Mục lục:

Archives:

Meta:

Xin giới thiệu:

Truy tìm:

BÀ MẸ ĐIÊN BÁN MÁU Ở SÀI GÒN

vinhdienKhác với phần lớn loài người trên trái đất, sau 1975 tại Việt Nam, bán máu là một nguồn sinh kế tự nhiên bên cạnh mồ hôi và nước mắt. Bao nhiêu chuyện thương tâm đã xảy ra trong thời gian và trên đất nước.

Rời Việt Nam, tôi mang theo câu chuyện về một bà mẹ bỏ vùng Kinh Tế Mới về Sài Gòn tìm chỗ sống. Mẹ giăng tấm vải dầu trên góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ đói khổ. Mẹ bán tất cả những gì mẹ có thể bán kể cả máu của mình để mua sữa cho con và khi con chết bà trở thành người điên.

Tôi viết câu chuyện thành thơ sau khi định cư ở Mỹ. Nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ bài thơ thành ca khúc và hát trong buổi giới thiệu Chính Luận ở Washington DC hôm 13 tháng 9 năm 2014. Sau 10 năm không hát trước công chúng, nhạc sĩ tuổi ngoài 70 tuổi ôm đàn đứng hát trong một chiều thu mưa nhẹ ở xứ người.

Sâu lắng giữa một hội trường náo nhiệt hôm đó là tiếng hát của nhạc sĩ Vĩnh Điện vọng lên từ buồng phổi đã nhiều năm thở không khí ngục tù, và trong mỗi lời thơ ông phổ có một niềm u uất của riêng anh cho quê hương, cho đồng bào khốn khổ và nỗi căm giân những kẻ đang gây ra nạn diệt chủng Việt Nam.

Những giọt nước trong veo vẫn chảy dù giữa một dòng sông đục ngầu trong mùa lũ lụt. Tương tự, với tâm tỉnh lặng, chúng ta sẽ không còn bị chi phối bởi những tiếng động, tiếng cười nói chung quanh mà chỉ còn lại trong lòng tiếng khóc than của bà mẹ điên trên “vỉa hè Đồng Khởi”.

BÀ MẸ ĐIÊN

Có lần tôi đi ngang
Qua vỉa hè Ðồng Khởi
Một bà ôm chiếc gối
Ðứng hát như người say

Khoan chết đã con trai
Mẹ còn chờ mua sữa
Mai Ba về có hỏi
Mẹ biết nói sao đây

Người biết chuyện cho hay
Chồng bà đưa ra Bắc
Từ khi con trai mất
Bà trở thành người điên

Nhà bà là mái hiên
Tấm vải dầu che nắng
Sớm chiều khoai với sắn
Heo hút với bầy con

Bà ngày một héo hon
Bỏ vùng kinh tế mới
Về Sài Gòn chen lấn
Giữa cuộc đời đắng cay

Ðứa con út ốm đau
Vẫn hằng đêm đòi sữa
Chẳng còn gì bán nữa
Ngoài giọt máu mẹ cha

Khi trời vừa sáng ra
Bà lại lên Chợ Rẫy
Lần nầy lần thứ mấy
Bà bán máu nuôi con

Trên đường về đi ngang
Ghé cửa hàng mua sữa
Bà gục người trước cửa
Suốt đêm mà không hay

Ðứa con út đang đau
Chờ mẹ về chưa tới
Qua đời trong cơn đói
Thiếu cả một vòng tay

Khi bà về tới nơi
Thì con mình đã chết
Bà ôm con lạnh ngắt
Ðứng hát như người say

Khoan chết đã con trai
Mẹ còn chờ mua sữa
Mai Ba về có hỏi
Mẹ biết nói sao đây

Ðêm qua tôi nằm mơ
Thấy mình ôm chiếc gối
Ðứng trên đường Ðồng Khởi
Và hát như người điên.

Trần Trung Đạo

Youtube:

Facebook:

https://www.facebook.com/trantrungdao/videos/vb.100000419874304/1413289248695057/?type=3&theater
Nhạc:

Nằm vào mục: Thơ | Có 2 ý kiến »

Thức Dậy Đi, thơ Trần Trung Đạo, nhạc và trình bày: Nguyễn Trọng Khôi

mattroi

THỨC DẬY ĐI

Mặt trời mới mọc bên kia biển
Hay lửa phương đông báo hiệu mùa
Thức dậy đi em giờ đã điểm
Mẹ khóc lâu rồi em biết chưa?

Thức dậy đi hỡi rừng núi cũ
Nghe tiếng nghìn xưa vọng trở về
Ai đứng trông ai mùa lá đổ
Mà lòng thao thức mấy đêm khuya

Ai khóc đêm nay ngoài ải Bắc
Phải hồn sương phụ ngóng phương xa
Hay tiếng Phi Khanh trào nước mắt
Về đi, lấy máu trả thù cha

Thức dậy đi hồn thiêng sông núi
Gió Nam Quan xô sóng Bạch Đằng
Nửa đêm không bóng người bên suối
Sao tiếng gươm mài vang dưới trăng

Thức dậy đi hỡi lòng vô lượng
Ngại ngùng chi đau khổ điêu linh
Dù cho nước vẫn còn nhơ đục
Nhớ giữ cho nhau một chút tình

Thức dậy đi đồi cao dốc sỏi
Đất đá mòn theo mỗi vết chân
Gã tù lặng đứng nhìn mưa đổ
Đâu biết xuân qua chỉ một lần

Thức dậy đi màu nâu của đất
Màu xanh trong ánh mắt của em
Bao nhiêu năm ngồi nghe nhau khóc
Đã đủ chưa máu chảy ruột mềm?

Thức dậy đi từng trang lịch sử
Những chuyện buồn vui lẫn tủi hờn
Như mắt mẹ nghìn đêm không ngủ
Thương đám con khờ chưa lớn khôn.

 

 

 

Nằm vào mục: Thơ | Có 1 ý kiến »

Thương Paris Như Nỗi Nhớ Sài Gòn

paris1

Lịch sử dắt tôi qua những con đường
Quanh co đầy bóng tối
Bóng tối hoài nghi, oán ghét, hận thù
Những lô-cốt thực dân dày
Những địa đạo âm u
Đã có một thời tôi không thích nghe tiếng Pháp.

Tôi thuộc lòng chuyện Henry Rivière đưa quân ra Bắc
Hoàng Diệu treo cổ dưới cành cây
Bao oan hồn ông bà tôi phảng phất đâu đây
Trên những cánh đồng Việt Nam
Máu xương còn đọng lại

Nhưng lịch sử cũng dạy tôi
Để vươn lên cùng thời đại
Một con người
Một đất nước
Phải vượt qua.

Hận thù dày một ngày cũng sẽ phôi pha
Chỉ có tình người là ở lại
Để sáng hôm nay
Tiếng bom nổ rất xa nhưng sao tôi nghe gần chi lạ
Bởi vì tôi thương Paris như nỗi nhớ Sài Gòn.

(Ảnh và thơ Trần Trung Đạo, Boston 14/11/2015)

Nằm vào mục: Thơ | Góp ý »

Châu Thạch : ĐỌC “ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI” THƠ TRẦN TRUNG ĐẠO .

me
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

Tác giả: Trần Trung Đạo

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười ./.

TTĐ

Lời bình: Châu Thạch

Có người không tâm đắc với cá đầu đề bài thơ là “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” vì cho rằng làm chi ai có được thiên thu để đổi tiếng mẹ cười, và dẫu tác giả sống được 1000 năm chăng, thì có chịu chết đi để nghe tiếng mẹ cười hay không? Lấy cái không có mà đổi cái có thì chỉ là nói cho vui cửa miệng mà thôi. Đúng thế nếu hiểu theo một cách thực dụng. Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Đọc thơ thì phải biết ngôn ngữ thơ có khác, mới hiểu được hết cái hay tiềm ẩn trong từng câu, từng chữ của thơ.

Ông bà ta có câu “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” hiểu là một ngày ở trong tù dài như ngàn năm ngoài đời. Vậy thì một ngày hay một ngàn năm ở đây đều là thời gian tâm lý, không phải thứ thời gian mà chúng ta sống bằng hít, thở. Nếu nói một ngày bằng một ngàn năm thì ngàn năm là thời gian tâm lý, ngược lại nói ngàn năm bằng một ngày thì một ngày là thời gian tâm lý. Cũng thế, nhà thơ Trần Trung Đạo dùng chữ “thiên thu” cho cái đầu đề “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” cũng là thời gian tâm lý. Thời gian tâm lý thì tuỳ theo tâm trạng của mỗi người, mỗi hoàn cảnh nên chữ “thiên thu” ở đây không tính bằng năm, tháng được, chỉ biết là nó lâu dài đối với tác giả mà thôi.

Cũng xin bàn thêm đôi chút về chữ “thiên thu”. Ta biết một năm có 4 mùa. Mùa xuân là mùa vui nhất nhưng không phải là đẹp nhất. Mùa thu mới là mùa đẹp nhất vì nó bình tịnh và an lạc. Ở đây nhà thơ dùng chữ “thiên thu” không phải là 1000 năm của thời gian mà mục đích để chỉ sự bình tịnh, an lạc dài lâu trong tâm hồn mình, và sự bình tịnh an lạc đó ông sẳn sàng chịu mất đi để đổi lại nghe được tiếng mẹ cười, nghĩa là biết được mẹ mình đang hạnh phúc. Vì thế nhà thơ không dùng chữ “thiên niên” mà dùng chữ “ thiên thu” cũng hàm xúc một ý nghĩa sâu xa.

Bây giờ hãy đi vào vế một của bài thơ:

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi.

Có ai nghe được tiếng lá thu rơi không? Lưu trọng Lư nghe được tiếng lá rơi mùa thu: “Anh nghe chăng mùa thu/ Lá thu rơi xào xạc”. Đó là tiếng lá rơi của cả một khu rừng, còn tiếng mẹ không thể là một khu rừng mà chỉ như là một chiếc lá rơi thôi. Một chiếc lá rơi thì làm sao nghe được nếu không phải chỉ là sự rung động trong cõi lòng mình khi nghe âm thanh mẹ nói.

Tác giả dùng chữ “tiếng ai” để chỉ về tiếng Mẹ. Chữ “ai” thông dụng để chỉ người xa lạ nhưng chữ “ai” cố ý trong văn chương thì lại chỉ người thân thương nhất. Người thân thương ấy có tiếng nói như “lá thu rơi”. Lá thu rơi thì nhẹ nhàng, êm ái và buồn vô cùng đối với những tâm hồn nhạy cảm.

Chỉ một câu thơ “ Tiếng ai như tiếng lá thu rơi” thôi, Trần Trung Đạo đã làm cho một vế thơ vốn khô khan vì kể lể trở nên ướt át, đậm đà và bàng bạc một nỗi buồn vời vợi vì chất chứa trong đó âm thanh của tiếng mẹ cùng tiếng lá thu rơi. Khi nghĩ đến “ tiếng lá thu rơi” người đọc liên nghĩ cả một bầu trời thu và từ đó lại liên nghĩ tiếng nói êm ru của mẹ, dáng dấp âm thầm của mẹ trong khung cảnh u buồn.

Vế thứ hai của bài thơ có âm điệu trầm bổng của phong cách thơ thời xưa nhưng hoàn cảnh lại khác nhiều với những bài thơ nói đến sự chia ly:

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Khác chăng là tác giả diễn tả trong vế thơ nầy một sự ra đi uất ức. “Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề” là một sự ra đi đành đoạn, không hẹn ngày quay lại. Con ngựa rừng mà lạc lối sơn khê là một sự vô lý. Vậy mà ở đây “Ngựa rừng xưa lạc lối sơn khê” là có thật. Ngựa mà lạc lối trong rừng mình đang ở thì nó đang chịu sự xua đuổi, bức bách đến hoảng loạn mới phải lạc cả lối đi về quen thuộc. Ngựa rừng ở đây đã xa mẹ 10 năm và trong mười năm ấy tóc mẹ, lòng con đều trắng. Tóc mẹ trắng là vì gian khổ, vì tuổi già nhưng lòng con cũng trắng bởi vì sao? Có người cho rằng chữ “trắng” thứ hai rất phũ phàng, nó cho biết “trắng” nghĩa là không có chút thương nhớ, không có chút u buồn nào cả. Không phải thế đâu. Chữ “trắng” thứ hai có thể xem là màu trắng của một chiếc khăn tang. Khi mẹ chết thì đội chiếc khăn tang trên đầu, nhưng mẹ chưa chết mà xem như đã biệt ly thì để chiếc khăn tang trắng trong lòng mỗi khi nhớ mẹ là hình ảnh đau thương sống động. Chữ “trắng” thứ hai diễn tả hết nỗi trống vắng trong lòng. Trống vắng vì không có tiếng nói của mẹ, không có mùi thơm của mẹ, không có bất cứ cái gì mà mẹ đã lấp đầy màu sắc tươi đẹp trong lòng tác giả từ một thuở xa xưa.

Qua vế thơ thứ ba và thứ tư tác giả như thỏ thẻ với mình và với mẹ:

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Trong vế thơ trên ta thấy hình ảnh “ người song cửa, kẻ chân mây” trong “Chinh Phụ ngâm” được biến hoá thành một bức tranh ảm đạm sinh động với hình ảnh người mẹ ngồi “đan một nỗi buồn” bên song cửa có “gió tạt với mưa tuôn” và người con “đi góp lá nghìn phương” để “đốt lửa cho đời”. Cũng dùng hình ảnh đó, hình ảnh “kẻ song cửa, người chân mây” nhưng vế thơ đã làm trùm lên không gian và thời gian không phải là nỗi buồn sâu lắng có chút thi vị của thời xa xưa mà là trở nên khắc khỏai một nỗi đau của sự chia lìa mẹ, con.

Qua vế thơ dưới tác giả đã nghe tiếng mẹ “như tiếng chiêm bao” và muốn vói tay tìm mẹ nhưng “Xa xôi quá làm sao vói tới”. Những tứ thơ nầy làm cho mẹ trở thành mong manh quá đổi, mà mẹ càng mong manh thì nỗi xót thương trong ta càng trĩu nặng.

Qua vế thơ thứ năm như sau:

Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

“ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ” là đúng, “hơi ấm con tìm trong giấc mơ” là đúng, nhưng tại sao “Đau thương con viết vào trong lá”? Sao không nói đau thương con dấu ở trong tim? Viết vào trong lá để làm gì?. Muốn hiểu câu thơ nầy ta thử đọc một ca khúc trong bài ca “Thu Sầu” của nhạc sĩ lam Phương: “Trên cao bao vì sao sáng/ Rừng vắng có bao lá vàng/ là bấy nhiêu sầu”. À, hoá ra nhạc sĩ Lam Phương dùng số nhiều của lá vàng để gắn kết nỗi sầu của mình lên đó. Trần Trung Đạo cũng vậy, ông không chỉ viết đau thương lên lá vàng mà viết đau thương lên cả lá xanh, nghĩa là trên đời có bao nhiêu lá thì ông có bấy đau thương vì xa cách mẹ. Một con én có thể làm nên mùa xuân thì một câu thơ cũng có thể làm lung linh đẹp cả một bài thơ vậy.

Vế chót của bài thơ là toát yếu bài thơ và tác giả nhấn mạnh suy tư của mình, làm cho bố cục bài thơ vô cùng chặt chẽ như một bài luận văn mẫu ở chốn học đường:

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười .

Ở vế chót nầy tác giả dùng câu “Ví mà tôi đổi thời gian được” đề bổ nghĩa cho câu “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” dễ làm cho người đọc suy luận thời gian ở đây là thời gian vật lý, nghĩa là thời gian một ngàn năm có thật. Điều nầy cũng không có chi là nghịch lý, vì nếu tác giả có được thời gian vật lý trong tay thì có bao giờ ông đợi được 1000 năm mới chịu đem đổi lấy niềm vui của mẹ, hay là thời gian tâm lý trong lòng đã thôi thúc ông đi đổi ngay để lấy niềm vui cho mẹ sưởi ấm lòng ông. Vậy chỉ nên xem nhà thơ dùng thời gian như một thể “Tỷ” trong ca dao, các ý tứ không nằm trong lời nói mà nằm trong cảm nhận của con người./.

Châu Thạch

Nằm vào mục: Thơ | Góp ý »

Bình Sa (Việt Báo) tường thuật buổi giới thiệu Chính Luận Trần Trung Đạo Westminster

cloc6Westminster (Bình Sa)- – Chiều Chủ Nhật 18 tháng 1 năm 2015. tại hội trường Thành phố Westminster, Nam California, Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng, Liên Trường Quảng Nam Đà Nẵng, Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam và nhóm thân hữu đã tổ chức thành công buổi ra mắt Chính Luận Trần Trung Đạo, khoảng 350 quan khách, qúy vị nhân sĩ, qúy vị đại diện các cộng đồng, các hội đoàn trong đó có nhiều hội đoàn, đoàn thể trẻ tham dự, các cơ quan truyền thông gồm có: Phạm Khanh, Đài Truyền Hình: Little Sài Gòn TV; Lâm Huyền Vi, đài SBTN; Phan Đại Nam đài SET; Trương Quốc Huy đài VNA TV; Kỹ Sư Bùi Bỉnh Bân, Giám Đốc đài Truyền Hình Free Vietnam Net; Thanh Phong báo Viễn Đông, Bình Sa, Việt Báo, Ngọc Lan và Lâm Hoài Thạch, Người Việt, Nhà Báo Thái Tú Hạp và Nữ Sĩ Ái Cầm, Sàigon Time, phóng viên Vy Tuấn Sàigon Times, Phan Tấn Hải, Chủ bút Việt Báo, Huỳnh Kim Quang, Tổng Thư Ký Việt Báo, Ninh Thuận báo Việt Mỹ và Thời Luận, Vương Trùng Dương,, Chủ Bút Chiến Sĩ Cộng Hòa, nhà báo Việt Hải Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, Vương Huê, Tiếng Nói Người Việt Quốc Gia, Thiệu Võ, báo Cảnh Sát; nhà báo Kiều Mỹ Duyên, nhà báo Anh Thành, nhà báo Nguyễn Tú A và phu nhân… Mặc dù ngày chủ nhật rất bận rộn với nhiều sinh hoạt, nhưng số người đến tham dự qúa đông nên một số không còn chổ ngồi phải đứng chung quanh hội trường và bên ngoài để nghe những diễn giã và tác giã trình bày về tác phẩm Chính Luận Trần Trung Đạo.

cloc4Nhà văn Trần Trung Đạo là tác giả của nhiều tác phẩm thơ, văn, tâm bút, tiểu luận trong đó có thi phẩm nổi tiếng Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười. Lần này, qua Chính Luận Trần Trung Đạo, tác giả tập trung vào ba chủ đề chính: Hiểm họa Trung Cộng, Thực trạng Việt Nam và Chính sách tẩy não của CSVN. Tác phẩm đang gây tiếng vang lớn trong nhiều thế hệ Việt Nam và cũng đã ra mắt nhiều nơi trên Hoa Kỳ đã được đồng hương tiếp nhận nồng nhiệt, riêng tại Nam Cali một số đồng hương trước khi ra về đã không còn sách nên tác giả đành phải xin lỗi và hẹn trong một dịp khác. Điều hợp chương trình do ông Hoàng Tấn Kỳ, Đai diện Liên Trường Quảng Nam Đà Nẵng.

cloc6
Sau nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, phút mặc niệm. Tiếp theo ông Đoàn Ngọc Đa, Hội Trưởng Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng, Trưởng Ban Tổ Chức lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn sự tham dự của tất cả qúy vị, sau đó ông cho biết lý do tổ chức buổi ra mắt tác phẩm Chính Luận Trần Trung Đạo, ông nói: “Trần Trung Đạo sinh ra, lớn lên bên dòng sông Thu Bồn với tuổi thơ nhiều kỷ niệm gắn liền với quê hương xứ Quảng, những thao thức của anh là nỗi thao thức chung của dân tộc, anh đã trải qua những khó khăn trong cuộc đời, nhưng lúc nào anh cũng nghĩ đến quê hương nghĩ đến những khát vọng tự do, dân chủ của đồng bào đang sống dưới chế độ độc tài cộng sản. Tác phẩm Chính Luận Trần Trung Đạo lát nữa đây sẽ được những diễn giả cũng như chính tác gỉa trình bày cùng qúy vị cũng như giải đáp những thắc mắc nếu có……”

Tiếp theo Nhà văn Bích Huyền lên nói về Tác giả Trần Trung Đạo, Bà cho biết: “Tôi rất quý trọng, thương mến Trần trung Đạo như một người em trai tinh thần. Và hôm nay, ngày ra mắt tác phẩm mới của TTĐ, tôi được Ban Tổ chức phân công giới thiệu về tác giả. Bà trích lại Lời giới thiệu ngắn gọn nhưng vô cùng xúc tích của một vị thầy của Bà đó là:GS Nguyễn Ngọc Bích đã giới thiệu tác giả, tác phẩm của nhà văn Trần Trung Đạo tại Hoa Thịnh Đốn GS Bích nói: “Anh là một người hiền hòa, điềm đạm, ôn tồn nhưng thuyết phục! Đó là một người tin ở lẽ phải, tin ở sự thật, tin ở lẽ tất yếu của cuộc đời, và tin ở lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc. Anh còn có niềm tin sắt đá vào tuổi trẻ Việt Nam. Anh thuyết phục bởi không bao giờ anh mất những niềm tin đó.”

Nhà văn Bích Huyền tiếp: “…Anh mất mẹ từ rất sớm, mất cha từ lúc 13 tuổi, ở trong Chùa. Anh vào đời lăn lộn với cuộc sống, đi làm đủ thứ việc, gặp vô số chuyện bất bình, nhưng không bao giờ bỏ cuộc. Vào Saigon, gặp một người mẹ nuôi rất tốt với anh; ra ngoại quốc anh đã sáng tác một bài thơ tuyệt tác “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” mà ta chỉ đọc một lần là không thể quên được…”

Vâng, và hôm nay là tác phẩm: “Chính Luận Trần Trung Đạo”, với tất cả tấm lòng thiết tha yêu tổ quốc Việt Nam.Cuốn sách này trang đầu tiên TTĐ ghi một cách trên trọng: “Tặng tuổi trẻ Việt Nam”

Chúng ta có nhiều quá khứ nhưng đất nước chỉ có một tương lai, đó là tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và khai phóng cho những ai, sau những điêu tàn đổ vỡ còn biết nhân ra nhau, còn biết yêu thương mảnh đất thiêng liêng, vinh quang và thống khổ Việt Nam”.

Tiếp theo chương trình Nữ sĩ Bích Thuận lên diễn ngâm bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” qua tiếng sáo điêu luyện của Ngọc Nôi.

Sau đó Nhà biên khảo Phạm Trần Anh lên nói về tác phẩm Chính Luận Trần trung Đạo.

Ông cho biết: “…Thời gian qua thật mau, mới ba mươi tháng tư ngày nào mà bây giờ đã gần 40 năm, hơn nửa đời người rồi mà quê hương Việt Nam vẫn ngàn trùng xa cách, vẫn cách xa vời vợi đối với những ai có tấm lòng yêu nước thương dân. Trong chúng ta, ai cũng có một quá khứ mất mát thương đau, ai trong chúng ta cũng có một tâm sự ngổn ngang của một thời làm chứng nhân bất đắc dĩ của lịch sử nhưng người chứng nhân lịch sử khách quan nên nhận định một cách trung thực nhất chính là nhà văn, nhà thơ Trần Trung Đạo, tác giả của tác phẩm Chính Luận ngày hôm nay.

Chính Luận gồm 44 bài lý luận chính trị, từ Hiểm họa Trung Cộng đến Hiện trạng Việt Nam với cách mạng Việt Nam, khoảng cách và hy vọng, cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ trong tình hình mới và Món nợ tuổi Hai mươi… Đây là những suy tư thao thức trước vận mệnh dân tộc của một “Chứng Nhân của Lịch Sử” đúng nghĩa nhất, trung thực nhất vì tác giả với tư cách là một người trẻ, một sinh viên chưa hề “Cơm nặng áo dầy” của một chế độ, chưa một lần “Phanh thây uống máu quân thù” đã viết lên những lời tâm huyết của một con dân đất Việt như một tâm tình chia xẻ với chúng ta và nhất là với giới trẻ Việt Nam trước hiện trạng “Tổ Quốc Lâm Nguy-Sơn Hà Nguy Biến” đe dọa sự sống còn của dân tộc Việt.

Chính vì vậy, bài viết đầu tiên trong Chính Luận là Hiểm Họa Trung Cộng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ chủ nghĩa Đại Hán xâm lược bành trướng đến tham vọng của của đế quốc mới Trung Cộng độc chiếm biển Đông Nam Á. Tập Cẩm Bình đang thực hiện từng bước giấc mơ “Thế Kỷ của người Trung Quốc” mà Trì Hạo Điền đã huênh hoang tuyên bố: “Chúng ta đã có được kỹ thuật và khoa học tối tân, kể cả kỹ thuật nguyên tử sạch, kỹ thuật về vũ khí di truyền cũng như vũ khí sinh học, chúng ta có thể dùng những biện pháp mạnh mẽ để tiêu diệt dân Mỹ trên một qui mô lớn. Đó là dùng những phương tiện quyết định để “Quét sạch” Hoa Kỳ và dành nước Mỹ cho chúng ta sử dụng tức thời. Qủa thật là tàn nhẫn khi giết hại một, hai trăm triệu người Mỹ nhưng đó là con đường duy nhất bảo đảm cho chúng ta tạo dựng được “Thế kỷ của người Tàu”, một thế kỷ trong đó đảng CS Trung Quốc lãnh đạo thế giới”.

Trong khi đó thì tập đoàn Việt gian CS bất nhân hại dân bán nước đã áp dụng những kỹ thuật tuyên truyền của phát xít Hitler, của chuyên chính vô sản Lê Nin và Mao Trạch Đông cùng với phương pháp tẩy não, nhồi sọ để tạo cho con người phản xạ có điều kiện của Pavlov như “Đàn cá trong ao ở Bắc bộ phủ”. “Nền giáo dục một chiều, phản khoa học như cây đinh đóng sâu vào ý thức con người từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành” đã khiến cho “động vật cao cấp “con người trở thành một con vật chỉ biết tùng phục, chỉ biết lao động thậm chí trở thành một cỗ máy vô hồn, lạnh lùng vô cảm.

Tẩy não, tuyên truyền là bản chất của chế độ CS đã nhào nặn người dân chỉ biết tuân phục để tập đoàn Việt gian làm giàu trên mồ hôi nước mắt của quần chúng nhân dân. Tập đoàn Việt gian vay tiền ngoại quốc để xây dựng thì chẳng bao nhiêu nhưng bỏ túi thì nhiều để mỗi người dân phải è cổ gánh chịu trả nợ mỗi người 1 ngàn đô la tương đương với 10 triệu đồng trong khi hàng ngày phải lao động cật lực, đổ mồ hôi sôi nước mắt vẫn không kiếm đủ ngày 2 bữa ăn sống qua ngày. Tuy cực khổ nhưng chưa dám đứng lên chống lại chúng cho đến một ngày và ngày đó đang đến dần, ngày mà toàn dân đứng vùng lên đáp lời sông núi lật đổ bạo quyền CS…”

Kết thúc bài giới thiệu Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh đã mượn lời của nhà thơ Trần Trung Đạo trong Giấc Mơ Việt Nam: “Nhờ có mẹ, thơ con còn hy vọng. Mẹ là Thơ nên nước Việt sẽ hồi sinh…”. Vâng thưa quý vị, thực tế chính trị đã cho chúng ta thấy rằng năm 2015, năm Ất Mùi sẽ mở đầu cho sự tất thắng của chính nghĩa dân tộc để giấc mơ Việt Nam, nước Việt sẽ hồi sinh và một mùa xuân Dân tộc trở thành hiện thực trong nay mai.

Sau đó tác giã Trần Trung Đạo lên tâm tình cùng quan khách cũng như đồng hương tham dự, anh cho biết qua về một số chi tiết trong tập Chính Luận mà anh nghĩ rằng tuổi trẻ Việt Nam cần phải đọc và phải biết chúng ta phải làm gì cho tương lai của đất nước và dân tộc, trong dịp nầy anh cũng đã cho biết để có phương tiện phổ biền sâu rộng tác phẩm Chính Luận Trần Trung Đạo, trong nước, số tiền bán sách trong những lần ra mắt tác phẩm đều dành trọn cho nhu cầu nầy, vì vậy anh rất cảm ơn đồng hương đã nhiệt tình ủng hộ, đây là việc làm không phải của cá nhân anh mà là những đóng góp chung của qúy đồng hương chúng ta ở hải ngoại.

Tiếp theo Nữ sĩ Phi Loan lên diễn ngâm bài thơ của Trần Trung Đạo “Lại Một Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ.” Qua tiếng sáo Ngọc Nôi.

Sau đó Nhà Thơ, Nhà báo Thái Tú Hạp lên nói về Thơ Trần Trung Đạo. Nhà thơ Thái Tú Hạp có đoạn đã nói: “… Thơ Trần Trung Đạo đã tổng hợp chất liệu sống thực, ông sáng tác như để tường trình với thế giới về những thảm trạng đã và đang xảy ra trên quê hương đầy hận thù và thống khổ triền miên. Về những con đường thế hệ Trần Trung Đạo đã đi qua. Về những lời trăn trối thảm sầu trên biển Đông đầy kinh hoàng máu và nước mắt. Về những tiếng cầu kinh, thắp lên ngọn đèn tâm linh tôn giáo bị xích xiềng trùng vây địa ngục. Gióng tiếng thơ chưa đủ, Trần Trung Đạo còn viết truyện và đăng đàn trước đồng bào ở ngoài nước với những tâm tình và phẫn nộ. Với ước mơ tự do dân chủ và hạnh phúc cho những người ở quê nhà. Anh kêu gọi giải thể bạo tàn phá vỡ u tối và điên cuồng. Anh tuyên dương những Anh Hùng vị quốc vong thân như Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai…

Thơ của Trần Trung Đạo như nhịp cầu nối kết từ những thế hệ trước 75 và thế hệ sau 75 ở hải ngoại. Thế hệ trẻ hải ngoại và trong nước cùng có những ưu tư thao thức, xây dựng quê hương hướng đến mâu số chung tiến hóa của nhân loại, và đề cập đến cái đau chung của dân tộc, cái xót xa trầm thống chung của đồng bào, cái thân phận lạc loài của những người bỏ xứ ly hương. Giấc mơ chung của người Việt từ trong nước và trên khắp thế giới là nguyện câu cho quê hương sớm có Tự Do Dân Chủ thực sự:

Ôi quê hương, bao giờ tôi trở lại
Đi giữa ngày không sợ bóng đêm đen
Trong giấc ngủ không xích xiềng réo gọi
Câu thơ tình chỉ viết để yêu em…
(Giấc mơ nhỏ của tôi)

Tôi vẫn đợi bên giòng sông lịch sử
Một bầy chim lưu lạc bốn phương trời
Bỗng một sớm về đây gom góp lửa
Gieo mầm xanh trên muôn vạn nẻo đời…
(Tôi vẫn đợi)”

Trong dịp nầy, Ông Tạ Đức Trí, Thị Trưởng Thành Phố Westminster lên trao tặng Nhà Thơ Trần Trung Đạo bằng Tưởng Lệ của thành phố để ghi nhận những đóng góp giá trị của Nhà Thơ Trần Trung Đạo trong công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyến tại Vieệt Nam.

Trong lúc nầy Nhà thơ, Nhạc sĩ Trọng Nghĩa lên diễn ngâm một bài thơ của Trần Trung Đạo qua phần đệm dương cầm của Mộng Lan.

Tiếp theo Nhà văn Việt Hải đại diện nhóm thân hữu lên có đôi lời tâm tình với Nhà Thơ Trần Trung Đạo, ông nói:

“Chính Luận Trần Trung Đạo”. Tôi ngẫm nghĩ về tựa đề này, 3 chữ sau vốn quen thuộc với nhiều người rồi, thế thì hai chữ đầu mang ý nghĩa gì nhỉ; Với thiển ý thì “Chính Luận”, có thể Đạo suy tư về những nan đề về những chiến thuật cấp bách hay những chiến lược quan yếu dài hạn mà những người quốc gia chúng ta có thể tìm được những đề nghị hay những phân tích về chủ đề do Đạo trình bày. Chính luận có vai trò đặc biệt trong dòng lịch sử đấu tranh chính trị, văn hóa và xã hội và vì ngày hôm nay chúng ta không đấu tranh chống người Cộng sản bằng võ khí quy ước nữa, nhưng bằng phương tiện hình ảnh, chữ nghĩa, mang khía cạnh chiến tranh tâm lý chiến. Thế nên “Chính Luận Trần Trung Đạo” trong cái nhìn của người viết bài là một trong những phong cách sáng tác tiêu biểu nhất biểu tượng những nan đề hay chủ điểm mà tác giả Trần Trung Đạo đã khai triển gởi đến người đọc và cũng là những chủ điểm ý thức hệ của người cầm bút. Ba nan đề chính được khai triển và phân tích cặn kẽ gồm Hiểm họa Trung Cộng, Thực trạng Việt Nam và Chính sách tẩy não của Cộng Sản Việt Nam…”

Sau cùng là phần trả lời những câu hỏi do qúy đồng hương đặt ra với Trần Trung Đạo, trong số những câu hỏi liên quan đến công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ cũng như những vấn dề mà tác giả đã viết ra trong “Chính Luận Trrần Trung Đạo”. Tất cả đều được anh trả lời thỏa đáng, mọi người vui vẽ ra về trên tay có một tặp Chính Luận.

Tiếp theo Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa và Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Nam California Kỹ Sư Ngãi Vinh lên có đôi lời tâm tình cùng đồng hương và hứa sẽ cố gắng hợp tác sinh hoạt trong tương lai vào những dịp lễ lớn để thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng chúng ta hiện nay.

Ông Võ Văn Thiệu thay mặt Ban tổ chức cảm ơn tất cả qúy vị quan khách, qúy hội đoàn, đoàn thể, qúy cộng đồng và các cơ quan truyền thông cũng như qyúy đồng hương đã đến tham dự buổi ra mắt tác phẩm Chính Luận Trần trung Đạo.

Nằm vào mục: Thơ | Góp ý »

Mời tham dự “Tâm tình với nhà thơ Trần Trung Đạo” tại Berlin

“Tâm tình với nhà thơ Trần Trung Đạo”
tại nhà thờ St. Aloysius Kirche, Berlin
địa chỉ : Schwyzerstr. 1 – 13349 Berlin
ngày Chủ Nhật 24.8.2014, từ 15:00 giờ đến 18:00 giờ.
Chương trình do Nhà Việt Nam tại Berlin, Đức (Vietnam Haus e.V Berlin) tổ chức.
Liên lạc: Hoàng Kim Thiên, Vietnam Haus e.V Berlin, 0163-6743097.
ttd-berlin-triet

Nằm vào mục: Thơ | Có 1 ý kiến »

Thơ Trần Trung Đạo: Sinh nhật của bé Bea Joy ở Tacloban, Philippines

1459198_689044891119357_1764792734_nSinh nhật của bé Bea Joy ở Tacloban, Philippines

Hoa tình thương thường mọc lên từ nỗi khổ đau
Như sáng nay tôi ra đời giữa điêu tàn đổ nát
Bên kia đường
Chiều hôm qua
Nhiều bạn chỉ được sinh trước tôi vài giờ đã chết
Biển chiều nay bao xác mẹ đang trôi.

Những xác người trôi khi tôi chưa ngưng tiếng khóc chào đời
Màu nhiệm và đau thương
Lời nguyền và nước mắt
Chảy về đâu bao thây người lạnh ngắt
Trôi về đâu xa lắm hỡi dòng sông
Cho tôi hôn lên mặt đảo một lần
Để nhớ hôm nay là ngày sinh nhật.

Tên tôi là Joy nhưng niềm vui không thật
Vì cuộc đời từ nay sẽ nặng gánh oan khiên
Tôi khóc cho Tacloban, Ormoc, Panay và cho Philippines
Cho hàng triệu đồng bào tôi đang khóc
Mưa trong lòng người
Mưa trong lòng đất
Đảo chiều nay sao trống vắng vô cùng.

Sang năm và sau này vào ngày sinh nhật của tôi
Xin đừng đặt cho tôi chiếc bánh
Dù ở đâu, hãy thắp lên trong lòng một ngọn nến
Ngọn nến tình người sẽ sáng thiên thu.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Thơ | Có 5 ý kiến »

Dấu ấn một mùa thu (Nhân ngày giỗ lần thứ hai Cha Trần Cao Tường 21-11-2012)

 Tưởng nhớ Cha Trần Cao Tường nhân ngày giỗ thứ hai 21-11-2012

DẤU ẤN MỘT MÙA THU

Tôi về qua thành phố buổi chiều
Giọt mưa thu rót lên con đường nhỏ
Chiếc lá cuối mùa nằm yên trước ngõ
Chợt nhớ một người giờ đã đi xa

Vẫn con đường này và như mới hôm qua
Chiếc máy ảnh cầm tay, người đi tìm mùa thu theo từng góc độ
Mùa thu Boston, New Orleans hay mùa thu Hà Nội
Ống kính tuy xa nhưng nỗi nhớ rất gần

Như tôi và người từ độ quen thân
Đọc chuyện Masada mà nghĩ về sông Hát
Từ ngọn núi hoài nghi, rẽ chia, ngăn cách
Có một dòng sông xanh mát giữa tâm hồn

Dòng sông của từ bi, bác ái, cảm thông
Của “Bài giảng trên núi” trong Matthew và lời kinh Phật
Để biết thứ tha, thương yêu, thành thật
Nhỏ giọt tình người lên mỗi vết đau

Chắp cho cuộc đời đôi cánh để bay
Đắp cho anh em con đường hy vọng
Người đi xa, như vì sao trên dải thiên hà cao rộng
Còn mãi nơi này dấu ấn một mùa thu.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Thơ | Góp ý »

Thơ Luân Hoán: Trần Trung Đạo

trantrungdao-luanhoan-montreal2011
Buổi sáng, nhận bài thơ anh Luân Hoán tặng, gởi ra đây chia sẻ với anh chi và các bạn, không phải khoe khoang nhưng vì thơ Luân Hoán đậm đà tình nghĩa, rất thơ và cũng rất vui. Bức hình của hai anh em chụp chung ở Montreal năm ngoái.

Trần Trung Đạo

bậc trung: Trần Qúy Cáp
bậc đại: tại Boston
ông thành phần du học ?
thưa không, từ biển đông

du học hay vượt biển
khác nhau một chữ vong
giống nhau đến bốn chữ
cùng: cách biệt núi sông

không hẳn là nhân vật
hít thở cùng đám đông
nhưng đúng là khuôn mặt
góp tình cho cộng đồng

trong nhan sắc son trẻ
một tâm hồn khá già
bởi suy tư thời cuộc
xót ruột vì quê nhà

khởi đi từ nụ chữ
xanh biếc nở dòng thơ
bén rễ qua tiểu luận
sắc bén trong ngọt ngào

trải lý luận nhân bản
theo dòng nghệ thuật cao
chung qui nhờ nhịp đập
tình thương yêu dạt dào

mẹ chính là trứng ngọc
bát ngát nở tình người
cả thiên thu nguyện đổi
giữ thơm “tiếng mẹ cười” (1)

anh con trai xứ Quảng
từ đất tình Duy Xuyên
chưa hẳn thành hảo hán
đã đậm cá tính riêng

“Thao Thức” gần thường trực (2)
về “Giấc Mơ Việt Nam” (3)
niềm ao ước giản dị
của nhược tiểu da vàng

trong trăm người tán thưởng
giữ im lặng đồng tình
có vài mống nóng mũi
cũng là chuyện nhân sinh

ông tôi đã là bạn
từ thập niên chín mươi
chừng mươi lần gặp gỡ
chỉ nói giỡn và cười

vài lần nghe ông hát
ngay sau khi thuyết trình
bụng khen thầm ông giỏi
đa tài, có đa tình ?

đã ba con một vợ
không ba vợ một con
nên xuân sắc còn bảnh
phong độ trông còn ngon

người tầm thước khỏe mạnh
không ốm mập khác tường
rất đúng dạng công chức
xứ cờ hoa phi thường

năm kia tôi có đến
Boston, chưa ghé nhà
ông chờ vài năm nữa
tôi chưa chết sẽ qua

không cần giống cụ Khuyến
tát cá hay đuổi gà
lo in thêm tác phẩm
tôi sẵn lòng nhận quà

Bắc Mỹ ai bảo lạnh ?
khi thân tình đậm đà
nhớ hú thêm vài bạn
ngồi rung đuì chơi nha !

Luân Hoán

Nằm vào mục: Thơ | Có 3 ý kiến »

[Sinh hoạt] Hát nhớ chiến trường xưa ….

Cuối tuần rồi, trong một bữa cơm tối gia đình ở nhà anh chị Đoàn Đông – Lộc Tưởng, anh Dư Mỹ hát tặng cho bạn bè bản nhạc do anh sáng tác: Hát Nhớ Chiến Trường Xưa. Bài hát là tâm sự của anh, một người lính già tuổi đã 70, từng là tiểu đoàn trưởng một đơn vị bộ binh quân đội VNCH, trải qua bao trận mạc và chịu nhiều năm tù đày. Anh qua Mỹ theo diện HO vào đầu thập niên 90 và định cư tại Boston. Xin chia sẻ với các bạn bài hát cảm động này. Dưới đây là lời của bài hát và youtube anh hát tối hôm kia:

Hát nhớ chiến trường xưa
Hát nhớ chiến trường xưa
Hát thương bạn bè bỏ nước ra đi
Hát thương người tình một thưở chia ly
Hát thương đời mình giờ chẳng ra chi

Hát nhớ chiến trường xưa
Nhớ dăm ba thằng nằm giữa đêm mưa
Kể cho nhau chuyện tình ái say sưa
Sá chi cuộc đời lính chiến đong đưa

Hát nhớ chiến trường xưa
Hát thương vợ hiền đầu quấn khăn tang
Xác thân chồng nằm tận cỏi quan san
Biết đâu mà tìm trời mất mênh mang

Hát nhớ chiến trường xưa
Hát thương bạn bè miền bắc xa xăm
Mang kiếp tù đày ngục tối thâm sơn
Biết bao giờ về nhìn thấy quê hương

Ôi …. ta hát cho đời
Ôi …..ta hát thương người
Ta hát cho đời bài ca hận sử
Ta hát thương người, ai hát thương ta

Hát nhớ chiến trường xưa
Hát cho thân mình cụt mất đôi chân
Lết tấm thân tàn làm kiếp phế nhân
Hát gởi cho đời nỗi nhớ bâng khuâng

Hát nhớ chiến trường xưa
Hát giữa Sài Gòn thành phố mất tên
Hát hỏi người về còn nhớ hay quên
Vết thương năm nào còn nhức trong tim

Hát hỏi người về còn nhớ hay quên
Vết thương năm nào còn nhức trong tim.

[flashvideo file=http://www.youtube.com/watch?v=1haVcsh47wY& /]

Tôi hy vọng các bạn sẽ đón nhận bài hát thật hay và thâm trầm ý nghĩa sau đây như nỗi niềm của chính mình: Trăng và Tôi của nhạc sĩ Nguyễn Thiện Lý phổ từ bài thơ của nhà thơ Trần Thu Miên. Và cũng trong bữa cơm tối gia đình cuối tuần, chị Ngọc Thanh đã hát tặng thân hữu bài hát đó. Nhà thơ Trần Thu Miên tiếc vầng trăng thu tuyệt vời trên thành phố Milton, nơi anh ở, ra đi. Nhưng rồi anh chợt hiểu, tháng tới trăng sẽ về lần nữa và nhiều lần nữa, còn anh, số phận mong manh ngắn ngũi của kiếp người, không giống như vầng trăng kia, khi ra đi sẽ không quay về. Dưới đây là lời bản nhạc và youtube chị Ngọc Thanh hát:

Trăng vẫn đến và trăng vẫn đi
Trăng vẫn đi nhưng quay trở lại
Tôi cũng đến và tôi cũng đi
Nhưng khi đi sẽ không quay về

Trăng vẫn đến giữa bầu trời cao
Nơi trăng đến và đi em biết
Tôi đã đến giũa đời hư hao
Khi ra đi em biết nơi nào

Trăng còn non hay trăng đã già
Không ai biết vì trăng vẫn thế
Tôi còn thơ hay tôi đã già
Em nhìn tôi màu tóc như hoa

Nơi trăng đi dẫu xa nhưng gần
Trăng không chết nhưng tôi sẽ chết
Khi tôi đi về nơi bao la
Trong nấm mộ rất gần nhưng xa.

[flashvideo file=http://www.youtube.com/watch?v=h3y8Nkt5wRk& /]

Mỗi người đóng góp một tiết mục. Anh Dư Mỹ hát “Hát Nhớ Chiến Trường Xưa”, chị Ngọc Thanh hát “Trăng và tôi” nên tôi hát bài “Nếu Mai Mốt Tôi Về” do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Tân phổ từ một bài thơ của tôi. Dưới đây là lời và phần youtube.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi thành phố cũ
Những mái ngói xanh rêu
Bức tường vôi loang lổ
Bài thơ xưa ghi dấu một phần đời.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi mơ ước tuổi hai mươi
Bờ bến cũ, ngậm ngùi thân sỏi đá
Tôi về đây, sông xưa, dòng nước lạ
Ngó mây trời mà khóc tuổi hoa niên.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi bè bạn anh em
Ai còn sống và ai đã chết
Ai ở lại lao đao, ai phương trời biền biệt
Giờ chia tay sao chẳng hẹn quay về.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi ghế đá công viên
Những mái lá che tôi thời mưa nắng
Từ nơi đấy trong đêm dài yên lặng
Tôi ngồi nghe sông núi gọi tên mình.

Có còn nhận ra tôi không
Có còn nhận ra tôi không
Nếu mai mốt tôi về
Có còn nhận ra tôi không
Hay tại chính tôi quên.

[flashvideo file=http://www.youtube.com/watch?v=aeCgcC2aJMQ& /]

Nằm vào mục: Thơ | Góp ý »

« Previous Entries