơi dân chủ” công khai họ phải đẩy đảng CS Nga vào chỗ chấp nhận “trò chơi dân chủ”.

Điểm bắt đầu của mục tiêu tranh đấu của họ, do đó, là “xóa bỏ điều sáu hiến pháp” trong đó quy định “đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và dẫn dắt xã hội Xô viết, là hạt nhân của hệ thống chính trị, của nhà nước và các tổ chức xã hội” mở đường cho bầu cử quốc hội tự do. Kết quả, phong trào dân chủ Nga thắng.

Các tiền đề cách mạng dựa trên các điều kiện tương tự cũng đã được áp dụng tại ba nước vùng Baltic trong cuộc vận động “thoát Liên Sô” trước 1990 qua ngã bầu cử quốc hội dân chủ và các quốc gia đó đã “thoát Liên Sô”.

Điều kiện lịch sử của thế giới tại mỗi thời điểm mỗi khác nhưng khát vọng tự do như hơi thở của con người, dù Mông Cổ, Latvia, Miến Điện hay Việt Nam cũng giống nhau.

Đất nước Việt Nam không gì khác hơn là một tập hợp của những con người có cùng lịch sử, cùng địa lý, cùng văn hóa và hôm nay đang cần có cùng một ước mơ tự do dân chủ.  Nếu mỗi người Việt quan tâm, trả lời đúng và nỗ lực theo đuổi mơ ước tự do dân chủ của mình một cách chân thành, rồi đất nước sẽ đổi thay.

Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

ĐỪNG TRÁCH DÒNG SÔNG KHÔNG CHẢY

Trong buổi họp báo khi nhậm chức “Chủ tịch quốc hội” ngày 23/7/2016, bà Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu: “Bảo vệ hòa bình không phải hô hào cho thật to, kích động thế này thế khác là có được chủ quyền, không có đâu. Một số tổ chức, cá nhân lên tiếng hô hào thế này thế nọ nhưng những người đó, tổ chức đó làm gì cho đất nước? Chưa làm gì cả…”

Làm gì cho đất nước là một câu nói quen thuộc được biết là của cố Tổng Thống John F. Kennedy: “Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc” (Ask not what your country can do for you, ask what you can do for your country).

Tuy nhiên, theo Chris Matthews trong tác phẩm Jack Kennedy: Elusive Hero, nhóm chữ “đừng hỏi” thật ra phát xuất từ những lời cảnh cáo của ông George St John, hiệu trưởng trường trung học Choate ở Connecticut thường dùng để căn dặn học sinh và nhập tâm vào cậu học trò Kennedy. Nhưng ông hiệu trưởng George St John cũng không phải là người đầu tiên nói câu nói đó mà chính Tổng thống thứ 29 của Mỹ Warren G. Harding trong diễn văn trước đại hội đảng Cộng Hòa 1916 đã nói một câu tương tự như câu của Tổng thống Kennedy.

Dù ai nói, vấn đề là làm gì cho tổ quốc, cho đất nước.

Vâng nhưng trong trường hợp Việt Nam, trước hết là tổ quốc nào, là đất nước nào?

Cho đến nay, đối với đa số các em đang ngồi trong trường học tại Việt Nam, Việt Nam mà các em được dạy là “xứ sở của anh hùng, độc lập, tự do, hạnh phúc, một đất nước, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, đã liên tục đánh gục ba tên đế quốc đầu sỏ Pháp, Nhật và Mỹ”.

Ý thức của các em là bản sao của một bài hát tuyên truyền được lặp đi lặp lại suốt hơn bốn chục năm qua, nhiều đến nỗi thấm vào trong các em thành một tính bẩm sinh.

Nền giáo dục nhồi sọ Cộng Sản có khả năng đầu độc và làm thay đổi toàn bộ ý thức của con người về lịch sử, nhân sinh và vũ trụ.

Việt Nam có trên 600 tờ báo nhưng báo chí Việt Nam chỉ được phép khai thác những ham muốn vật chất, những thú vui sa đọa, trụy lạc thay vì cổ võ cho các giá trị cao đẹp của quyền sống, quyền tự do dân chủ của con người.

Ý thức của các em khi sinh ra giống như một tờ giấy trắng, đảng Cộng Sản vẽ lên đó hình gì, sẽ hiện lên hình đó, chế độ độc tài sơn lên màu gì, sẽ hiện ra màu đó.

Một dòng sông không chảy không còn là sông nữa mà chỉ là một ao tù.

Thực trạng Việt Nam đặt ra cho những ai còn nghĩ đến tương lai dân tộc những trách nhiệm lương tâm và đạo đức.

Đừng trách dòng sông sao không chảy mà hãy kiên nhẫn phân tích cho các em thấy đất nước mà các em sống bị cai trị bởi một nhóm người già nua, cực đoan, bảo thủ bám vào chiếc ghế quyền lực ngay cả khi biết mình đang chờ chết.

Đừng trách dòng sông không chảy mà hãy chứng minh cho các em thấy Việt Nam mà các em biết là một trong năm nước trên thế giới vẫn tiếp tục bám vào chủ nghĩa Cộng Sản, một ý thức hệ một thời bành trướng nhờ chiến tranh, đấu tố, ám sát, đang lùi xa vào quá khứ.

Đừng trách dòng sông không chảy mà hãy chỉ ra cho các em thấy Việt Nam mà các em biết là quốc gia có 100 ngàn phụ nữ chỉ vì chén cơm manh áo mà phải bán thân lưu lạc xứ người, bị đánh đập, xô đuổi, ném ra đường phố như những nô lệ tình dục thời Trung Cổ.

Đừng trách dòng sông không chảy mà hãy phân tích cho các em biết Việt Nam là quốc gia có 50 triệu thanh niên nhưng đa số không còn sức sống, không có hoài bão cho tương lai của đời mình và cho đất nước mình.

Thay vì trách dòng sông không chảy, hãy chung tay dời tảng đá CS độc tài, lạc hậu ra khỏi lòng sông. Các thế hệ cha chú nếu không vượt qua được những hiện tượng tiêu cực rẽ chia, phân hóa nhiều khi rất nhỏ và tập trung sức mạnh tổng hợp của dân tộc để tháo gỡ cơ chế chính trị, kinh tế và văn hóa độc quyền cộng sản thì lời trách cứ kia chẳng qua là tự trách mình.

Thay vì so sánh các em, các cháu sinh dưới chế độ CS với tuổi trẻ Nhật, Mỹ, Nam Hàn, Hong Kong v.v.. hãy làm tất cả những gì làm được để tuổi trẻ thấy rằng Việt Nam là một dân tộc đáng yêu nhưng cũng là đất nước đang cần một cuộc thay đổi toàn diện để hy vọng có thể hội nhập vào dòng tiến hóa của loài người.

May mắn thay, trong các thế hệ sinh ra sau 1975, một số nhờ nhiều các yếu tố tôn giáo, gia đình và nội lực bản thân, đã thoát ra khỏi được nhà tù bao bọc bằng bốn bức tường dày của tuyên truyền CS và dấn thân cho lý tưởng cao cả phục hưng dân tộc. Họ vẫn còn khá ít nhưng là biểu tượng của tương lai.

Các em, dù đang ở trong tù hay ngoài tù cũng đều đang đấu tranh và tiếp tục đấu tranh theo nhiều cách khác nhau.

Cùng nhau xuống đường, nhưng nếu điều kiện chưa cho phép hãy gởi cho nhau những bài hay, chuyền cho nhau những tin tức mới, giúp đỡ nhau khi công an trấn áp, nương tựa nhau khi gặp khó khăn v.v.. Tất cả đều cần thiết.

Sự chuyển động của núi rừng bắt đầu từ từng chiếc lá, và nếu cùng cất lên theo cùng một nhịp sẽ trở thành một khải hoàn ca.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

TỪ TÔ ĐỊNH ĐẾN NGUYỄN PHÚ TRỌNG, NĂM 43 TRONG LỊCH SỬ

Lê Duẩn ví năm 1975 như là bắt đầu một “kỷ nguyên mới” đưa cả nước “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Nếu gọi thời điểm 1975 là Sản Lịch năm thứ nhất trên phạm vi cả nước chắc không sai lắm. Bắc Hàn cũng có lịch riêng gọi là Juche Lịch lấy ngày sinh của Kim Nhật Thành, 1912, làm năm thứ nhất. Dù nhân loại đang ở giữa năm 2018, Bắc Hàn chỉ mới là năm thứ 107.

Gần hai ngàn năm trước, cũng năm thứ 43 nhưng sau công nguyên trong lịch sử Việt Nam, cũng là một năm đầy chịu đựng vì trong giai đoạn lịch sử này nhà Đông Hán Trung Hoa chủ trương Hán hóa Giao Chỉ.

Thử xem hai âm mưu Hán hóa giống và khác nhau sao.

Hán hóa thời Lưu Tú (Hán Quang Vũ Đế 5 TCN-57)

Đồng hóa dân tộc là tiến trình từng bước cưỡng chế để thay đổi bản sắc của một dân tộc bị trị sang dân tộc cai trị.

Theo Hậu Hán Thư “Thái thú Giao Chỉ là Tô Định đã dùng luật pháp trói buộc nên [Bà Trưng] Trắc tức giận làm phản”. Pháp không chỉ là luật lệ mà pháp chế, tổ chức hành chánh, chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục. Nói chung đó là chính sách đồng hóa. (Gs Trần Gia Phụng, Những Câu Chuyện Việt Sử, Tập 3, nxb Non Nước, Toronto 2002).

Cũng theo Hậu Hán Thư “Xưa ở thời Bình đế, người Hán Trung là Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ dạy dỗ dân Di dần dần hóa theo lễ nghĩa.” Không phải chỉ hà khắc, chính chủ trương đồng hóa của nhà Tây Hán là lý do sâu xa cho cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. (Ts Lê Mạnh Hùng, Nhìn lại Sử Việt từ tiền sử đến tự chủ, nxb Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2011).

Năm 40, Trưng Trắc, người huyện Mê Linh cùng em là Trưng Nhị đánh đuổi Thái thú Tô Định chạy về Trung Hoa. Bà là người đầu tiên gióng lên sức mạnh của quyền tự chủ của một dân tộc khát khao có được chủ quyền độc lập từ Trung Hoa đông hơn và mạnh hơn nhiều.

Năm 41, nhà Đông Hán sai danh tướng Mã Viện, tước Phục Ba Tướng Quân đưa quân tiến đánh Mê Linh. Sau trận Lãng Bạc, hai bà quân ít thế cô đã bị đánh bại.

Năm 43, theo Hậu Hán thư, hai bà bị Mã Viện chém và gởi đầu về Lạc Dương. Theo Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca thời Tự Đức, hai bà đã gieo mình xuống sông tự vẫn.

Dù hy sinh như thế nào cũng đều chứng tỏ hai bà đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng và là hai phụ nữ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã anh dũng chống ngoại xâm, giành độc lập và xưng vương.

Hán hóa thời Tập Cận Bình

Năm 43 Sản lịch tức 2018 Dương lịch, Việt Nam lần nữa đối diện với âm mưu đồng hóa của Hán Cộng. Khác với thời Đông Hán, chính sách đồng hóa của Hán Cộng lần này thâm độc hơn nhiều.

Về đối ngoại, các chính sách của CSVN không được tách rời khỏi toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng.

Để che mắt dư luận quốc tế và dịu lòng công phẫn của nhân dân, Trung Cộng làm ngơ nếu CSVN chỉ giới hạn trong việc bày tỏ “mối quan ngại” hay tiếp đón nguyên thủ các quốc gia nhưng tuyệt đối không được có một hành động nào đi ngược hay vượt qua giới hạn của tổng thể chiến lược của Trung Cộng.

Về hóa văn hóa xã hội thể hiện qua báo cáo của Hồng Tiểu Dũng, đại sứ Tàu Cộng tại CSVN trong bài viết đăng trên Nhân Dân Nhật Báo Trung Cộng nhân chuyến viếng thăm của Tập Cận Bình năm 2015 được dịch sang Việt ngữ.

Theo đó, Hồng Tiểu Dũng khoe khoang “tứ đại danh tác cổ điển của Trung Quốc được lưu truyền rộng rãi ở Việt Nam. Hình tượng Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký được sự đón nhận nồng nhiệt của nhi đồng Việt Nam …Rất nhiều thanh niên Việt Nam thuộc làu ca khúc “Ánh trăng nói hộ lòng tôi” và nhiều bài hát tiếng Hoa khác … Trên thực tế, trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, những quốc gia có nhiều yếu tố tương đồng với Trung Quốc giống như Việt Nam không nhiều. Hai nước có vận mệnh chung mang ý nghĩa chiến lược.” (Đại sứ TQ: “Nhiều thanh niên Việt Nam thuộc làu các bài hát TQ”, Soha.vn, 05/11/2015)

Không giống các lãnh vực chính trị, quân sự, xâm thực văn hóa như Hồng Tiểu Dũng tường trình là một tiến trình nhỏ giọt và thấm dần vào thói quen, thị hiếu, đam mê của con người.

Thật khó biết một cách chính xác ngân sách Trung Cộng dành cho xâm thực văn hóa, nhưng theo Giáo sư David Shambaugh thuộc đại học George Washington University trong một nghiên cứu dành cho Hội Đồng Về Quan Hệ Ngoại Giao (Council On Foreign Relations) tại Mỹ ước đoán Trung Cộng dành khoảng 10 tỉ đô la mỗi năm cho mục đích tuyên truyền quốc tế. (David Shambaugh, China’s Big Bet on Soft Power, Council On Foreign Relations, February 9, 2018)

Nguyễn Phú Trọng ngày nay chính là Tô Định ngày xưa.

Những gì đang xảy ra tại Việt Nam cho thấy kẻ đầy tớ trung thành này đang thực hiện một cách nghiêm túc và hoàn hảo các chính sách do Tập đưa ra trong moi lãnh vực, kể cả bịt miệng, trấn áp, tù đày đồng bào mình.

Trong quan hệ quốc tế, những cái bắt tay thật chặt, những nụ cười rạng rỡ, những lời xã giao, chúc tụng, những tuyên bố với nội dung ngọt ngào cũng chỉ là ngôn ngữ ngoại giao. Chỉ có hiệp ước, hiệp định được ký kết ở cấp lãnh đạo cao nhất quốc gia mới đáng kể.

Nhìn lại các chính sách của CSVN trong vòng mười năm nóng bỏng của thế giới vừa qua, Nguyễn Phú Trọng đã làm gì, một điểm thôi, để gọi là bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ Việt Nam?

Những người Việt quan tâm hãy vào google đánh hai chữ “Phú Lâm” để thấy trên hòn đảo thân yêu của tổ tiên Việt Nam để lại nay đã có phi trường quân sự Trung Cộng với phi đạo dài 3.000 mét, các tàu chiến, giàn phóng hỏa tiễn và cũng là bản doanh của bộ chỉ huy quân sự Trung Cộng tại Hoàng Sa.

Không cần phải đợi một trăm năm hay một ngàn năm nữa mà ngay hôm nay những tên tuổi địa danh vô cùng thân thiết, đẹp như thơ và cách Đà Nẵng chỉ 170 hải lý như Nguyệt Thiềm, Duy Mộng, Tri Tôn, Bãi Ngự Bình, Quang Hòa, Tri Tôn v.v.. xa xôi tưởng chừng như cổ tích.

Về phương tiện và kỹ thuật chiến tranh, điều kiện quốc phòng của CSVN ngày nay không hơn gì Việt Nam thời Tự Đức khi liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh thành Đà Nẵng lần thứ nhất năm 1858.

Những lạc hậu kỹ thuật ngày đó, dù sao cũng phát xuất từ các lý do khách quan. Nhận thức của triều đình nhà Nguyễn không vượt qua khỏi bốn bức tường thành bao bọc bởi tứ thư ngũ kinh. Các ngài không đi đâu, không học cái hay cái mới nên không có tầm nhìn xa, nhìn rộng. Ngày nay khác, các giới cầm quyền và gia đình của các chóp bu CSVN ăn ở, học hành, du lịch và ngay cả chữa bịnh ở Mỹ, ở Pháp nhưng nhận thức vẫn đui mù.

Thời Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ sau khi du học ở Pháp trở về đã hiến dâng trí tuệ để bảo vệ đất nước qua 58 bản điều trần. Thời CS, có hàng ngàn, hàng vạn người có dịp du học khắp nơi trên thế giới nhưng ngoài việc trở về làm phên giậu che chở cho tội ác, gần như không ai có một cống hiến nào đáng kể để thay đổi và đưa đất nước hội nhập vào dòng tiến của văn minh thời đại.

Việt Nam, điểm nóng trong Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific strategy)

Giống như tình trạng chạy đua của các nước châu Âu trước thế chiến thứ nhất, nguyên thủ các quốc gia Á Châu hiện đang như thoi đưa để liên minh với các khối, tạo các tuyến phòng thủ, liên kết với các láng giềng cùng vị trí chiến lược thì CSVN bị chiếc vòng kim cô “Ba không” siết chặt trên đầu và ngồi im như pho tượng.

Dưới thời TT Donald Trump chính sách của Mỹ tại Thái Bình Dương không chỉ năng động hơn mà còn mở rộng hơn cho cả Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (Indo-Pacific strategy) như một phương pháp đối ứng với tham vọng Một Vòng Đai Một Con Đường của Tập Cận Bình.

Chính sách của Mỹ có lợi cho các quốc gia nhỏ đang tranh chấp chủ quyền với Trung Cộng, nhưng từng cơ hội đến và đi, giới cầm quyền CSVN uống phải “quyền lực não thần đan” của Tập nên im lặng và im lặng.

Việt Nam hiện nay vẫn còn đang giữ một vị trí chiến lược quan trọng tại Biển Đông nhưng nếu không vận dụng các điều kiện quốc tế, một khi tranh chấp mở rộng và mâu thuẫn trở nên quá sâu sắc, các tình trạng đang hiện hữu (status quo) thay đổi, Việt Nam có thể không còn quan trọng nữa vì bị các liên minh và cường quốc xem như đã nằm hẳn trong vòng đai an ninh sinh tồn của Trung Cộng.

Dân tộc Việt Nam thật bất hạnh. Trong cuộc Chiến tranh Lạnh trước, đâu cũng lạnh chỉ Việt Nam là nóng. Cuộc Chiến tranh Lạnh lần này cũng không khác, cả vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương đều lạnh ngoại trừ Việt Nam sắp bị ném vào chảo dầu Đại Hán mà có thể quốc tế chẳng quan tâm.

Ðền Hát Môn, một Massada của dân tộc Việt

Cố linh mục Trần Cao Tường đã viết về tinh thần và giá trị lịch sử cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng: ”Ðể gầy dựng tinh thần, người Do Thái đã làm lễ nghi tuyên thệ tại Bức Tường Than Khóc, tại đồi Massada nơi cha ông họ đã tử thủ và thà chết tập thể chứ không chịu đầu hàng. Chỉ khi biết cùng khóc với nhau, cùng nhục với nhau, người dân một nước mới thực quyết tâm nắm tay nhau mà cùng cố ngóc đầu lên. Mong rằng một ngày nào đó người dân Việt cũng sẽ biến Ðền Hát Môn thành nơi tuyên thệ như vậy mà phục sinh hồn Việt thay vì những phóng chiếu mặc cảm khác.”

Cuối cùng, như lời nhà văn hóa Trần Cao Tường để lại, chỉ còn dân tộc Việt Nam và sẽ không còn ai khác sống thay hay chết thế cho mình. Vậy, hãy “cùng khóc với nhau, cùng nhục với nhau” nhưng cũng đừng quên “cùng nắm tay nhau để cố ngóc đầu lên”.

Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

ĐỪNG ĐỂ TRUNG CỘNG CÓ CỚ ĐỘNG BINH TRƯỚC

Một điều mà gần như tuyệt đại đa số người Việt đều ước mà chắc chắn làm không được là dời cái bản đồ Việt Nam ra khỏi nơi đang ở hiện nay. Đi đâu cũng được miễn là tránh khỏi Tàu, dù Tàu Cộng hôm nay hay có thể Tàu không Cộng trong tương lai. Tham vọng Đại Hán, dù Đông Hán hai ngàn năm trước hay Cộng Hán này nay cũng chẳng khác nhau nhiều.
 
Một số quan điểm, phát xuất từ lòng căm thù Tàu Cộng, cho rằng những biện pháp phải thi hành tức khắc khi Việt Nam có dân chủ gồm: (1) xóa bỏ các hiệp ước kể cả kinh tế bất bình đẳng và phân định biên giới mà CSVN đã ký kết với Trung Cộng, (2) hủy bỏ tức khắc các hợp đồng kinh tế bất lợi với Tàu Cộng, (3) Tàu Cộng phải rút về nước trong một thời gian rất ngắn toàn bộ lực lượng lao động có mặt trên lãnh thổ Việt Nam.
 
Đương nhiên quốc gia Việt Nam dân chủ sẽ phải làm tất cả để đạt ba mục đích trên nhưng chiến lược và chiến thuật có thể sẽ phải linh động và đừng để Trung Cộng có cớ gây chiến khi Việt Nam chưa nắm bắt được trong tay hai yếu tố “thiên thời” và “địa lợi”.
Một nước Việt Nam dân chủ non trẻ sau CS có đủ khả năng ngăn chận Trung Cộng viện lý do “bảo vệ quyền lợi và kiều dân” để động binh?
Chắc chắn là chưa đủ khả năng.
 
Nếu Tàu Cộng động binh liệu Mỹ sẽ nhảy vào can thiệp?
 
Không có gì bảo đảm Mỹ sẽ can thiệp ngay bằng các biện pháp cứng rắn.
 
Điều đó cũng có nghĩa, khi nào Việt Nam còn có chung biên giới trên đất liền và chung thềm lục địa dưới biển với Tàu Cộng, Việt Nam sẽ phải chấp nhận bị chi phối bởi các nguyên tắc địa lý chính trị của một quốc gia đất hẹp, dân ít mà nằm trong vùng độn (buffer state).
Do đó, dù giả thiết đã có “nhân hòa”, Việt Nam vẫn phải có một chính sách đối ngoại vô cùng khôn khéo.
 
1. Đàm phán
Không nên vội vã. Tất cả hiệp ước, cam kết, hứa hẹn, nợ nần v.v. với Tàu Cộng đều sẽ được giải quyết song phương hay quốc tế nếu có liên hệ đến nước thứ ba, bằng “đàm phán”. Người viết để “đàm phán” trong ngoặc bởi vì muốn nhấn mạnh đến yếu tố thời gian cũng là phần của chiến lược để phục hồi sinh lực dân tộc về văn hóa đạo đức, ổn định chính trị, phát triển kinh tế và tăng cường quốc phòng.
 
2. Biết chọn lựa liên minh đúng lúc
Về địa lý chính trị, vị trí của Thổ Nhĩ Kỳ sau thế chiến thứ nhất không quan trọng bằng vị trí của Thổ Nhĩ Kỳ sau thế chiến thứ hai. Nếu năm 1922, Tổng thống Thổ Mustafa Kemal xin liên minh với Mỹ chưa hẳn đã đươc TT Warren G. Harding đón nhận. Nhưng trong Chiến tranh Lạnh thì khác. Năm 1946 TT Truman chính thức gởi chiến hạm USS Missouri tới thăm Cộng Hòa Thổ kèm theo các khoản viện trợ quân sự lớn theo sau.
 
3. Đừng để ghét hay thương chi phối chính sách đối ngoại
 
Đa số người Việt ghét Tàu Cộng nhưng không nên để ghét thương chi phối chính sách đối ngoại. Georgia và Ukraine có cảm tình với chính sách của Boris Yeltsin nên tham gia khối thịnh vượng chung và cuối cùng tự đưa cổ vào tròng Putin. Lithuania, Latvia, Estonia dù trong lòng chưa quên mối hận bị Mỹ bỏ rơi sau thế chiến thứ hai, đã chọn đứng về phía Mỹ và Tây Âu khi tái lập được nền độc lập.
 
4. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia.
 
Như người viết trình bày trong bài “Để thắng được Trung Cộng”, để bảo đảm an ninh và phát triển, các lãnh đạo của một Việt Nam dân chủ non trẻ tương lai phải biết chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia và từng bước tham gia các liên minh quân sự tin cậy. Thổ Nhĩ Kỳ cũng phải đàm phán với Liên Sô khi nền Cộng hòa Thổ vừa ra đời nhưng khi vừa đủ mạnh và thấy thời cơ đến đã dứt khoát đứng về phía Tây.
 
Chính sách đối ngoại của TT Mỹ Dwight D. Eisenhower là một trường hợp nghiên cứu rất hay và cần phân tích ở đây.
 
Trong tác phẩm được phát hành vào tháng 3, 2018 “The Age Of Eisenhower”, Giáo sư sử học William Hitchcock dành một chương dài để bàn về quan điểm của TT Mỹ Dwight D. Eisenhower đối với Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung. Theo đó, TT Eisenhower tin rằng nếu Việt Nam rơi vào tay CS các quốc gia Đông Nam Á cũng sẽ lần lượt sụp đổ theo. Lý luận này được nhiều người biết như là “thuyết domino”.
Ngoại trừ việc gởi quân tham chiến, TT Eisenhower đã làm hết những gì có thể làm để ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng. Tổng thống thứ 34 của Mỹ xem Việt Nam quan trọng đến mức chính ông và hai phụ tá thân cận đã thảo một điện văn dài cố gắng thuyết phục Thủ Tướng Anh Sir Winston Churchill để thành lập một liên minh nhằm ngăn chận sự bành trướng của CS xuống Đông Nam Á. Nếu Mỹ, Anh, Pháp cùng thành lập liên minh quân sự, rất đông đồng minh của Mỹ sau thế chiến thứ hai đều sẽ đứng sau lưng. Anh từ chối, Pháp thua tại Điện Biên Phủ nên lịch sử dân tộc Việt bị cuốn vào một thực tế đầy tang tóc hôm nay.
 
Nhưng đừng quên, cũng chính TT Eisenhower đã từ chối can thiệp vào cuộc Nổi Dậy Hungary 1956 dù quốc gia Đông Âu trái độn này cũng nằm trong vị trí chiến lược không khác gì Việt Nam. TT Eisenhower lo ngại việc can thiệp của Mỹ vào Hungary có khả năng dẫn đến thế chiến thứ ba. TT Eisenhower cũng không áp lực đồng minh hay Liên Hiệp Quốc đáp ứng lời thỉnh cầu của Thủ tướng Imre Nagy, tân lãnh đạo Hungary, kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp. Một số nhà phân tích cho rằng nếu một phái đoàn Liên Hiệp Quốc có mặt tại thủ đô Budapest trong thời điểm cuối tháng 10, 1956, cho dù không ngăn chận hẳn, ít ra cũng làm chậm bước tiến của Liên Sô và giảm bớt số người bị giết trên đường phố thủ đô Budapest. Tóm lại, TT Eisenhower không làm gì cả.
 
Một tổng thống và cũng trong gần cùng một thời điểm nhưng Mỹ có hai chính sách đối ngoại khác nhau.
 
Bài học đối ngoại của TT Eisenhower là một thực tế chính trị mà các nước trong vị trí vùng trái độn đều phải học. Không nên chỉ nhìn một cách phiến diện vào khả năng quân sự của Mỹ vượt trội Tàu Cộng mà suy ra viễn ảnh đầy lạc quan của Việt Nam.
 
Đối với Mỹ, vùng biển Đông Á là huyết mạch kinh tế lẫn an ninh của Mỹ và các nước đồng minh với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Indonesia, liên minh được với Mỹ đúng thời điểm vừa có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa đất nước để một ngày thách thức Trung Cộng về mọi mặt.
 
Túi khôn của loài người bao la nhưng cũng có giới hạn. Các lý thuyết quan hệ quốc tế thường được lập đi lập lại. Như người viết kết luận trong chính luận “Để thắng được Trung Cộng”, khi chảo dầu mâu thuẫn tại Á châu được đun nóng hơn, nhiều liên minh quân sự mới sẽ ra đời. Do đó, biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của các cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế. Đồng thời, sự liên minh khôn khéo trong nhiều trường hợp giúp quốc gia tránh được chiến tranh hay có thêm thời gian để chuẩn bị chiến tranh.
 
Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Có 4 ý kiến »

LIÊN XÔ CỦA TỐ HỮU VÀ VI THÙY LINH

Tháng 5, 1953, Tố Hữu viết bài thơ Đời Đời Nhớ Ông trong đó có nhiều câu gần như ai cũng thuộc, không phải thuộc để ngâm nga khi cao hứng nhưng để khinh bỉ một con người đồng nghĩa với vong thân, nô lệ.

Stalin! Stalin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!
………….
Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!
Hỡi ơi, Ông mất! Đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười.
(Tố Hữu, Đời Đời Nhớ Ông, tháng 5, 1953)

Stalin đã chết và người cháu da vàng của y ở Việt Nam là Tố Hữu cũng đã chết, nhưng 65 năm sau dòng máu độc tuyên truyền CS vẫn còn chảy trong nhận thức của một nhà thơ khác, lần này là Vi Thùy Linh.

Nhà thơ Vi Thùy Linh phát biểu trong phần bình luận trận banh giữa Tây Ban Nha và Nga trên hệ thống VTC, trận đó Nga thắng bằng phạt đền:

“Cuối cùng, tôi thấy rằng, sức mạnh của Hồng quân Xô Viết từng giải phóng châu Âu, sức mạnh của tình cảm, nền tảng cổ động viên lớn giúp chàng trai Nga tuyệt vời, vượt qua hai trận đấu chính, vượt qua hai hiệp phụ”.

Một người làm thơ tuyên truyền, một người làm thơ kiêm bình luận đá banh nhưng cả hai đều tôn sùng Liên Xô giống nhau.

Việc nhà thơ Vi Thùy Linh đưa hồn ma CS Liên Xô chẳng liên quan gì vào trận banh đã bị nhiều người nhận xét là “ngô nghê”, “lạc lõng” hay “Vi Thùy Linh không biết xem bóng đá thì ở nhà ngủ cho lành, đừng Bình Loạn cho dân mê bóng đá nhờ!”

Thật ra, ai mà chẳng có lần ăn nói “lạc lõng”, “vô duyên” và chuyện cô không rành kỹ thuật đá banh cũng có thể cảm thông.

Điều đáng nói ở đây, Vi Thùy Linh thật sự tin rằng tinh thần Liên Xô dù đã cáo chung 27 năm vẫn còn cháy bỏng trong từng cầu thủ Nga.

Liên Xô giải phóng châu Âu?

Tùy theo phạm vi nghiên cứu và góc độ chủ quan của người nghiên cứu, Stalin được xếp hạng nhất, hạng nhì, hạng ba nhưng y luôn được hầu hết các sử gia và thống kê xếp vào một trong ba kẻ độc tài tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại thời hiện đại gồm Hitler, Stalin và Mao Trạch Đông.

Timothy Snyder, sử gia Mỹ chuyên về lịch sử châu Âu và Holocaust, viết trên New York Time 10 tháng 3, 2011 một cách chi tiết:

“Cho tới Thế Chiến Thứ Hai, chế độ Stalin giết người nhiều hơn Đức Quốc Xã. Đức chỉ bắt đầu giết người với tầm mức như Stalin sau Mật ước Molotov-Ribbentrop và cùng với Xô Viet xâm lăng Ba Lan vào tháng Chín, 1939. Khoảng 200 ngàn thường dân Ba Lan bị giết trong thời gian từ 1939 đến 1941, mỗi chế độ chịu trách nhiệm một nửa số người bị giết. Con số này bao gồm khoảng 50 ngàn công dân Ba Lan bị mật vụ và quân đội Đức bắn chết vào mùa thu 1939, 21,892 công dân Ba Lan bị mật vụ Liên Xô giết tại Katyn vào mùa xuân 1940, và 9,817 công dân Ba Lan bị giết vào tháng 6, 1941 trong một chiến dịch chớp nhoáng sau khi Hilter bội ước với Stalin và tấn công Liên Xô”.

Mật ước Molotov-Ribbentrop bị che giấu mãi cho tới năm 1989, và ngay cả TT Nga Putin cũng đã thừa nhận là “phi đạo đức”.

Phân tích để thấy Liên Xô không “giải phóng châu Âu” mà ngay từ đầu là tòng phạm giết người tập thể.

Đức Quốc Xã và Liên Xô xâm lăng Ba Lan cùng một thời điểm, và cùng chịu trách nhiệm cho cái chết 200 ngàn dân Ba Lan đầu cuộc chiến. Stalin bắt tay chia phần với Hitler và đưa quân xâm lược ba nước vùng Baltic và một phần của Romania. Stalin đứng nhìn hàng triệu người dân Âu châu bị Hitler tàn sát cho tới sáng 22 tháng 6, 1941 khi Hitler mở chiến dịch Barbarossa.

Lịch sử nhất thời thuộc về kẻ thắng trận và nhất là mật ước Molotov-Ribbentrop bị giữ kín khá lâu nên Liên Xô vẫn thuộc vào phe đồng minh và chia chác vùng ảnh hưởng ở Đông Âu và Baltics chứ chẳng thật tâm giải phóng ai cả.

Ca ngợi một chế độ giết người nhiều nhất trong lịch sử nhân loại không chỉ thể hiện sự dốt nát về kiến thức mà quan trọng hơn chứng tỏ bản chất độc ác CS thấm quá sâu vào một con người do chế độ nhào nặn đến nỗi phát ngôn như phản xạ.

Đó là chưa kể việc Vi Thùy Linhh thiếu đọc sách đến mức nghĩ Liên Xô là Nga.

Các binh đoàn lớn của Liên Xô tấn công Đức ở châu Âu không chỉ có người Nga mà từ 15 nước “cộng hòa” kể cả ba nước Baltics bị Liên Xô chiếm trước đó không lâu.

Nước chịu đựng tổn thất nặng nhất trong khối Liên Xô không phải là Nga mà là Ukraine. Dân số Ukraine trước Thế Chiến Thứ Hai là 41.5 triệu người nhưng sau chiến tranh chỉ còn 21.7 triệu người. Người lính cắm ngọn cờ lên tòa nhà Quốc Hội Đức Quốc Xã cũng là người Ukraine.

Một người có sáng tác, sống ở thành phố, có học mà còn nhái như vẹt các tài liệu tuyên truyền của đảng thì kỳ vọng gì các cháu sinh ra vùng núi cao, lớn lên chỉ bằng sách vở tuyên truyền CS có thể hiểu khác hơn?

Viết tới đây, tôi lại nghĩ đến anh xe thồ trong cuộc biểu tình chống Trung Cộng hôm 10 tháng 6 vừa qua. Anh lặng lẽ bước xuống đứng sau lưng Võ Hồng Ly để em khỏi cảm thấy cô đơn và hô “đả đảo Trung Cộng xâm lược” với em.

Trước nỗi bất hạnh khi đất nước có những cánh chim công nghiệp như Vi Thùy Linh, dân tộc Việt còn may mắn có những chiếc cầu nối kết lòng yêu nước mà trái mìn CS không giật sập được.

Trong lúc những kẻ có học nịnh bợ, a dua theo giới cầm quyền vì chút bả lợi danh, những người Việt yêu nước chơn chất như anh xe thồ không để họ tên kia sẽ giữ gìn đất đai, biển đảo, mồ mả tổ tiên và lịch sử Việt Nam.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

[English] NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH, Who Will Speak On Your Behalf ?

NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH, Who Will Speak On Your Behalf ? vương-thanh’s translation of the essay NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH, AI SẼ NÓI THAY EM” by Trần Trung Đạo
 
“Who will speak if you do not?” was what Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, also known as Blogger Mẹ Nấm, used to conclude the interview with CNN reporter, Andrew Stevens, on June 18, 20110, in Sai-Gon. The “Viet Nam Internet Crackdown” program was first shown in America and subsequently released in several other countries.
 
It is a famous quote that’s popular in the West. I read somewhere that it was from the German philoshopher, Friedrich Nietzsche, even though it’s not in in the list of his famous sayings. The quote “Who will speak if you do not?” is also the title of the song by music composer, Marty Haugen, written in 1993, and is often sung in many Protestant churches.
 
Actually, who’s the author of that famous quote is not important. What is important is that Như Quỳnh had used it very appropriately and at the right time to speak up a very distressing reality in Viet-Nam. A painful reality that weight down heavily on life in Viet-Nam for over forty years, that is: the silence of most Vietnamese before the injustice that they have to suffer.
 
In the interview with CNN, Nhu Quynh admitted that she is very afraid. Afraid of terrorism, of threat, of being followed. Afraid of being beaten up, of being put into jail, of being murdered. These fears haunt day and night even innocent people, let alone one who has been constantly threatened and followed like Nhu Quynh.
 
That year, Nguyen Bao Nguyen, just turned four years old. The little bird in the life garden of Nguyen Ngoc Nhu Quynh begun to learn to sing. Spring sunshine comes to her little house even though outside it’s still raining heavily.
 
It’s probably not once but hundreds of times that Nhu Quynh looked at her child and asked herself whether she should stop what she’s doing to live with her children, her family, and yet not feel ashamed because she had already contributed her part to society, and let others carry on the journey, since the homeland belongs to ninety million people and not just hers alone.
 
Also, there must have been once or twice that Nhu Quynh turned off her computer and took her children to Nha Trang beach, to see them play in the ocean waves and hopes that tomorrow there will not be anyone who follows her footsteps when she goes outside the house. A normal life would return to her and her family.
 
But no, the call of patriotism in her soul is louder than the singing of the birds. Her ideal of contributing to build a better country for her children’s generation is much more urging than the sounds of laughter of her children. The ideal of a better Viet-Nam for future generations is an essential part that cannot be separated from Nhu Quynh’s life.
 
Nhu Quynh lives a very meaningful life. Putting aside religious beliefs, a person who does not have any ideals, his life would be very boring. Life would be just a daily repeat of work, of laughter and tears, of competing and discord, until the final moment of expiring the last breath. But for a person living with a purpose like Nhu Quynh, each moment, even for a few seconds or minutes, are meaningful. She doesn’t just live for today, but for tomorrow, and other tomorrows. Nhu Quynh continue to go on her path even though she knows that she may have to pay a very costly price, a price that any mother will shiver to think of, that is, to be away from her children a long, long time.
 
Tonight, in some prison cell on her homeland, her longing for her children are sharp, cutting pains in her heart. And tonight, in the little house at Nha Trang, the two young birds Bao Nguyen and Nhat Minh, do not sing anymore, they are crying for their mother.
 
The crimes of the communist regime are evil not just because of unjustly putting a person into jail, but because the injustice severs the mother from the child, husband from wife, brother from sister. It’s what the regime have done since the year 1954 in the North and throughout 41 years across the whole country. Those who had died in the Land Reform of 1954, in the Mậu Thân Massacre, probably had rested quietly in Mother Earth, but the tears of their families, their relatives continue to pour throughout history.
 
The reason why the communist government imprison Nhu Quynh is not very difficult to understand.
 
While the Vietnamese Communist government (CSVN) is hesitant to forcibly suppress the Formosa protests of the people in various counties in the Central, and most of the protesters are Catholics, they try to use all means to isolate and prevent the protests that are led by a religion which may develop into a much bigger movement with the participation of multiple generations and different groups.
 
The common characteristic of a social movement is that it is impulsively generated, it lacks organization, perseverance and purpose. Understanding that, the CSVN leaders concentrate on prevention and wait until the movement subsides, then they will make some compromise.
 
Thirty thousand people protesting against Formosa is a big number. A very big number. The protest of the people at Vinh county is bigger than the the protest of the people of Romania in Timisoar, against the communist government led by Nicolae Ceaușescu. This protest is also religious-led, and happens when the communist government expel the priest, László Tőkés, from the country. The protest at the city, Tmisoara, quickly becomes a movement of all the people to overturn the dictatorial communist regime of Ceaușescu.
 
The lessons of the revolutions in Romania, Poland, Phillipines, Haiti, show that when the summons of the religious leaders are heard by the people and acted upon, the final end of the dictatorial communist regime are countable with the fingers one one’s hands.
 
The voice of Nguyen Ngoc Nhu Quynh is one of the voice of the younger generation with a determined attitude of fighting against Formosa, therefore Nhu Quynh is not limited to just one voice as she can be the bridge for the movements against Formosa at Vinh, Nghe An, and Ha Tinh, and other organizations that have been active in various areas for many years.
 
Compared to six years ago, when Nguyen Ngoc Nhu Quynh said “Who will speak if you do not?”, the current situation in Viet-Nam had changed a lot. Many people, at different levels, do see the injustice that occur daily in society, they see that the regime and its policies are mistakes, and in their hearts, they long for Freedom.
 
The next few months are a very challenging time and have a decisive quality, not just with the fishermen of Ha Tinh, Nghe An, not just of any particular region, but of a whole nation. The history of human civilization and especially the collapse of the communist governments in Europe, show that, even though the oppositions against communism have been smoldering for many years, the day for a new page of history can occur quickly.
 
The imprisonment of Nguyen Ngoc Nhu Quynh and physical violence against the democratic human-rights activists through the last few days, are just the desperate acts of the Vietnamese communist government; it will not alter the progression for a democratic Vietnam, rather it will just fuel the anger of the people. The voice of Nguyen Ngoc Nhu Quynh had been temporarily blocked, but millions of her countrymen will speak for her.
________________________________________________________________
NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH, AI SẼ NÓI THAY EM?
TRẦN TRUNG ĐẠO
 
“Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” (who will speak if you do not) là câu nói mà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức Blogger Mẹ Nấm, dùng để kết luận cho buổi phỏng vấn của phái viên CNN Andrew Stevens ngày 18 tháng 6, 2010 tại Sài Gòn. Chương trình Viet Nam Internet Crackdown được chiếu ở Mỹ và phát đi nhiều quốc gia trên thế giới.
 
Câu nói là một danh ngôn khá phổ biến từ lâu trong xã hội Tây Phương. Người viết đọc đâu đó rằng chính triết gia Đức gốc Ba Lan Friedrich Nietzsche đã nói mặc dù trong danh sách những câu danh ngôn của ông lại không có câu này. Câu “Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” còn là tựa của bài hát của nhạc sĩ Marty Haugen sáng tác năm 1993 và thường được hát trong các lễ nhà thờ đạo Tin Lành.
 
Thật ra, ai là tác giả câu danh ngôn đó có lẽ không cần thiết để bàn mà quan trọng ở chỗ Như Quỳnh đã dùng đúng lúc để nói lên một thực tế đau lòng đã và đang đè nặng lên xã hội Việt Nam suốt mấy mươi năm, đó là sự im lặng của đa số người Việt trước các bất công mà chính họ đang chịu đựng.
 
Trong buổi phỏng vấn của CNN, Như Quỳnh thừa nhận với phái viên Andrew Stevens em rất sợ. Sợ khủng bố, sợ đe dọa, sợ theo dõi, sợ hành hung, sợ đánh đập, sợ tù đày và sợ bị giết chết. Những nỗi sợ đó ám ảnh ngày đêm ngay cả những người dân vô tội đừng nói chi là người lúc nào cũng bị rình rập, đe dọa như Như Quỳnh.
 
Năm đó, cháu Nguyễn Bảo Nguyên mới vừa lên bốn tuổi. Cánh chim nhỏ trong khu vườn đời của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bắt đầu tập hót. Mùa xuân đang về trong căn nhà nhỏ dù bên ngoài trời vẫn còn mưa lớn.
 
Chắc chắn không phải một lần mà có thể hàng trăm lần Như Quỳnh nhìn con và tự hỏi, phải chăng mình nên dừng lại để sống với con, với gia đình, ít ra cũng không hổ thẹn vì đã ít nhiều đóng góp được phần mình, chuyến tàu lịch sử sẽ tiếp tục và sẽ có người khác bước lên để tiếp tục hành trình, đất nước của chín chục triệu người dân chứ đâu của riêng mẹ con mình.
 
Đồng thời, chắc đã có một hay hai lần Như Quỳnh tắt máy vi tính dắt con ra biển Nha Trang, nhìn con đùa vui theo từng đợt sóng và hy vọng ngày mai sẽ không lo ai rình rập ngoài cửa nhà. Một cuộc sống bình thường sẽ trở lại với mẹ con Như Quỳnh.
 
Nhưng không, tiếng gọi của đất nước trong tâm hồn Như Quỳnh lớn hơn tiếng hót của chim. Lý tưởng góp phần xây dựng một quê hương tốt đẹp hơn cho thế hệ của Nguyễn Bảo Nguyên thúc giục hơn tiếng cười giòn giã của con. Lý tưởng tuổi trẻ dấn thân vì một Việt Nam tốt đẹp đã là một phần không thể tách khỏi cuộc đời Như Quỳnh.
 
Như Quỳnh có một đời sống đầy ý nghĩa. Nếu đặt qua một bên niềm tin tôn giáo hay sự giải thích dựa vào niềm tin tôn giáo, một người sống không lý tưởng, cuộc sống sẽ vô vị biết bao. Chẳng qua chỉ là sự lập lại một cách nhàm chán những công việc, những ngày, những tháng, những năm, những tiếng cười và nước mắt, những hơn thua và tranh chấp, cho đến cuối cùng một hơi thở hắt ra. Nhưng với một người sống có mục đích như em, những khoảnh khắc dù chỉ một vài giây phút cũng đáng sống. Em không chỉ sống cho hôm nay mà cho ngày mai và nhiều ngày mai sẽ tới. Như Quỳnh tiếp tục lên đường dù biết có thể phải trả một giá vô cùng đắt mà một bà mẹ nào cũng run rẩy khi nghĩ đến, đó là xa con một thời gian dài.
 
Đêm nay ở một nhà tù nào đó trên quê hương nỗi nhớ con đang cắt từng phần da thịt của Như Quỳnh và đêm nay trong căn nhà nhỏ ở Nha Trang, hai con chim non Bảo Nguyên và Nhật Minh không hót nữa, hai cháu đang khóc vì nhớ mẹ.
 
Tội ác của chế độ CS không phải vì bắt một người dân mà độc ác hơn là chia cắt tình thiêng liêng của mẹ con, cha con, vợ chồng, anh em, chị em như họ đã làm từ 1954 tại miền Bắc và suốt 41 năm trong phạm vi cả nước. Những người chết trong Cải Cách Ruộng Đất, trong Thảm Sát Mậu Thân có thể đã nằm yên trong lòng đất nhưng nước mắt của gia đình, thân nhân họ chảy dài theo lịch sử.
 
Lý do nhà cầm quyền CS bắt Như Quỳnh cũng không quá khó để hiểu.
 
Trong lúc CSVN không dám thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình chống Formosa của dân chúng các tỉnh miền Trung trong đó đa số là đồng bào Thiên Chúa Giáo, họ tìm mọi cách cô lập, ngăn chặn không cho các cuộc biểu tình mang màu sắc tôn giáo phát triển thành một phong trào quần chúng rộng lớn với sự tham gia của các thế hệ và các thành phần dân tộc.
 
Đặc điểm chung của các phong trào xã hội là tự phát, thiếu tổ chức và thiếu kiên trì với mục đích. Hiểu được điều đó, các lãnh đạo CSVN tập trung đắp đập ngăn bờ, chờ cho phong trào từ từ lắng dịu và tìm cách vuốt ve thỏa hiệp.
 
Con số ba chục ngàn đồng bào biểu tình chống Formosa là con số lớn. Phải nói là rất lớn. Cuộc biểu tình của đồng bào Vinh lớn hơn nhiều so với cuộc biểu tình của nhân dân Romania tại thành phố Timișoara chống chính quyền Nicolae Ceaușescu cũng dưới màu sắc tôn giáo khi nhà cầm quyền CS này trục xuất Linh mục gốc Hungary László Tőkés ra khỏi Romania. Điều khác nhau là cuộc biểu tình tại thành phố Timișoara đã nhanh chóng trở thành phong trào toàn dân lật đổ chế độ độc tài CS Ceaușescu.
 
Bài học cách mạng dân chủ Romania, Ba Lan, Philippines, Haiti cho thấy một khi lời kêu gọi của các lãnh đạo tôn giáo được mọi thành phần quần chúng lắng nghe và hưởng ứng, ngày cáo chung của chế độ độc tài có thể được đếm trên đầu ngón tay.
 
Tiếng nói của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là một trong những tiếng nói trẻ có thái độ dứt khoát chống Formosa, do đó, bắt Như Quỳnh không chỉ giới hạn một tiếng nói mà giới hạn khả năng của một chiếc cầu liên kết giữa phong trào chống Formosa tại Vinh, Nghệ An và Hà Tĩnh với các mạng lưới khác đang hoạt động trong nhiều lãnh vực từ nhiều năm nay.
 
So với khi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh than “Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” vào sáu năm trước, cục diện đã nhiều thay đổi. Đại đa số người dân, ở mức độ khác nhau, đều thấy những bất công phi lý đang diễn ra hàng ngày trên đất nước, đều thấy rõ sự sai lầm của chế độ, đều có trong lòng chung một khát vọng tự do.
 
Những ngày tháng tới là thời gian đầy thách thức và có tính quyết định không phải chỉ đối với ngư dân Hà Tĩnh, Nghệ An, không phải chỉ của riêng một tôn giáo nào mà của cả dân tộc. Lịch sử nhân loại và đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống CS châu Âu cho thấy, dù sức chuyển động âm ỉ nhiều năm, ngày sang trang đều diễn ra nhanh chóng.
 
Việc bắt giam Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và hành hung các nhà hoạt động dân chủ trong mấy ngày qua chỉ là những hành động vá víu, tuyệt vọng của nhà cầm quyền CS, không làm thay đổi tiến trình dân chủ Việt Nam mà chỉ đun nóng thêm lòng công phẫn. Tiếng nói của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tạm thời bị chặn nhưng hàng triệu đồng bào sẽ nói thay em.
 
Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

[Giải trí] CD Quê Hương & Tình Yêu

Những bài hát về Quê Hương và Tình Yêu do Trần Trung Đạo hát và upload ở soundcloud.
https://soundcloud.com/vienkhach10/sets/t-nh-qu-h-ng

Nằm vào mục: Trần Trung Đạo hát | Góp ý »

[Video] ĐẶC KHU KINH TẾ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ QUYỀN

(Buổi hội thảo “Chống Lũ Gian Tà Bán Nước Cầu Vinh” đã được Hệ Thống Truyền Thông Cali Today tổ chức 1-5 giờ chiều ngày thứ bảy 23 tháng 6, 2018 với thành phần diễn giả gồm Thẩm phán Phan Quang Tuệ, Tiến Sĩ Đinh Xuân Quân, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Bình Luận Gia Ngô Nhân Dụng và Trần Trung Đạo. Đưới đây là những điểm chính chép ra từ bài thuyết trình và video 10 phút phần của Trần Trung Đạo do Phóng viên Nghê Lữ thực hiện):

Đặc khu kinh tế, qua nhiều hình thức đã có từ hàng trăm năm trước chứ không phải mới có hôm nay, chẳng hạn đặc khu kinh tế Bangladesh giữa Nam Hàn và Bangladesh, đặc khu kinh tế ở Campichia, Lào v.v. nhưng vấn đề ở đây là đặc khu kinh tế giữa Việt Nam và Trung Cộng. Lý do, chỉ có tại Việt Nam mới có loại đặc khu giữa kẻ thống trị và người bị trị.

Bangladesh nghèo nhưng là quốc gia có chủ quyền. Họ ngồi nói chuyện với quốc gia dù giàu hơn họ bao nhiêu đi nữa họ vẫn có đầy đủ tư cách để đối thoại. CSVN không có tư cách đó.

Do đó, đạo luật có đặt ra gì đi nữa cũng chỉ trên giấy tờ mà thôi. Chúng ta có chẻ từng chữ để phân tích nội dung của đặc khu cũng chỉ để phân tích, trong thực tế đất nước Việt Nam đã và đang từng phần rơi vào tay Trung Cộng.

Lấy tranh chấp Trường Sa làm bằng chứng. Tranh chấp Trường Sa có liên hệ đến nhiều quốc gia nên Trung Cộng còn dè dặt. Nếu tranh chấp ngày hôm nay chỉ là tranh chấp giữa Trung Cộng và Việt Nam, Trường Sa đã mất hẳn vào tay Trung Cộng lâu lắm rồi.

Mục đích đấu tranh của chúng ta không phải để một ngày nào đó đưa quân đánh Trung Cộng hay xâm lược Trung Cộng nhưng là bảo vệ cho được chủ quyền Việt Nam.

Việt Nam là một nước nhỏ, dân ít, đất hẹp, nỗ lực của chúng ta không phải gây hấn với nước lớn nhưng là để đối thoại với Trung Cộng với tư cách một quốc gia có chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ chứ không phải cách mà CSVN đang “đối thoại” với Trung Cộng. “Đối thoại” đó chỉ là hình thức. Trung Cộng cho phép CSVN được nói bao nhiêu chữ, bao nhiêu lời, tiến bao nhiêu bước. Mỗi khi chúng ta nghe CSVN tuyên bố vài điều mà chúng ta cảm thấy kích thích, thật ra không phải , vậy, tất cả đều có bài bản.

Nhìn sang Philippines chẳng hạn. So với Việt Nam, tranh chấp giữa Philippines và Trung Cộng rất nhỏ so với tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng. Nhưng Philippines đã đưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế và đã thắng. Từ năm 2000 tới nay, bao nhiêu biến cố đã xảy ra giữa Philippines và Trung Cộng? Chỉ có một biến cố . Việt Nam thì sao? Cho đến nay không ai biết rõ bao nhiêu người Việt đã chết trên biển (dưới bàn tay của hải quân Trung Cộng).

Không nên có đặc khu kinh tế (giữa Trung Cộng và Việt Nam) dù dưới bất cứ hình thức nào bởi vì vấn đề của Việt Nam là vấn đề chủ quyền. Những kẻ cầm quyền một quốc gia không danh chính không thể đi nói chuyện với ai được.

Vấn đề lớn khác của Trung Cộng là dân số. Các nhà phân tích cho rằng vấn đề dân số tại Trung Cộng chỉ có thể giải quyết được nếu đưa ra khỏi Trung Cộng 300 triệu dân. Nếu đưa qua Việt Nam thì thử hỏi Việt Nam sẽ ra sao sau khi Trung Cộng có mặt, sinh đẻ trên đất nước Việt Nam sau 99 năm?

Chúng ta thường nhìn một vấn đề từ góc độ khách quan, khoa học nhưng đừng quên Trung Cộng nhìn vấn đề còn thêm yếu tố hẹp hòi nhưng rất tinh vi. Lấy chuyến viếng thăm Anh Quốc của thủ tướng Trung Cộng để thấy. Chiếc thảm đỏ đón tiếp từ chân cầu thang máy bay đến khán đài danh dự chỉ ngắn vài phân tây mà Trung Cộng cũng gởi thư chính thức phản đối chính phủ Anh. Mao Trạch Đông từng nghĩ việc chiếm lấy Hoàng Sa khi Mao còn sống nhưng CSVN không biết hay hay cố tình bán đứng đất nước Việt Nam.

Tóm lại, vấn đề của hôm nay là vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Cộng bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa và các phần lảnh thố khác chứ không phải đơn thuần là vấn đề của đặc khu kinh tế.

Tôi tin rằng trong những tuần vừa qua, nhiều trong số quý vị chắc là ăn không ngon, ngủ không yên chỉ vì một câu hỏi “Như vậy rồi chúng ta nên làm gì?”

Bốn mươi ba năm rồi, chúng ta hoan hô rất nhiều và chúng ta đả đảo rất nhiều nhưng đến hôm nay chúng ta vẫn là những người con xa xứ. Những người con đang hoài vọng một ngày về nhưng vẫn ngồi đây.

Muốn trở về chúng ta phải biết làm gì. Đây là cơ hội lịch sử. Ông bà chúng ta đã biết lấy cái tiêu cực, cái đau khổ làm đường đi. Đường đi của chúng ta hôm nay đã có rồi. Đó là con đường dân tộc.

Năm 2007, cuộc biểu tình lớn đầu tiên đã diễn ra tại Việt Nam (khi Trung Cộng tuyên bố đơn vị hành chánh gọi là Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa) bởi vì đất đai. Cách đây hai tuần lễ, một cuộc biểu tình rất lớn đã diễn ra tại Việt Nam cũng chỉ vì đất đai. Chúng ta có một ngôn ngữ mà chúng ta có thể nói cho tất cả người Việt Nam biết đó là lảnh thổ Việt Nam.

Xin lỗi quý vị, cách đây bốn mươi năm, chúng ta nói CS vô thần. Nếu chúng ta có niềm tin tôn giáo thì đó là điều hết sức xúc động. Nhưng với các em bé sinh ra và lớn lên ở vùng Cao Bắc Lạng thì điều đó không quan trọng lắm. Vô thần với các em không có nghĩa gì cả.

Nhưng hôm nay, nếu chúng ta nói rằng trong tương lai đất nước này sẽ thuộc vào tay Trung Cộng, mồ mả của tổ tiên sẽ bị cày xới lên, một ngàn năm nữa các thế hệ gốc Việt đi ngang qua đây sẽ không còn một nước Việt Nam nữa mà chỉ là những ngôi đền còn lại trên quê hương đổ nát, dấu tích của hàng ngàn năm trước, thì các em sẽ đứng lên.

Đây là cơ hội cho tất cả người Việt Nam cùng đứng lên trên mẫu số chung đó. Chỉ có mẫu số chung dân tộc, đoàn kết dân tộc chúng ta mới thắng được Trung Cộng. Tổ tiên ông bà chúng ta làm được, rồi chắc chắn chúng ta cũng sẽ làm được.

Muốn được vậy, chúng ta hãy cố gắng hết sức để vượt qua. Bởi vì nếu chúng ta không vượt qua được cái hẹp hòi, chúng ta không thể đi trên con đường thênh thang của đất nước.

Dù có gì với nhau đi nữa cũng phải dừng lại để cùng nhìn về tương lai đất nước mình, nhìn về các thế hệ con cháu của mình để cùng đi với các em trong nước. Các em chịu đựng tù đày, các em không sợ thì tại sao chúng ta lại sợ? Tất cả người Việt Nam không nên sợ hãi nữa.

Sau năm 1975, chúng ta tưởng như tận thế rồi. Nhưng ngày hôm nay, khoảng không gian của CS mỗi ngày thu hẹp lại. Chế độ CS băng hoại như một vết thương chỉ cần chích một mũi kim nhỏ, vết thương sẽ chảy mủ, nhưng nếu chúng ta không làm công việc đó, không ai làm giùm cho chúng ta cả.

Chúng ta đừng ngồi đây mơ một cường quốc nào mang lại tự do dân chủ cho Việt Nam. Máu xương của mình đổ ra mình mới thấy đau. Không ai đau thế cho mình.

Tôi mong quý vị đừng quên ngày 10 tháng 6. Ở bất cứ địa phương nào, thành phố nào, hãy dấy lên phong trào 10 tháng 6. Ngày 10 tháng 6 như ngọn lửa cháy âm ỉ trong lòng và ngày nào đó sẽ thành cơn bão lửa.

Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

KHI NHỮNG KẺ ĐỘC TÀI KÊU GỌI “HÒA BÌNH VÀ ỔN ĐỊNH”

Khi những kẻ độc tài lớn tiếng kêu gọi “hòa bình và ổn định” là khi họ sắp sửa giết người hàng loạt.

Hitler phát biểu trước Quốc Hội Đức Quốc Xã ngày 7 tháng 3, 1936: “Đức Quốc, và đặc biệt là chính phủ Đức hiện nay không có mong muốn nào khác hơn là được sống trong điều kiện hòa bình và thân hữu với các nước láng giềng….”

Tập Cận Bình phát biểu tại Liên Hiệp Quốc ngày 28 tháng 9, 2015: “Lịch sử là một tấm gương soi. Rút ra những bài học từ lịch sử là cách duy nhất để nhân loại tránh được việc lập lại tai họa đã xảy ra. Chúng ta nên nhìn lịch sử bằng một lương tâm trong sáng và kính trọng.”

Tại sao cả Hitler lẫn Tập đều kêu gọi “hòa bình và ổn định”?

Hitler cần “hòa bình và ổn định” từ năm 1933 đến năm 1939 để hoàn tất ba bộ máy: (1) củng cố bộ máy cai trị, chuyển quyền lãnh đạo chính phủ từ hình thức liên hiệp nhiều đảng sang độc quyền một đảng Quốc Xã, (2) xây dựng bộ máy quân sự với một đạo quân từ 100 ngàn người quy định bởi hiệp ước Versailles lên tới 4.1 triệu gồm hải, lục, không quân vào thời điểm Thế chiến thứ hai bùng nổ và (3) chuẩn bị cho bộ máy điều khiển chiến tranh với hàng ngũ sĩ quan trẻ, giải tán Bộ Chiến tranh để tập trung quân đội vào bộ chỉ huy tối cao do Hitler nắm.

Tập Cận Bình cần “hòa bình và ổn định” cũng phát xuất từ ba lý do tương tự như Hitler (1) loại bỏ các đối thủ để tập trung mọi quyền hành vào một chủ tịch suốt đời Tập Cận Bình, (2) tăng cường kỹ thuật và vũ khí chiến tranh, (3) nâng cấp quân đội để đối phó với chiến tranh có tầm vóc quy mô tại Á Châu và thế giới. Cả ba điểm đó nằm trong mục đích tối hậu đưa Trung Cộng (TC) lên hàng cường quốc số một thế giới vào năm 2049. Họ Tập nhắc đi nhắc lại chữ “cường quốc” bốn lần trong diễn văn dài đọc trước đại hội 19 đảng CSTQ.

Nhiều người ca ngợi Kim Jong-un và khen họ Kim qua mặt được Tập khi tuyên bố hòa giải với Nam Hàn cũng như sau đó bắt tay hòa hoãn với TT Trump. Khổ quá đi! Từ tháng 10, 1949 đến nay, TC đổ không biết bao nhiêu tiền bạc, tài nguyên và cả xương máu của nửa triệu người để bảo vệ vùng trái độn chiến lược này rồi hôm nay lặng lẽ đứng nhìn “con sáo sang sông” hay sao?

Việc Kim Jong-un qua tham khảo Tập hai lần cách nhau trong vài tuần chỉ để không đi sai nước cờ. “Đừng hứa hẹn gì cụ thể cả” chắc chắn là lời dặn nhiều lần của họ Tập.

Kết quả buổi gặp gỡ với một thông cáo chung mơ hồ giữa Kim và TT Trump cho thấy con đường dẫn tới một Bắc Hàn phi nguyên tử còn xa thăm thẳm và tùy thuộc rất nhiều vào quan hệ song phương giữa Mỹ và TC. TC có khả năng giật dây mọi biến cố và ảnh hưởng mọi giải pháp.

Rõ ràng họ Tập là người có lợi vì đóng vai trò chủ động tạo dựng cơ hội “hòa bình và ổn định” ở Á Châu trong lúc vẫn tiếp tục các chính sách bành trướng để trong một thời gian ngắn nữa đặt cả thế giới vào chuyện đã rồi như Hitler đã làm trước khi tấn công Ba Lan.

Sáng hôm nay, 19 tháng 6, 2018, Kim Jong-un lại lên đường đi Bắc Kinh lần thứ ba để thông báo các chi tiết nằm bên trong buổi gặp gỡ giữa họ Kim và TT Trump. Chuyến viếng thăm lần này là để khẳng định sự phụ thuộc vào TC các chính sách đối ngoại của Bắc Hàn. Đây là một hình thức “Phần Lan Hóa” trong lãnh vực ngoại giao.

CSVN còn tệ hơn nữa vì bao nhiêu năm qua vốn đã cúi đầu tuân phục bắc triều.

Trong bang giao quốc tế, để bảo vệ đất nước, một nước nhỏ, nếu không đủ khả năng làm chuyện lớn thì phải làm lớn chuyện để thu phục niềm tin trong nhân dân và chinh phục cảm tình của thế giới.

Lấy Philippines làm ví dụ. So sánh hai cuộc xung đột chủ quyền TC và Philippines và TC và Việt Nam trên phạm vi cũng như mức độ Việt Nam thiệt hại nặng hơn nhiều. Nếu ai rảnh chỉ cần vào google tìm những đảo Phú Lâm, Linh Côn, Chữ Thập, Vành Khăn và các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa để biết những tên gọi đó chỉ còn trên giấy tờ và trong lịch sử.

Việt Nam không chỉ mất đất đai phía bắc, mất biển đảo phía đông mà còn mất vô số ngư dân đã bị TC giết từ 1975 đến nay.

Nhưng trong lúc TT Aquino của Philippines nhiều lần tố cáo TC ngay cả trước mặt thủ tướng TC Lý Khắc Cường tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á năm 2015 còn CSVN thì ngậm bồ hòn làm ngọt.

Từ thời phát ngôn viên Lê Dũng đầu thiên niên kỷ tới nay cũng chỉ lập đi lập một câu bùa chú duy nhất “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

CSVN theo đuôi TC nên cũng kêu gọi hòa bình và ổn định dù lẽ ra phải biết lắng nghe nguyện vọng chân chính của người dân khi biển, đảo, đất, tài nguyên, khoáng sản lần lượt bị TC chiếm đoạt.

Trấn áp thô bạo chỉ làm nóng thêm bầu công phẫn và đừng quên sớm hay muộn mọi tội ác đều phải đền.

Giới cầm quyền CSVN vì quyền lực và quyền lợi để lên giọng “hòa bình và ổn định” nhưng những người có học, những “văn nghệ sĩ” cũng hùa theo bằng những câu nịnh hót tầm thường. Thật đáng xấu hổ.

Để làm gì, ngoài một chút hư danh và bổng lộc?

Tục ngữ có câu “Cọp chết để da, người chết để tiếng”. Nếu mấy ông mấy bà mai mốt chết đi mà mang theo được những câu nịnh hót đó thì chẳng nói làm chi, đằng này để lại ô danh cho con cháu muôn đời.

Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

KIÊN NHẪN, LÒNG YÊU NƯỚC SẼ CỨU VIỆT NAM

Một lần ghé Monterey Bay ở California, tôi để ý hai cánh chim rất đẹp. Một cánh đậu trên bức tường rêu và một cánh đang dạo trên bờ cát. Một lúc sau cánh chim xám đậu trên bức tường rêu bay đi trong khi cánh chim trắng trên bờ cát vẫn tiếp tục đếm từng bước chậm.

Nhìn hai cánh chim, tôi chợt nhớ đến câu nói của nhà đạo diễn phim Alejandro Jodorowsky “chim sinh ra trong lồng nghĩ bay là một căn bịnh” (Birds born in a cage think flying is an illness).

Trong trường hợp này, cánh chim trắng dạo trên bờ cát sẽ nghĩ cánh chim vừa bay đi bị bịnh, bởi vì cánh chim đậu trên bức tường là chim của núi rừng và cánh chim đi dạo trên bờ cát là chim do Monterey Bay Aquarium nuôi để làm đẹp mắt người thưởng ngoạn. Bờ cát trắng nhân tạo dành cho chim chỉ dài chừng hai mét và dòng nước thật ra chỉ là một vũng nước nhỏ được dựng làm nền.

Một dạo, khi phong trào Cách Mạng Dù ở Hongkong bùng nổ, nhiều người so sánh sự khác biệt như ngày với đêm giữa thế hệ trẻ Hongkong với thế hệ trẻ Việt Nam và kết án tuổi trẻ Việt nặng lời.

Phân tích là cần thiết nhưng không nên kết án vì tuổi trẻ Việt Nam không khác gì cánh chim trắng ở Monterey Bay Aquarium.

Cánh chim trắng có thể chưa bao giờ được tâp bay nói chi là chuyện bay xa.  Không gian của cánh chim rộng vài ba mét và bầu trời cũng chỉ cao tương tự. Nơi cánh chim trắng ở không có mùa xuân hoa nở, mùa hạ ve kêu, mùa thu lá vàng hay mùa đông tuyết trắng. Tất cả đều được con người (trong trường hợp tuổi trẻ Việt Nam là đảng CS) tạo nên và kiểm soát, không chỉ không gian, thời gian mà cả tiếng kêu, tiếng hát.  

Tuổi trẻ Việt Nam từ thuở “tiếng đầu lòng con gọi Stalin!” cho đến tuổi thanh niên được nhuộm đỏ trong một hệ thống tuyên truyền giáo điều. Mọi cảm xúc từ hạnh phúc đến khổ đau đều được đảng chế tạo và tùy theo tuổi tác mà tiêm đúng liều lượng vào mạch sống của mỗi người. Liều thuốc độc tinh vi đến mức khi người đó lớn lên vẫn nghĩ cảm xúc là của chính mình. Ở miền Bắc trước đây có nhiều bản nhạc hay, bài thơ hay vì được viết rất chân thành nhưng có bao giờ tác giả của chúng ngồi xuống lắng lòng suy nghĩ những “cảm xúc chân thành” kia từ đâu mà có.

Sau 43 năm, những một cây bút có trình độ, có nhiều tiếp cận với thế giới bên ngoài khung cửa sắt Việt Nam mà còn tận tình binh vực chế độ thì các em, các cháu sinh ra và lớn lên ở Cao Bằng, Lạng Sơn ngoài Bắc, núi rừng Quế Sơn, Tiên Phước miền Trung hay vùng đồng lầy sông lạch miền Nam thì làm sao hiểu tự do, dân chủ, nhân quyền, công lý là gì.

Sau khi CSVN hé cửa, hàng ngàn người có cơ hội sang Mỹ, Anh, Đức, Pháp học nhưng khi trở về đa số vẫn cong lưng làm phên giậu cho đảng CS thì các em trẻ Việt Nam ôm hình Võ Nguyên Giáp khóc như mưa cũng chẳng có gì đáng trách.

Sir Seretse Khama, Tổng thống dân cử của Cộng Hòa Botswana phát biểu ngày 15 tháng 5, năm 1970 “Một dân tộc không có quá khứ là một dân tộc bị lãng quên, một con người không quá khứ là một người không có tâm hồn” (a nation without a past is a lost nation, and a people without a past is a people without a soul). Tổng thống Botswana kêu gọi các nhà sử học, nhà văn, nhà thơ và mỗi người dân Botswana đừng chỉ dựa vào sử do thực dân da trắng viết mà hãy tự viết chính sử của mình. Lịch sử của dân tộc Botswana có từ nhiều ngàn năm trước và châu Phi là một trong những chiếc nôi của loài người chứ không phải từ khi thực dân đến để “khai hóa” họ.

Việt Nam may mắn hơn Botswana vì đã có sử và giữ được sử dù sau hàng ngàn năm bị các triều đại Trung Hoa đô hộ và một gần một trăm năm bị thực dân đến “khai hóa”.

Trách nhiệm của người Việt may mắn được tự do học, tự do viết hôm nay là đưa các em trở về với dòng lịch sử qua những bài viết, những bài học, những lời khuyên. Tuy nhiên, những điều đó chỉ có thể thực hiện bằng một tâm hồn bao dung, thương yêu và cảm thông dành cho tuổi trẻ.

Giải tẩy não là một tiến trình bền bỉ và đầy kiên nhẫn. Những lời thống trách không mang tuổi trẻ trở về mà đôi khi có thể tác dụng ngược đẩy các em xa. Truyền thống yêu nước chân chính hòa tan trong máu của từng thế hệ Việt Nam và sau mấy nghìn năm đang truyền đến hôm nay. Khơi dậy ngọn lửa thiêng đã có sẵn trong mỗi người và dùng đó để soi đường trên hành trình phục hưng dân tộc.

So với những ngày tưởng chừng như tận thế sau 30-4-1975, công cuộc phục hưng hôm nay đã bước một bước khá dài. Như người viết đã viết trước đây, vai trò quyết định trong trận chiến “ai sợ ai” ngày nay không còn hoàn toàn tùy thuộc vào giới cầm quyền CS như 43 năm trước nữa.

Kiên nhẫn không có nghĩa ngồi chờ và đóng góp không nhất thiết phải qua một hội đoàn, một tổ chức. Võ Hồng Ly đứng một mình nhưng không hề cô độc. Nếu mọi người đều làm như cháu đất nước sẽ đổi thay.  Cho dù không thể là một Võ Hồng Ly, hãy làm hiệu quả nhất theo khả năng và điều kiện của mình. Mỗi người Việt mang trên lưng một quá khứ khác nhau, một hành trang khác nhau, và ngay cả một thương tích khác nhau, nhưng nếu biết rõ bến bờ tự do, dân chủ và chủ quyền đất nước ở đâu thì hãy đi theo cách của mình, rồi một ngày sẽ gặp nhau ở đó.  

Cơn bão “Đặc Khu 99 năm” này có thể rồi sẽ lặng, chúng sẽ thông qua, đất nước sẽ tiếp tục bị xoi mòn, gánh chịu đựng mỗi ngày thêm nặng. Nhưng những tấm lòng Việt Nam yêu nước không vì thế mà bỏ cuộc. Một người bước xuống sẽ có nhiều người khác bước lên.

Sự phẫn uất của các tầng lớp người Việt trong cũng như ngoài nước trước chủ trương bán nước của đảng CSVN cho thấy tình yêu nước, yêu dân tộc đã nhiều lần cứu Việt Nam dưới các thời Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần sẽ một lần nữa cứu lấy Việt Nam.

Trần Trung Đạo

 

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Có 1 ý kiến »

« Previous Entries Next Entries »