Mục lục:

Archives:

Meta:

Xin giới thiệu:

Truy tìm:

LƯƠNG THƯ TRUNG: TRẦN TRUNG ĐẠO, NGƯỜI TIỀU PHU VỚI LÒNG TỪ BI VÀ NHỮNG CHIẾC LÁ VÀNG

laconho2  (Ảnh chiếc lá vàng bên đường trên cánh đồng ở Duy Xuyên của Cô Nhỏ)

Thật ra, thi sĩ Trần Trung Đạo đã được hầu hết các độc giả từ trên diễn đàn siêu không gian (Internet) cũng như khắp nơi trên thế giới biết đến. Riêng đối với tôi, tôi mới được quen anh chưa đầy một năm, do một anh bạn vốn là giáo sư một trường trung học song ngữ giới thiệu. Mặc dù, trước đó, thỉnh thoảng tôi có đ ọc đôi bài thơ của anh đăng trên báo hải ngoại. Dần dà sau này, tôi được đọc thơ của anh nhiều hơn, nhất là dịp tập thơ đầu tiên “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cư ời” tái bản và phát hành tập thơ mới: “Thao thức.”

Trong một bài viết về “Cảm nhận thi ca” của nhà văn Trần Hoài Thư đăng trong t ạp chí Văn Học Nghệ Thuật trên Internet, mục “Diễn Đàn Văn Học,” có đoạn: “Cảm nhận, dĩ nhiên, khác với phân tích, phê bình. Cảm nhận là sự rung động mà độc giả bắt gặp khi đọc một bài thơ hay một câu thơ. Một bài thơ càng hay, có ý nghĩa là sự cảm nhận càng lớn, nỗi rung động càng mạnh.” (VHNT số 215, 14-08-96)

Với cõi thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo, là một độc giả, qua cảm nhận của mình, tôi nghe con tim nhịp theo với từng ý, từng vần trong thơ của anh, đau xót với cái đau xót của anh, thao thức, trăn trở với nỗi trăn trở, thao thức của anh.

Trong hành trình đi vào dòng thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo, tôi cứ ngỡ mình đa ng đi vào những vùng biển dâu với những mảnh đời tan tác, những tâm hồn héo úa như những chiếc lá vàng lìa cành, xa cội, lạc loài. Ở đó là thân phận khốn cùng của kiếp người, là hệ lụy vô thường của cuộc đời, là bẽ bàng, là cay nghiệt t riền miên… Tất cả như hiện diện, bàng bạc trong từng chữ, từng dòng, từng vầ n, từng điệu hết sức bình dị mà tha thiết, đơn giản mà sâu đậm, man mác mà thâm trầm. Dường như bất cứ người đọc nào cũng có thể cảm nhận thơ anh với con tim se thắt, ngậm ngùi để chia xẻ và cảm thông với mỗi hoàn cảnh, mỗi mảnh đời… Bởi lẽ, thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo như anh đã tâm sự, anh làm thơ không để mong làm thi sĩ, mà để gởi gắm những tâm tư thao thức cho thế nhân với những mảnh đời chân thật:

“Tôi làm thơ chẳng mong thành thi sĩ
Ngủ với trăng hay bạn với sông hồ
Thơ tôi đấy trái tim đầy máu rỉ
Sẽ muôn đời ở lại với hư vô”
(Thơ tôi) 

Vốn dĩ là một Phật Tử, thi sĩ Trần Trung Đạo đã nhìn đời với trái tim của người con Phật. Anh mang tâm thức từ bi của đạo Phật chuyển nhập vào dòng thơ của mình như một phép nhiệm mầu để hoá giải cuộc đời, để những đóa hoa Vô Ưu nở rộ trong cõi đời ô trọc, trầm luân này. Điều đó cho thấy đạo Phật đã ảnh hưởng hế t sức sâu đậm trong thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo. Đặc biệt, hai bài thơ “Hoa đạo” và “Nhớ cây đa chùa Viên Giác” là hai bài thơ tiêu biểu cho nét đặc thù nà y. Khi viết về cựu huynh trưởng Phạm Gia Bình, người tự thiêu tại Hoa Kỳ tháng 4 năm 1992 để phản đối nhà cầm quyền CSVN đàn áp tôn giáo:

“Cây Vô Ưu trong lòng Anh
Hôm ấy đã trổ hoa
Thơm ngát cả mười phương
Mùi hương Chân Thiện Mỹ”

(Hoa đạo)
hay

“Lửa Vô Úy chẳng bao giờ tắt lạnh
Như linh hồn anh sống mãi với muôn thu
Đường Việt Nam dù còn lắm sương mù
Nhưng có Anh trời quê hương sẽ sáng
Hoa đạo nở thành niềm tin và hy vọng
Nở những nơi nào máu Thánh một lần rơi
Cây Nhân Duyên từ bao kiếp luân hồi
Trên đất lạ đã âm thầm kết trái
Đại lực muôn nghìn năm góp lại
Đã chuyển thành Tam Muội đốt vô minh”
(Hoa Đạo)

Trước cảnh đời bức bách, người con Phật đau lòng phải lìa xa mái chùa thân yêu: 

“Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
Cây đa già đứng lặng khóc chia ly.”

(Nhớ cây đa chùa Viên Giác)

  Để rồi, bao năm sau, thi nhân lưu lạc nơi phương trời vô định, viết đôi dòng thơ nhớ về ngôi chùa xưa thân yêu thuở nào:

Sân chùa xưa lá rụng đã bao lần
Chiếc lá vàng như những vết dao đâm
Thời thơ ấu nghe vẫn còn đau buốt”
(Chút quà cho quê hương)

Và tấm lòng từ bi vô lượng của thi nhân thể nhập qua lời căn dặn của mẹ hiền như
một lời trăn trối trước phút lâm chung:

“Nếu mai mốt con có về thăm lại
Con đừng buồn và trách móc chi nhau
Lòng của Mẹ, một tấm lòng đại lượng
Vẫn nghìn năm son sắt chẳng phai màu”
(Trăn trối)

Hay lời tiễn biệt dành cho người lính già Việt Nam vừa mới chết đêm qua ở xứ người trong lẻ loi, cô quạnh như một lời an ủi, một lời cầu nguyện thắm đượm tinh
thần từ bi, tế độ của đạo Phật:

“Ngủ đi anh bình yên nơi chín suối
Đau thương này em sẽ viết thay anh”
(Người lính già vừa chết đêm qua)

Ở bất cứ nơi nào có sự khổ đau đều có sự hiện hữu của đức Như Lai. Ngài tỏa chiếu ánh sáng nhiệm mầu, huyền diệu với tấm lòng từ bi, vị tha, nhân ái cao cả. Ngài luôn luôn khuyên chúng sanh tự thắp sáng trong lòng mình ngọn đuốc để soi đường trong cõi đời ô trọc, bụi trần tăm tối này: “Hởi các Ngươi! Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” 
Là người con Phật thuần thành từ buổi thiếu thời, với chiếc áo màu lam gia đìn h Phật Tử rộng thùng thình hơn khổ người bé nhỏ của anh mà thân phụ đã sắm sữa cho, một cậu bé đã có tâm từ bi rồi. Nhưng cay nghiệt thay, mới chừng ấy tuổi đầu, cuộc đời anh đã bắt đầu cho những luân lạc, phiêu bồng: 

“Ðời ta xiêu lạc từ thơ ấu,
Coi chuyện ơn thù như nắng mưa”
(Vẫn đứng lên cười với thế nhân)

Hoặc:

“Anh bỏ nhà đi năm mười bốn tuổi
Học lọc lừa từ thuở tóc chưa xanh”
(Chợt nhớ người bạn nhỏ)
Nhưng với lòng từ bi dạt dào như máu chảy trong tim, anh không oán trách cuộc đời:

“Đời xô ta gục, không buồn trách
Vẫn đứng lên, cười với thế nhân”
(VĐLCVTN)

Thi sĩ Trần Trung Đạo đã thắp sáng cho mình ngọn đuốc từ bi, đã chọn cho mình con đường chánh đạo để khế hợp với từng cảnh đời oan nghiệt hầu chia xẻ, cảm thông. Và với sự chọn lựa cho mình phương cách chuyển hoá tâm thức, đi theo con đường chánh giác đó, mới có thể hoá giải mọi vô minh phiền não cho chính mình v à cho tha nhân… Như một người tiều phu, thi sĩ Trần Trung Đạo đi giữa rừng già cô tịch gom cây, góp lá để thắp sáng cho đời, sưởi ấm thế nhân: 

“Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương”
(ĐCTTTMC)

Hoặc:

“Tôi đi góp lá ngàn phương lại
Đốt lửa cho đời sương khói bay”
(Mười bảy năm)

Trong sứ mạng cao đẹp của người tiều phu, thi sĩ Trần Trung Đạo đã âm thầm man g con tim từ ái của mình thể nhập vào từng dòng thơ để hiến dâng đời mãi hoài, bất tận. Chúng ta chỉ cần để tâm hồn tĩnh lặng nghe nhà thơ tâm sự: 

“Ai về qua phố Hội An
Mua dùm tôi tấm lụa vàng Duy Xuyên
Tôi đi quét lá trăm miền
Mẹ ngồi dệt sợi ưu phiền quanh năm”
(Lụa Duy Xuyên)

Thi sĩ Trần Trung Đạo đã biết bao lần nhặt chiếc lá vàng trước ngỏ để viết bài thơ gởi cho đời:

“Cho tôi nhặt chiếc lá vàng trước ngỏ
Viết bài thơ tha thiết hiến dâng đời
Chút chân tình trang trải với muôn nơi
Rất nhỏ bé nhưng vô cùng sâu rộng”
(Cho tôi xin)

Người tiều phu góp nhặt những chiếc lá vàng hay thi nhân nhặt những mảnh đời t rong nỗi cô đơn: 

“Tóc bạc theo mỗi ngày biệt xứ
Bụi cuộc đời trắng dã đôi vai
Tiều phu gánh củi về ngang núi
Trăng chiếu lưng đèo một bóng soi”
(Ghé Raleigh thăm bạn)

Pascal đã ví: “Con người là một cây sậy biết suy nghĩ.” Thi sĩ Trần Trung Đạo luôn luôn tự ví đời mình–nhất là mảnh đời đang sống lang bạt nơi xứ người này –như chiếc lá lìa cành bị cuốn theo dòng đời trôi nổi, nổi trôi: 

“Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn”
(NCĐCVG)

Hoặc:

“Tôi sẽ đến ngôi chùa xưa Viên Giác
Nhặt mảnh đời rơi rớt ở đâu đây”
(NCĐCVG)

Chiếc lá vàng cứ bay đi, bay đi mãi. Để cây đa già một mình một bóng trầm mặc đứng lặng buồn. Phải chăng đó là hình ảnh mẹ hiền đứng bên song cửa mòn mỏi ngóng đợi con về: 

“Mẹ trách ta sao lỡ hẹn thề
Mỗi mùa lá rụng lắng tay nghe
Cây đa già đứng bên đường vắng
Chiếc lá vàng đi chẳng trở về”
(VĐLCVTN)

Để rồi, thi nhân một lần nữa minh định thân phận đời mình: “Em đâu biết giữa cuộc đời dông tố Tôi chỉ là một chiếc lá khô bay” (Tôi vẫn nợ em một lời xin lỗi) hoặc “Em có khóc khi mỗi mùa thu tới Lá thu vàng rơi xuống tuổi điêu linh” (TVNEMLXL) hoặc: Một chiếc lá vừa rơi trên nấm mộ Thu đã về rồi đó phải không em Anh chợt thấy bàng hoàng trong tuổi dại Một tình thương tha thiết sẽ không quên. (Vĩnh Biệt Em Thu Cúc) 

Trong lời chào vĩnh biệt người lính già Việt Nam vừa mới chết đêm qua trong cô đơn, hiu quạnh, thi sĩ Trần Trung Đạo thêm một lần tự ví mình như chiếc lá và tha thiết tâm tình với kẻ bạc phần: 

“Tôi gởi anh đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
Chúng ta, hai chiếc lá chung cành
Bay phơ phất trước từng cơn bão tố”
(NLGVMCĐQ)

Đất trời rồi sẽ chuyển sang mùa theo sự vận hành của vũ trụ. Những chiếc lá vàng rồi sẽ rơi rụng, bay đi, bỏ lại bên trời những cành, những nhánh khẳng khiu , buồn thảm đến ngậm ngùi. Thi sĩ Trần Trung Đạo cũng mơ ước một ngày trở về c ố hương như những chiếc lá nhớ cây, nhớ cội, nhớ rừng: 
“Em đừng hỏi ta mong về quê cũ Chiếc lá khô còn nhớ cội thương cành Ta chẳng lẽ bước chân đời lê mãi Nơi quê người làm một kẻ lưu dân” (Em đừng hỏi) 

Dù chỉ một lần, thi nhân tha thiết nguyện cầu như chiếc lá vàng rụng xuống bên gốc cội cây già, hôn lên mặt đất thân yêu đã nuôi cây lớn biết bao mùa: 

Ta sẽ sống để chờ ngày trở lại
Hôn một lần lên đất mẹ thương đau”
(EĐH)

Vì có được như chiếc lá vàng, ít nữa cũng trả được chút ơn, chút nợ của một kiếp người nơi cõi tạm này: 

Tôi sẽ về để sống với quê hương
Mai tôi chết xin làm phân nuôi đất”
(Tôi sẽ về)

Trong dòng đời, với biết bao lần ngụp lặn, chìm đấm trong bể khổ trầm luân, dô ng tố, bão bùng… Rồi bức tranh vân cẩu cũng phải tan đi, để trả lại trần gia n này một chút nắng ấm mặt trời, để trả lại cho con người một cõi an nhiên, tha nh tịnh. Cao đẹp biết bao khi có những con người hy sinh đời mình tự nguyện làm một ngư ời tiều phu với tấm lòng từ bi đi khắp bốn phương tám hướng gom góp từ nhánh củ i, cọng rơm, ngọn cỏ đến những chiếc lá vàng khô để đốt lửa soi đường, sửi ấm n hân sinh! Hạnh phúc thay được làm một nhà thơ! Hạnh phúc thay được làm một người tiều p hu với tấm lòng từ bi đi góp nhặt những chiếc lá vàng! 

“Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương”
(ĐCTTTMC)

Lương Thư Trung

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

Tống Mai: “Chính Luận Trần Trung Đạo” và “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác”

mai-trantrungdao6-768x576Tôi viết bài này không để quảng cáo sách cho anh Trần Trung Đạo mà chỉ để nói về một người được sự thương mến của rất nhiều đồng hương, xa hay gần, quen hay lạ. Nếu gặp Trần Trung Đạo thì sẽ hiểu tại sao không phải chỉ mình tôi dành một quí mến đặc biệt đối với người anh này. Chỉ mỗi chữ “Trung Đạo” mang chất Bát Nhã trong bút hiệu của anh cũng đã làm ta chú ý.
Đây là một nhà văn, nhà thơ, một nghệ sĩ, một giọng hát, một giọng ngâm thơ, một đầu óc chính trị chín chắn tâm huyết sôi nổi với quê hương. Một tâm hồn đa dạng, nhưng nếu hỏi điều đầu tiên tôi muốn nói về Trần Trung Đạo, tôi sẽ nói về anh như một nhà văn, nhà thơ của tình người và dân tộc.

Gần đây, anh viết toàn về chính trị và mặc dù cũng bị cuốn vào những bình luận sâu sắc của anh, bị nhiễm nơi anh cái hy vọng quê hương rồi sẽ có một ngày mai tươi sáng, nhưng khi nhắc đến anh, tôi vẫn nhớ đến một con người của văn thơ. Khi “Chính Luận” ra đời, nghĩ mình sẽ không nghiền ngẫm nó kỹ lưỡng và nhiều lần như đã từng nghiền ngẫm những tác phẩm văn chương trước của anh, nhưng thật là lầm, dù thuần túy chính trị nhưng “Chính Luận” vẫn lồng trong đó tâm hồn chất đầy thơ của anh.

Muốn viết về anh đã lâu nhưng chưa gặp duyên, nên khi nghe anh xuống Washington DC để giới thiệu Chính Luận, tôi nghĩ mình có thể viết mà không thấy lạc lõng dù biết viết mấy cũng bằng thừa khi đã có quá nhiều tên tuổi viết về anh.

Hôm đó thứ Bảy, hai ngày sau Sept 11, trời mưa lớn, nhưng hội trường nhỏ nơi anh ra mắt sách trong một trường trung học ở Falls Church, Virginia thu hút hơn 250 người đến dự, có nhiều người đến từ những tiểu bang khác. Và quí thay, sách “Chính Luận” bán sạch, người mua ào ạt làm tôi dù cố gắng như chong chóng nhưng vẫn trở tay không kịp. Người ta thương mến anh thấy rõ, họ thương cái uyên bác và cái bình dị đáng mến của anh, thương người đã viết bài thơ bất hủ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười. Nhìn anh ngồi ký tặng sách liên tục không nghỉ mà ái ngại, hôm đó anh bị cảm nặng, cơn sốt hiện rõ trên mặt, nhưng không dám nói mình rất bệnh. Buổi nói chuyện chấm dứt sau ba tiếng rưỡi đồng hồ, nhưng người ta vẫn níu kéo không cho anh về.

Thơ văn của anh lảng vảng hình bóng mẹ, những chiếc lá rơi hay ngôi chùa cưu mang anh ở Hội An thuở cơ hàn. Mẹ và chùa, còn hình ảnh nào đẹp hơn. Những bài thơ, bài viết của anh, có bài, có câu làm rơi nước mắt. Anh viết nhẹ như thơ, hay đến lặng người, đầy cảm xúc và gởi gắm cho nên có một mãnh lực kết “nối lòng người vời vợi cách xa nhau.” Ít ai đọc thơ anh mà không khỏi xúc động, mà không khỏi thấy lòng mình mở rộng bao dung.

Cuộc đời mồ côi từ bé của anh có lúc phải trôi nổi trà trộn với đám trẻ bụi đời, có lúc lại được trọ học trong chùa thuở nghèo khó nên thơ anh có nhiều hình ảnh chiếc lá. Anh ví cuộc đời mình như một chiếc lá bay. Hãy nghe anh viết, “… số phận của chiếc lá gắn liền với câu chuyện đời tôi. Ngày xưa khi trọ học ở chùa Viên Giác, tôi nhỏ nhất trong chùa nên được giao công việc quét lá. Anh Hùng gánh nước, anh Sáu tưới rau, chú Ngô đi chợ, còn tôi không làm được những chuyện đó nên chỉ lo làm sạch sân chùa. Không ai có phòng ngủ riêng. Năm đầu tôi ở chung phòng với chú Điển, bây giờ là Hòa Thượng Thích Như Điển. Mấy năm sau tôi dọn sang ở với các chú điệu cùng lứa tuổi trong căn phòng sát dưới gốc đa. Các chú điệu rất vô tư. Nằm xuống là ngủ ngay. Đúng giờ thức dậy đi tụng kinh khuya. Tụng kinh xong lại đi ngủ tiếp. Các chú hoạt động tự nhiên như những chiếc máy. Ít cười và ít nói. Tôi cũng cùng tuổi nhưng không như các chú điệu, đêm nào khi tới phiên mình đánh chuông xong, tôi thường nằm bên hiên chùa nghe tiếng lá reo. Nhất là mùa thu, tiếng lá rung như một điệu nhạc… và ở đó tôi lớn lên. Lớn lên trong tiếng chuông chùa nhẹ đưa vào đúng 5 giờ sáng mỗi ngày. Lớn trong những lời Phật dạy “Hãy bao dung và tha thứ” đi nhẹ vào tâm hồn ngây thơ trong trắng của tôi. Lớn lên trong tiếng lá đa xào xạt suốt mùa thu viết vào hồn tôi những vần thơ buồn, mãi ba mươi năm sau mới dần dần kết tụ. Và tôi cũng lớn lên dưới ánh sao của những đêm hè nằm nghe tuổi hoa niên thổn thức.”

Tôi gởi hai bài viết, Cây Đa Chùa Viên Giác và Nhật Ký Ngày Giỗ Cha trích trong “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” rất Trần Trung Đạo của anh về tuổi thơ và tuổi trẻ u buồn của mình vang vọng tiếng chuông chùa từ sau cây đa cổ gắn bó suốt đời.

Tống Mai
Virginia, Sept 21, 2014

Nằm vào mục: Nhận Xét | Có 1 ý kiến »

CHÂU THẠCH : ĐỌC “NẾU MỘT MAI TÔI VỀ” THƠ TRẦN TRUNG ĐẠO

A-Mayin1Đọc “Nếu một mai tôi về” thơ Trần Trung Đạo và được biết bài thơ nầy anh viết cho Đà Nẵng, nơi anh đã sống một thời trai trẻ và nơi tôi đang sống bây giờ khiến tôi cảm thấy mình như gần gủi với tâm tình được thổ lộ trong thơ. Tôi có hai thành phố thân yêu trong đời. Đó là Đà Nẵng quê hương tôi và Quảng Trị nơi tôi sống một thời trai trẻ. Bây giờ hai thành phố nầy không cách xa tôi nhưng sao trong lòng tôi vẫn thường hỏi nó “Có còn nhận ra tôi không?” như nhà thơ Trần Trung Đạo từ bên kia bờ đại dương đã hỏi:

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi thành phố cũ
Những mái ngói xanh rêu
Bức tường vôi loang lổ
Bài thơ xưa ghi dấu một phần đời

Đà Nẵng ngày xưa là thế đấy: Những mái ngói xanh rêu/ Bức tường vôi loang lổ có lẽ vì đem so với những thành phố hoa lệ bên trời Âu Mỹ mà tác giả đã đi qua, nhưng nó là “Một bài thơ ghi dấu một phần đời” của tác giả. Được biết thời trai trẻ tác giả sống ở Đà Nẵng nhưng học trường Trần Quý Cáp ở Hội An. Hình ảnh trong thơ là hình ảng đậm nét của cả hai nơi còn lưu trong ký ức của nhà thơ. Ngày nay Đà Nẵng không còn “Những mái ngói xanh rêu/Bức tường vôi loang lổ”nữa. Đà Nẵng đã trở thành một thành phố hoa lệ rồi, cho nên bạn sẽ không nhận ra nó mà nó cũng chẳng nhận bạn đâu. Hội An cũng thế, đã thành nơi của đèn lồng muôn màu và người Âu Mỹ rộn lối đi. Đà Nẵng, Hội An bây giờ vì đã thay hình biến dạng mà tâm hồn cũng đã đổi thay . Tâm hồn đó ngày nay không còn mơ ước như Trần Trung Đạo mơ ước thuở xa xưa:

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi mơ ước tuổi hai mươi
Bờ bến cũ, ngậm ngùi thân sỏi đá
Tôi về đây, sông xưa, dòng nước lạ
Ngó mây trời mà khóc tuổi hoa niên.

Thế hệ tuổi hai mươi ngày xưa mơ ước gì? Mơ ước của ngày xưa chắc phải đẹp. Những mơ ước ấy xa lạ vô cùng với Đà Nẵng, Hội An ngày nay. Nhà thơ đã đoán được điều đó nên đã than thở cho sỏi đá ngậm ngùi nơi bến cũ, cho sông xưa dòng nước lạ để “Ngó mây trời mà khóc tuổi hoa niên”. Thật ra bến cũ đâu còn, chỉ còn sông xưa với dòng nước lạ nhưng hình như sông xưa cũng đã hoá vào thiên cổ và thay vào đây một dòng sông rất mới. Có triết gia đã nói “không thể tắm hai lần trên một sông” vì dòng sông biến đổi từng giờ, huống chi bây giờ, khi tác giã trở về thì “sông xưa” đã thành “dòng nước lạ”. Tội nghiệp cho nhà thơ, anh còn tưởng tượng thêm ngày quay về sẽ tìm gặp lại nhưng dấu tích thân yêu khác:

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi cây đa cũ trong sân
Nơi tôi đứng những chiều thu lá đổ
Đừng hát nữa đa ơi, bài ca buồn vạn cổ
Tấm thân gầy đau nhức nhối trong đêm.

Cây đa không còn nữa để đứng khóc cho anh đâu. Nó đã bị bứng gốc lên rồi từ ngày tốc độ đô thi hoá làm thay đổi cảnh quang thành phố vùn vụt từng ngày. Đa không còn đâu để hát và nhà thơ “có nhứt nhối trong đêm” thì cũng không có “bài ca buồn vạn cổ” ngày xưa đồng điệu với mình. Chổ của đa bây giờ có thể là một ngôi nhà cao tầng nào đó.

Đã thế Trần Trung Đạo lại còn muốn tìm hương vị ngày xưa của quán bên đường:

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi những giọt cà-phê đen
Ly rượu đắng cho môi đời bớt nhạt
Khói thuốc bay như mây trời phiêu bạt
Trên con đường nay đã đổi thay tên.

“Con đường nay đã thay tên” và ly rượu, ly cà phê anh đang uống đó chắc chắn cũng không còn cái đắng thưở xưa. Cái đắng thuở xưa là cái đắng thị vị chan chứa nhận ở đầu môi và tình yêu chất chứa trong lòng, còn cái đắng bây giờ là cái đắng vẫn thế ở đầu môi nhưng tràn vào con tim nỗi xót xa vì lạc lõng, cô đơn và hụt hẫng.

Nhà thơ nhớ đến bạn. Anh trách bạn “Giờ chia tay sao chẳng hẹn quay về”:

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi bè bạn anh em
Ai còn sống và ai đã chết
Ai ở lại lao đao, ai phương trời biền biệt
Giờ chia tay sao chẳng hẹn quay về.

Chia tay gì hôm nay nữa? Đã chia tay cái ngày bạn anh lên núi. Đã chia tay cái ngày anh xuống thuyền rời bỏ quê hương. Ngày đó anh đã vĩnh biệt rồi vì đâu biết anh còn có ngày quay lại. Hình như nhà thơ còn nghĩ xa hơn, nghĩ đến cái ngày chia tay là cái ngày rời bỏ thế gian, nhưng than ôi! cái ngày chia tay đó làm sao mà hẹn được. Cuối cùng nhà thơ tưởng tượng mình về ngồi trên ghế đá, ngồi trong ngôi nhà xưa để nghe “Trong đêm dài yên lặng/ sông núi gọi tên mình”:

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi ghế đá công viên
Những mái lá che tôi thời mưa nắng
Từ nơi đấy trong đêm dài yên lặng
Tôi ngồi nghe sông núi gọi tên mình.

“ Sông núi” gọi gì thì không biết nhưng chắc chắn rằng ghế đá năm xưa không còn, mái lá năm xưa biến mất và đêm cũng không còn yên lặng vì tất cả đã đổi thay, đổi thay hơn Từ Thức ngày xưa quay về trần gian sau tháng năm lạc đến miền tiên giới. Và rồi nhà thơ có chút giận hờn trong hai câu cuối:

Có còn nhận ra tôi không
Hay tại chính tôi quên.

“Quên”, nhà thơ làm sao quên được khi anh nhớ tường tận từng kỷ niệm trong từng nơi chốn cũ. Chẳng qua chốn cũ và anh đều đổi thay nên không còn nhận được ra nhau, và có nhận được ra nhau thì cũng đã trở nên người xa lạ.

Đọc “Nếu một mai tôi về” hình như tôi muốn khóc, khóc không chỉ vì bài thơ cảm động mà còn khóc vì những mong ước của anh nếu được quay về cũng không còn đâu nữa. Khóc vì tủi lòng, vì thấy những người ở xa quá thật thà, chưa hiểu gì là “ tang điền biến vi thương hải”. Ôi! Tôi ước gì cảnh xưa còn đó dầu nó chỉ là “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ nền cũ lâu đài bóng tích dương”. Đất nước ngày nay thay đổi mọi nơi, từ nông thôn đến thành thị, nhưng “dấu xưa” không còn. “nền cũ” mất đi, tình người phân tán làm đau thương cho những tâm hồn hoài cổ, đau gấp mấy lần bà Huyện Thanh Quan. Hảy đọc bài thơ của bạn tôi, nhà thơ Thế Lộc còn đang sống trong thành phố quê nhà để hiểu thêm nỗi buồn của người ở lại còn nặng nề hơn nỗi lòng của kẻ xa quê:

Sông nầy không phải của tôi
Vẫn con nước ấy lặng trôi qua cầu
Núi nầy không phải của tôi
Thăng trầm cuộc sống nổi trôi núi rừng
Nắng thu chiều nhớ rưng rưng
Gió ra biển rộng bỗng dưng ngỡ ngàng
Kể từ cầu gảy rẽ ngang
Trùng khơi sóng vỗ mênh mang cõi trần
Cuối đời quảy gánh phong vân
Nhẩm tay Mẹo, Tý, Mùi, Thân rẽ bầy
Hồ mã tế, Bắc phong ngây
Sào Nam Việt điểu lất lây cuộc tình
Nắng chia nửa bải điêu linh
Hoàng hôn đứng đó một mình chờ ai !…
( Ngỡ Ngàng)
Thế Lộc

Bài thơ “Ngỡ Ngàng” nhắc đến điển tích “ ngựa Hồ chim Việt” ngày xưa. Khi có đông phong thì ngựa Hồ quay đầu về quê hương mà rống. Con chim nước Việt dầu phải bay xa kiếm sống nhưng vẫn làm tổ và chọn cành phương nam để đậu.

Thương thay cho Trần Trung Đạo, như con ngựa Hồ, như con chim Việt, đau đáu một niềm thương nhớ quê hương, mơ một ngày quay về cũng không trọn vẹn trong mơ. Vậy mà ngày nay khi quay về, chắc còn đối mặt với biết bao nhiêu điều xa lạ mà, ngay người ở lại cũng còn mang tâm trạng nhớ thương ./.

Châu Thạch

NẾU MAI MỐT TÔI VỀ

Trần Trung Đạo

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi thành phố cũ
Những mái ngói xanh rêu
Bức tường vôi loang lổ
Bài thơ xưa ghi dấu một phần đời.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi mơ ước tuổi hai mươi
Bờ bến cũ, ngậm ngùi thân sỏi đá
Tôi về đây, sông xưa, dòng nước lạ
Ngó mây trời mà khóc tuổi hoa niên.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi cây đa cũ trong sân
Nơi tôi đứng những chiều thu lá đổ
Đừng hát nữa đa ơi, bài ca buồn vạn cổ
Tấm thân gầy đau nhức nhối trong đêm.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi những giọt cà-phê đen
Ly rượu đắng cho môi đời bớt nhạt
Khói thuốc bay như mây trời phiêu bạt
Trên con đường nay đã đổi thay tên.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi bè bạn anh em
Ai còn sống và ai đã chết
Ai ở lại lao đao, ai phương trời biền biệt
Giờ chia tay sao chẳng hẹn quay về.

Có còn nhận ra tôi không
Hỡi ghế đá công viên
Những mái lá che tôi thời mưa nắng
Từ nơi đấy trong đêm dài yên lặng
Tôi ngồi nghe sông núi gọi tên mình.

Có còn nhận ra tôi không
Hay tại chính tôi quên.

Trần Trung Đạo.

©T.Vấn 2015

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

Du Tử Lê: Trần Trung Đạo, trái tim nồng nàn dành cho tổ quốc Việt.

chinhluan-poster-sdutule.com (ngày 10 tháng 11-2014): Nhà xuất bản Cổ Loa mới ấn hành tác phẩm tựa đề “Chính Luận” của nhà thơ nổi tiếng Trần Trung Đạo, ở Boston, Mass.

Đây là tác phẩm thứ 10 của một tác giả có nhiều bài thơ được độc giả khắp nơi yêu thích.

Như tựa đề, “Chính Luận” là một tác phẩm tâm huyết, cũng có thể nói đó là một thứ “tâm huyết bút”, nằm trong loạt “tâm huyết bút” của họ Trần.

“Chính Luận” của Trần Trung Đạo, không chỉ đáng kể ở độ dầy 600 trang chữ nhỏ, khổ lớn mà, “Chính Luận” còn có chiều sâu của những bài viết, như những bản cáo trạng khẩn thiết báo động về những vấn đề trực tiếp liên quan tới sinh mệnh của dân tộc, tổ quốc Việt. Điển hình như những bài viết về “Hiểm họa Trung Cộng”, “Hiện trạng Việt Nam”, “Bàn về tẩy não”, ‘‘Cách mạng tại Việt Nam, khoảng cách và hy vọng”, hoặc “Hãy nói trước ngày chết” v.v…

Nói cách khác, với 600 trang “tâm huyết bút” của một người trẻ đang đứng ở tuyến đầu thao thức về vận mạng đất nước, “Chính Luận” của Trần Trung Đạo, không chỉ là những trang viết nóng bỏng, nồng nàn tâm cảm của một người yêu nước mà, nó còn là tấm lòng, trái tim của một Thi Sĩ cống hiến đời mình cho hy vọng một Việt Nam khác – – Với những câu hỏi được cất lên, gửi tới bất cứ một người Việt Nam yêu nước nào, như:

“Việt Nam tôi đâu? Câu hỏi vang lên theo từng đợt sóng dội vào bờ cát nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời. Một người đứng trên đất khách và một kẻ đang ở trong tù có cùng một câu hỏi. Thì ra, không chỉ người đi xa mới thấm thía nỗi đau của kẻ thiếu quê hương mà cả những người đang sống trên đất nước vẫn đi tìm kiếm quê hương. Và quê hương chúng tôi đang tìm kiếm, không chỉ là núi đồi, sông biển, ruộng vườn cây trái nhưng là một quê hương có khối óc tự do, có tâm hồn nhân bản, có trái tim dân chủ, có đôi chân tiến về phía trước và đôi tay kiến tạo một xã hội thanh bình, thịnh vượng cho mãi mãi Việt Nam” (“Chính Luận” trang 597).

Trong bài “Hãy nói trước ngày chết”, họ Trần viết:

“…Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người thì lại là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, hay Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.

“Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khơ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là ‘gían điệp CIA’. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án (…)

“Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm Sát Mậu Thân 1968.

“Số người bị giết trong vụ Thảm Sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và ‘kẻ thù nhân dân’ không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: ‘Các hố cách khoảng nhau. Mỗi hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng’.

“Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy thảm thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế ‘nhảy núi’. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo cộng sản và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thị của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ.

“Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, Những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách ‘mời đi trình diện’ rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra ‘tòa án nhân dân’ và kết án tử hình (…)

“Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên (…)

“…Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người ‘nhảy núi’ còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.

“Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lại dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.” (Trích “Chính luận”, Tr. 586, 587, 588, 593, 594).

Được biết, nơi trang cuối “Chính Luận”, tiểu sử nhà thơ Trần Trung Đạo, người mang trái tim nồng nàn tình yêu dành cho tổ quốc Việt, ghi nhận như sau:

“Quê quán Duy Xuyên, Quảng Nam. cựu học sinh Trung Học Duy Xuyên, Trung Học Trần Quý Cáp, Hội An. Cựu sinh viên Luật Saigon và Kinh Tế, Vạn Hạnh. Vượt biên bằng đường biển năm 1981, tạm trú tại trại Palawan, Philippines, định cư tại Mỹ trong cùng năm. Học điện toán tại Wentworth Institute of Technology và Boston University. Tốt nghiệp kỹ sư điện toán và hiện đang làm việc cho một công ty đầu tư tài chánh tại Boston. Góp phần xây dựng mạng lưới Internet đầu tiên tại hải ngoại vào đầu thập niên 1990. Đóng góp tích cực vào nỗ lực xây dựng các phong trào trẻ tại hải ngoại. Thuyết trình về các chủ đề tuổi trẻ, nhân quyền, văn hóa tại các cộng đồng Việt Nam, hội nghị, đại học, tổng hội sinh viên, trại hè. Sáng tác thơ, văn, dịch, nghiên cứu, tiểu luận và chính luận…”

Nằm vào mục: Nhận Xét | Có 1 ý kiến »

Các video clips của buổi giới thiệu Chính Luận Trần Trung Đạo tại DC 13-9-14

P1180831Sau 19 năm từ khi giới thiệu tập thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười tại DC năm 1995, tác giả Trần Trung Đạo lần nữa đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn để giới thiệu Chính Luận Trần Trung Đạo. Dưới đây video của chương trình do Đài Truyền Hình Việt Nam Hoa Thịnh Đốn thực hiện:

Phần I:

– Trưởng Ban Tổ Chức Nguyễn Mậu Trinh khai mạc (phút thứ 5:45 – 9:17)
– Chủ tịch CĐVN Washington DC–Virginia–Maryland Đoàn Hữu Định (phút thứ 9:20 – 12:00)
– Cô Lê Tống Mộng Hoa giới thiệu tác giả (phút thứ 11:24 – 29:05)
– Nhà thơ Cao Nguyên phát biểu (phút thứ 29:15 – 34-35)
– Họa sĩ Vũ Hối và ông Lê Hữu Em, Hội Quảng Đà, tặng quà kỷ niệm (Phút thứ 35:08 – 36:40)
– Ts Trần Văn Hải phát biểu về Trần Trung Đạo (phút thứ 36:40 – 42:46)
– Tác giả Trần Trung Đạo phát biểu (phút thứ 43:15 – 50:47)
– Nghệ sĩ Bạch Mai ngâm Bao Giờ Nhỉ Tôi Về Thăm Xứ Quảng (phút 50:47 – 59:54)
– Ca sĩ Hiếu Thuận trình bày nhạc phẩm Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười (phút thứ 1:00:19 – 1:07:57)
– GS Nguyễn Ngọc Bích giới thiệu tác phẩm Chính Luận (phút thứ 1:08:00 – 1:21:50)
– Nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ và trình bày Bà Mẹ Điên (phút thứ 1:22:05 – 1:30:21)

Phần II

1. Ca sĩ Như Hương trong nhạc phẩm Đêm Ngồi Nghe Tiếng Chim Trên Biển (phút 0:05 – 4:34)
2. Nghệ sĩ Nguyễn Xuân Thưởng ngâm Độc Hành và Gởi Em (phút 04:38 – 15:45)
3. Hỏi đáp giữa Ts Nguyễn Đình Thắng và Trần Trung Đạo (phút 15:45 – 22:34)
4. Hỏi đáp giữa nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình và Trần Trung Đạo (phút 22:34 – 29:01)
5. Hỏi đáp giữa Bs Nguyễn Quốc Quân và Trần Trung Đạo (phút 29:01 – 41:28)
6. Hỏi đáp giữa Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh và Trần Trung Đạo (phút 41:34 – 46:36)
7. Hỏi đáp giữa Nhà văn Trương Anh Thụy và Trần Trung Đạo (phút 46:56 – 1:06:30)
8. Nhà thơ Cao Nguyên cám ơn quan khách và đồng hương (phút 48:41 – 52:37)
9. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh và nhạc phẩm Tự Do Chẳng Có Ai Cho Không (phút 52:39 – 55:24)
10. Trần Trung Đạo ngâm Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười (phút 55:25 – 1:00:44)
11. Trần Trung Đạo trả lời phỏng vấn của đài Truyền Hình Việt Nam Hoa Thịnh Đốn (phút 1:01:30 – 1:06:30)

 

Phần III: Phỏng vấn, phóng sự và trích dẫn từ chương trình:

1. Phỏng vấn Trung Tướng Lữ Lan và ái nữ Lữ Anh Thư:

2. Phóng Sự của SBTN về buổi ra mắt Chính Luận Trần Trung Đạo tại DC 13-9-2014

3. Nhạc phẩm Tự Do Không Ai Cho Không do nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh viết và trình bày:”

4. Phỏng vấn TS Nguyễn Đình Thắng:

5. Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh phát biểu trong chương trình giới thiệu Chính Luận Trần Trung Đạo:

6. Trần Trung Đạo ngâm bài Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười thay lời cám ơn quan khách, thân hữu vào đồng hương:

7. Lời cám ơn của tác giả trong buổi giới thiệu Chính Luận Trần Trung Đạo tại DC (Soundcloud):

8. Nhạc phẩm Bà Mẹ Điên do nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ và trình bày trong buổi giới thiệu Chính Luận Trần Trung Đạo (Soundcloud)

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

GS Nguyễn Ngọc Bích: ĐỌC “CHÍNH LUẬN” CỦA TRẦN TRUNG ĐẠO ĐỂ LẠC-QUAN VỚI TIỀN-ĐỒ ĐẤT NƯỚC

IMG_0407_1
Có lẽ tình-hình Việt-nam trong những ngày gần đây đang đi đến một nút kết nào đó, buộc chính-sách ở quê nhà phải chuyển hướng nếu không muốn đi vào ngõ cụt, vào chỗ chết. Không chỉ nguy ngập mà lần này chết có thể là chết cả nút chứ không phải chỉ là chuyện ảnh-hưởng đến một nhóm người mà thôi, tóm lại không phải là chuyện giỡn.

Có lẽ cũng vì thế mà ta thấy như nở rộ một số sách mà tác-giả gom lại từ các bài viết, các tiểu-luận mình viết đó đây, nhằm đáp ứng những nhu-cầu bình-luận thời-sự nóng bỏng, phản ảnh một tấm lòng thiết tha, sôi nổi với quê hương, đất nước và dân-tộc. Chẳng thế mà Trần Trung Đạo vừa tung ra tập Chính Luận của anh thì nhà xuất bản Tiếng Quê Hương của anh Uyên Thao cũng gần như cùng lúc tung ra thị-trường cuốn Chính Luận 2013 của Phạm Chí Dũng ở quê nhà. Mà đến cuốn này cũng ra liền ngay sau cuốn Những sự thật cần biết của Đặng Chí Hùng, người vừa được thoát sang Canada từ những nanh vuốt của công-an VNCS thò tay sang đến tận cả Thái-lan để nhờ Interpol giữ anh lại và trục-xuất anh về VN. Tất cả đều là những tập tiểu-luận để giúp chúng ta nhìn lại, điều chỉnh hướng đi trước khi phóng tới… trong một tương-lai còn nhiều bất trắc.

Một quyển sách với nhiều cách nhìn mới

Thường đọc một tập tiểu-luận, độc-giả có quyền nhảy từ chương này sang chương khác, không nhất thiết đọc một mạch từ đầu đến cuối. Vậy mà chính tôi đã làm việc ngược đời là đọc tập tiểu-luận của Trần Trung Đạo từ trang đầu đến trang cuối, không bỏ sót một trang nào. Đủ tỏ là cuốn sách được sắp xếp khá khéo, thành một cái gì lô-gích nó dẫn ta từ vấn-đề lớn này sang đề-mục lớn kia, mở mang trí-thức cho ta bằng nhiều điều mới lạ, và ngay cả khi đề-tài là một đề-tài quen thuộc như về VN (Mậu Thân ở Huế, Cải cách ruộng đất hay kinh-nghiệm đi tù Cộng-sản), tác-giả cũng đưa ra được những lập-luận hay nhận-định thật mới mẻ làm cho ta giật mình hay thống khoái. Đúng như Jean Cocteau kể chuyện khi anh còn trẻ, có lần nhà biên-đạo vũ người Nga, Diaghilev, đã nói với anh: “Etonne-moi!” (“Anh hãy làm cho tôi ngỡ ngàng đi!”)

Cuốn sách của Trần Trung Đạo, cũng như cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh mới ra gần đây, đúng là có cái hỉệu-ứng đó! Gần như trang nào ở trong hai cuốn sách của Trần Trung Đạo và Trần Đĩnh, dù tuổi tác hai người khá xa nhau, nhưng đều làm cho ta ngạc-nhiên, thích thú, không ít lần ta tự thấy gật gù với tác-giả, để công-nhận sự sâu sắc ở trong anh.

Đọc Trần Trung Đạo làm tôi nhớ đến ngày tôi mới ra trường với bằng Cử-nhân Chính-trị-học ở Princeton, một trường nổi tiếng về ngành này. Là một người trẻ mới hơn 20, tôi tự nhủ khi sang Đại-học-viện ở Columbia: Là một người Việt-nam ở phương Đông, tôi biết khá nhiều về nước Pháp, văn-học Pháp, rồi văn-minh văn-hóa của Mỹ và Anh, thậm chí đến cả thơ tiếng Đức tôi cũng thuộc một số. Nhưng rồi tôi tự hỏi tôi có mất gốc không khi tôi biết nhiều về Âu-châu hơn những nước láng giềng của VN như Trung-quốc cận-hiện-đại hay Nhật-bản, Cao-ly, nói gì đến những nước nhỏ hơn dù rất gần ta như Miên, Lào, Thái… Do đó mà sang trường đại-học Columbia, tôi đã phải đi tìm về nguồn bằng cách học tiếng rồi lịch-sử, văn-học Trung-hoa để dần dần lan sang văn-học Nhật, tiếng Cao-ly v.v.

Khác hẳn tôi, trẻ hơn tôi, Trần Trung Đạo đã nhìn được ra ngay là một sự hiểu biết về Trung-quốc là then chốt đối với một người VN hôm nay mà muốn quan-tâm đến vận-mệnh đất nước. Do vậy mà gần một nửa cuốn sách là viết về Trung-Cộng, so sánh nó với chế-độ Phát-xít của Hitler, tương-phản nó với nước Mỹ, đào sâu những âm-mưu của Bắc-kinh với những nơi xa xôi như Phi-châu, Congo, thậm chí cả cái nguy-cơ của chủ-nghĩa sô-vanh Đại-Hán móc nối với dân-tộc chủ-nghĩa cuồng tín của Sam Rainsy ở Campuchia để bao vây hay cầm chân VN. Và mỗi trang, anh không khỏi làm ta giật mình vì cái hiểu biết rộng lớn của anh, nhất là cái nhìn thật xa, thật sâu, nhìn phía sau hiện-tượng như quan-niệm “sức mạnh mềm” (“soft power”) do cả Hồ Cẩm Đào lẫn Obama đem ra áp-dụng trong một khung-cảnh quốc-tế mới.

Tôi không rõ anh Trần Trung Đạo học chính-trị-học hay quan-hệ quốc-tế hồi nào nhưng phải công-nhận là anh có một đầu óc phân-tích rất chi ly và anh biết dùng những nguồn đáng tin cậy để rút tỉa ra được những nhận xét và kết-luận có giá trị. Người Mỹ có câu để khen tặng người giỏi mà không làm cho ta khó chịu, đó là câu: “He carries his scholarship lightly,” có nghĩa là “anh ta uyên bác nhưng lại bình dị.” Và tôi cho câu này áp-dụng vào Trần Trung Đạo có lẽ không sai!

Tôi là người được cho là đã đi nhiều, ấy vậy mà so với anh, có lẽ tôi chỉ là người mới bén gót được một phần anh thôi. Tỷ như tôi vẫn mê đi Ấn-độ nên đọc khá nhiều sách về đủ mọi phương-diện của xứ huyền diệu này song cho tới nay, tôi vẫn chưa đặt chân được đến xứ này. Song anh, vì công việc, đã có dịp đi nhiều nơi ở Ấn-độ, đặc-biệt là Bengalore, nơi được coi như một Silicon Valley của xứ này.

Thành thử đọc Trần Trung Đạo là ta đi từ khám phá này sang khám phá khác. Và vì tính-cách lương-thiện của anh, tính-cách mà Võ Phiến ở Bình-định nói là “thàng,” tính-cách không lên gân của anh nên ta dễ đem lòng tin anh. Bởi ta thấy anh không có lý-do gì lừa lọc ta, trái lại anh lúc nào cũng muốn như chia xẻ với ta những điều hay điều lạ anh học được, không chỉ ở những nước lớn mà còn ở cả một nước nhỏ như Sierra Leone, nhỏ nhưng mà lại tiến-bộ, lại dân-chủ hơn nước đã từng tự-hào là “đỉnh cao trí tuệ loài người.”

Rồi thử đọc hai chương anh viết về ông Nelson Mandela của Nam-Phi. Thật là một gương tranh đấu phi thường, ông Mandela không chỉ thắng được lên trên sự khác biệt màu da, thắng được lên tất cả những tội ác mà người da trắng đã dành cho cá-nhân ông và đồng-loại da đen của ông, ông thắng vượt được cả ông để đổi cách đấu tranh từ đấu tranh vũ-lực sang đấu tranh bất bạo động, bắt tay cả với kẻ thù để không còn đổ máu nữa và đem lại sự hòa hợp hòa giải đích-thực cho nước ông, cho dân-tộc ông. Tóm lại, biết bao nhiêu điều để cho chúng ta có thể học hỏi. Thử hỏi, có bao nhiêu người Việt chân-thành nghĩ rằng ta có thể học hỏi được gì từ một người da đen Phi-châu, dù như tổ tiên của loài người, tức là của cả chúng ta, gần như chắc chắn là đã xuất phát từ Đông Phi.

Một niềm tin sắt đá vào tuổi trẻ và tương-lai dân-tộc

Cái làm cho Trần Trung Đạo đáng yêu là không bao giờ anh mất niềm tin đối với tuổi trẻ VN và tương-lai dân-tộc, tiền-đồ VN. Hơi giống anh Ngô Nhân Dụng trong sách Đứng vững ngàn năm, đối với cả hai anh thì dù như hiện-tại xem ra đen tối cả hai anh đều vững một niềm tin vào tuổi trẻ và vào truyền-thống dân-tộc, như dòng nước chảy trong máu của ta.

Đọc Trần Trung Đạo là ta thấy niềm tin đặt vào tuổi trẻ, một sự vững lòng là không có khó khăn nào mà không thể vượt qua, không trở ngại nào mà ta không thể đạp đổ. Tại sao? Tại vì chính anh là một gương mặt trẻ, chắc bẩm là tương-lai thuộc về lớp các anh, nói như người Pháp, dù rằng “tuổi già có khôn ngoan, có biết” thật đó song vẫn không bằng tuổi trẻ còn dư sức lực, với những kỹ-năng cập nhật, chuyên-hóa, với những bộ óc còn tươi mát, với những mạng xã-hội đan kết lại thành một khối không thể đập tan được. Với những người hướng dẫn sáng suốt như Trần Trung Đạo thì ta có thể nói: “Tuổi trẻ VN, hãy bình tâm tiến bước!”

Viết xong tại Đồng Xuân, Bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc
Đêm Trung-thu 16 Giáp Ngọ
(Ngày trùng cửu trong Tây-lịch 2014)

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm: Trần Trung Đạo đến Berlin

chauauDùng văn chương để mô tả một nhà văn thì chẳng khác gì múa rìu qua mắt thợ. Nhưng nhiều khi văn chương chỉ dùng để diễn tả một cảm xúc, một ấn tượng nên dù hay hoặc dở thì đó chỉ là một phương tiện để diễn đạt một khía cạnh của tâm hồn.

Trần Trung Đạo ghé đến Berlin như một cơn gió thỏang tình cờ. Một người anh trong gia đình đã từng học chung với Trần Trung Đạo dưới mái trường Đại Học Vạn Hạnh thuở xưa đã từng nói với chúng tôi trước khi Trần Trung Đạo đến Berlin: Trần Trung Đạo về chính trị là một người thực tâm yêu đất nước con người Việt Nam, về văn thơ là một cây viết có tầm vóc ở hải ngoại.

Quả thực khi gặp mặt Trần Trung Đạo thì đúng như Du Tử Lê đã nhận xét “Trần Trung Đạo có vóc dáng rất Việt Nam, rất thư sinh nho nhã”. Ông rất nhỏ nhẹ lịch sự, giọng nói chỉ thoảng một dư âm xứ Quảng nhẹ nhàng tạo thiện cảm nhanh chóng trong khi tiếp xúc.

Trong buổi gặp gỡ ngắn tại sảnh đường khách sạn Schweizer Hof để bàn luận sơ về chương trình cho ngày hôm sau, chúng tôi cũng tình cờ được biết là buổi tâm tình với nhà thơ Trần Trung Đạo trùng với ngày kỷ niệm thành hôn 29 năm của ông và phu nhân. Sự tình cờ trùng hợp đó có thể là nhân duyên để những người hâm mộ sau buổi tọa đàm có dịp chia vui cụng ly với vợ chồng ông.

Buổi tâm tình ngày 24.8.2014 được bắt đầu khoảng 30 phút chậm hơn ấn định vì có một số anh chị đến từ xa bị chậm trễ máy bay. Số người đến tham dự tuy không quá đông như trong dự đoán của ban tổ chức, nhưng những người có mặt hôm đó hầu hết là những người thực sự mến mộ ông từ lâu, có người đã hẹn hò với ông từ cả mười năm trước và có nhiều người đến từ xa như München, Frankfurt, Wiesbaden, Bremen, Hamburg…Họ đến để nghe và thưởng thức thơ văn của ông, để tìm được những đồng cảm về tình yêu quê hương đất nước.

Theo Du tử Lê : “thơ Trần Trung Đạo vời khuynh hướng kể chuyện một cách chân thiết đơn giản và phảng phất nhiều hơi hướm của thời tiền chiến“ và “với tấm lòng trái tim trĩu nặng hồn nước ông còn thể hiện qua các lãnh vực tùy bút tiểu luận về thời cuộc chính trị xã hội tôn giáo“ … ông đem văn chương chữ nghĩa làm niềm tin nước Việt sẽ hồi sinh“.

Trong phần đầu mọi người đã được nghe Trần Trung Đạo trải lòng mình về cuộc đời bất hạnh, về những cơ duyên trong thời thơ ấu của ông và về những phấn đấu không ngừng để thắng lại số phận cô đơn và hẩm hiu.

Ông mất mẹ rất sớm, nên trong thơ của ông luôn phảng phất tình yêu mẹ, một tình yêu mà suốt tuổi thơ ông đã thiếu thốn hoàn toàn. Sau đó cha ông lại qua đời khoảng một tuần trước tết Mậu Thân. Với 13tuổi ông lưu lạc đến Đà Nẵng du nhập với các trẻ bụi đời ngủ tạm trong càc nhà kho chứa gỗ. Sau biến cố Mậu Thân trường học Trần Quý Cáp tựu trường trở lại ông lại phải đi theo trường. May mắn là khi còn bé ông thường sinh hoạt trong Phật Tử và hát rất hay nên được các sư thương mến. Thế nên ở Hội An ông tìm vào cổng chùa và được sư trụ trì quen biết cho nương náu để đi học. Tại đây ông đã gặp chú tiểu Thích Như Điển và làm bạn với chú tiểu trong suốt thời gian cơ hàn nhưng đậm tình thân này. Sau khi tốt nghiệp Trung Học, ông vào Saigòn ghi danh nhập học Đại Học niên khóa 1972. Tại đây một lần nữa ông được một bà mẹ “Hòa Hưng “ đem tình mẫu tử chia sẻ đùm bọc yêu thưong ông.

Sở dĩ tôi dài dòng về tiểu sử của Trần Trung Đạo để nhấn mạnh về sự lương thiện của lòng người miền Nam VN, dù trong chiến tranh nhưng một đứa trẻ tứ cố vô thân vẫn có thể tiến thân trong tình thương của môi trường xã hội xung quanh. Đó là cái thiện vẫn còn sống dưới chế độ VNCH, đó là một điều không thể xảy ra trong cái xã hội Việt Nam hiện tại với sự băng hoại về đạo đức luân lý đến cùng cực.

Nói về quan điểm chính trị ông có một tầm nhìn đứng đắn về đảng phái và dân tộc. Đảng phái chỉ là những con thuyền đưa ta đến bến bờ dân tộc. Con thuyền không phải là bờ bến, đảng phái cũng không phải là dân tộc. Nhiều khi vì quyền lợi đảng phái mà một số người đã quên đi quyền lợi dân tộc. Ngay cả cái cờ đảng phái cũng không thể đại diện cho dân tộc. Nói theo ông Trần Trung Đạo “nếu có ai dan díu với lá cờ Cộng Sản thì đó là chuyện cá nhân của họ, nhưng lá cờ vàng vẫn là lá cờ của dân tộc vì lá cờ vàng có chính nghĩa”. Vâng, lá cờ vàng chưa hề làm hổ danh cho quê hương đất nước VN, đã có biết bao nhiên anh linh tử sĩ đã nằm xuống để bảo vệ lá cờ này, để chống đỡ sự bành trướng của chư hầu Cộng Sản, để gìn giữ tự do và nhân bản. Trần Trung Đạo đã khẳng định trước diễn đàn “nếu hôm nay không có chào Quốc Kỳ VNCH thì tôi sẽ không nói chuyện buổi này”.

Trong buổi tâm tình, Trần Trung Đạo cũng chia sẻ tâm tư về vấn đề Biển Đông, về nhân quyền tại Việt Nam. Ông cũng trăn trở tìm cách giúp đỡ trực tiếp hoặc gián tiếp đến những người trẻ tuổi gan dạ đứng lên chống bạo quyền trong nước. Ông viết lách chuyển tải kinh nghiệm tái lập thể chế chính phủ trên toàn thế giới từ Do Thái, Hoa Kỳ đến Phần Lan để cho giới trẻ trong nước học hiểu.

Ông kêu gọi người dân Việt Nam đặc biệt là giới trẻ, những hy vọng cho tương lai đất nước, phải phát triển ý thức xã hội, nâng cao dân trí và tận dụng sức mạnh toàn dân để thay đổi được hiện tình đất nước. Muốn thắng Trung Cộng chúng ta phải thay đổi vận mệnh cuả chính mình để đất nước sớm có tự do dân chủ. VN phải có dân chủ trước Trung Cộng thì chúng ta mới thắng Trung Cộng. Đảng CSVN lệ thuộc Trung Cộng nhưng người dân VN không lệ thuộc Trung Cộng.

Ông cũng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy đoàn kết trong tinh thần tương kính lẫn nhau vì con đường cứu nước rất rộng, mọi người đều có thể phụ trách đóng góp vào nhiều lãnh vực mà không va chạm với nhau.

giadinhttd-htVề phần thi ca thì chị Nhất Hiền ( Frankfurt) đã mở đầu bằng bài thơ của Võ Đại Tôn, một Quan Võ và là một khách mời mới đây cuả Berlin, viết tặng Trần Trung Đạo là một Quan Văn cùng chung chí hướng. Sau đó xen kẽ vào chương trình chị Phượng ( Berlin ) đã ngâm bài thơ nổi tiếng của ông Trần Trung Đạo “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” với đàn đệm Guitar của chính tác giả.

Trần Trung Đạo cũng tự ngâm một bài thơ tâm đắc của ông để tặng khán giả :

… Đời xô ta gục buồn không trách
Vẫn đứng lên cười với thế nhân…

Và Phạm Công Hoàng( Hamburg ) đã đóng góp bài thơ ca „ Tương kính trong liên kết „ tự sáng tác theo nguồn cảm hứng trước tư tưởng của Trần Trung Đạo.

Sau buổi hội thoại rất chân tình giữa diễn giả với khách tham dự, chị Nhất Hiền ( Frankfurt ) đã ngâm bài thơ “ Em bé Việt Nam và viên sỏi “ trước khi ông Nguyễn đình Tâm, nìên trưởng Berlin, lên phát biểu lời cám ơn đến ông Trần Trung Đạo. Chương trình đã kết thúc trễ hơn 45 phút, nhưng mọi người vẫn còn lưu luyến ở lại chụp hình kỷ niệm với ông.

anniversaryTối hôm đó, tại tư thất tuy không được rộng rãi lắm nhưng cũng đủ chỗ cho gần hai mươi người cùng chung vui thân mật ngày kỷ niệm 29 năm thành hôn với gia đình Trần Trung Đạo cho tới khuya.

Trần Trung Đạo đã để lại một dấu ấn rất tốt đẹp ở Berlin và ở Đức Quốc. Buổi tâm tình đượm chất thi ca thắm tình dân tộc quê hương. Ông đã chuyển tải một hình thức tranh đấu ôn hòa, dùng ngòi bút để khai phóng dân trí và để góp theo ngọn gió dân chủ tư do thổi về Việt Nam.

Nhiều Hội Đoàn tại nhiều nơi trên nước Đức rất muốn mời ông đên nói chuyện với đồng hương. Dù ông không hứa nhưng họ vẫn hy vọng vào một cơ duyên trong tương lai.

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm
LHNVTN tại CHLB Đức
Berlin, 6.9.2014

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

Huỳnh Kim Quang – Đọc ‘Chính Luận’ của Trần Trung Đạo: Để Biết Hiểm Họa Trung Cộng Và Hiện Trạng Việt Nam

chinhluan-trantrungdao-3Không phải đợi đến khi nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 1 tháng 5 năm 2014 người ta mới thấy hiểm họa mất nước của Việt Nam lộ ra như một thực tế không thể chối cãi, trước đó lâu lắm, nhà thơ và nhà văn Trần Trung Đạo đã nhìn thấy rất rõ từng đường đi nước bước xâm lược của Trung Cộng đối với Việt Nam qua nhiều bài khào luận chính trị sâu sắc và thực tế được phổ bỉến trên các cơ quan truyền thông hải ngoại mà nay được tập hợp lại trong tác phẩm “Chính Luận” của ông, vừa được Cổ Loa xuất bản tháng 6 năm 2014.

“Chính Luận” của Trần Trung Đạo dày 600 trang với 44 bài khảo luận chính trị viết bằng khối óc và trái tim của người tri thức Việt Nam chân chính để báo động hiểm họa mất nước trước tham vọng xâm lược của Trung Cộng. Thật vậy, đọc từng bài trong 44 khảo luận chính trị của Trần Trung Đạo người đọc sẽ thấy tác giả viết bằng nhận thức tỉnh táo và tinh tường với những dẫn chứng cụ thể về từng sự kiện, từng vấn đề được nêu ra. Điều gây ấn tượng nổi bật trong tất cả những bài khảo luận chính trị của Trần Trung Đạo trong cuốn “Chính Luận” là tác giả đã viết với tâm thức chân chính và tấm lòng xây dựng của một người tri thức Việt Nam có đầy đủ nhiệt huyết và niềm tin về một đất nước và dân tộc tươi sáng trong tương lai, mà niềm tin ấy tác giả đặt trọn vào tuổi trẻ Việt Nam. Có lẽ vì vậy mà tác giả Trần Trung Đạo đã ghi ngay nơi trang đầu của “Chính Luận” là “Tặng tuổi trẻ Việt Nam.”

Chi tiết mà nói, “Chính Luận” của Trần Trung Đạo xoay quanh 3 chủ đề chính: Hiểm họa Trung Cộng, hiện trạng Việt Nam và bàn về tẩy não dưới chế độ Cộng Sản trên thế giới và Việt Nam.

Phân tích về “hiểm họa Trung Cộng,” Trần Trung Đạo đã nêu ra các chính sách và chủ trương của một thứ “chủ nghĩa dân tộc cực đoan” mang màu sắc Đại Hán luôn luôn đi kèm theo tham vọng xâm lược đất đai và tài nguyên đối với các lân bang qua các nhà lãnh đạo Trung Cộng từ Đặng Tiểu Bình đến Hồ Cẩm Đào. Đặc biệt tác giả cũng nhấn mạnh đến sự tiếp tay của những nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam với công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958 và Hội Nghị Thành Đô đầu thập niên 1990. Tác giả “Chính Luận” đã nhận định sâu sắc về nguyên nhân đưa đến hai sự kiện trên qua tâm thức thần phục Trung Cộng của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam:

Nửa thế kỷ trước, cả bộ chính trị lẫn trung ương đảng CSVN viễn du trong giấc mộng về một thiên đường quốc tế vô sản, trong đó con người mang quốc tịch Trung Hoa hay Việt Nam cũng không mấy khác nhau. Trung Cộng có chiếm Hoàng Sa cũng chẳng qua là giữ dùm cho Việt Nam, tốt hơn là để cho Mỹ chiếm. Nói như một chuyện cười nhưng đó là sự thật. Đảng Cộng Sản Việt Nam mang ơn Đảng Cộng Sản Trung Quốc sâu đậm. Như hầu hết tài liệu quốc tế và cả tài liệu chính thức của đảng, trong thập niên 1950, Việt Nam phụ thuộc vào Trung Cộng không những súng đạn, lương thực, chỉ huy, hậu cần, lãnh đạo mà cả tư tưởng và tinh thần.” (Chính Luận, trang 220)

Tác giả “Chính Luận” cũng đưa ra những bài học lịch sử từ các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc, Congo và Phi Châu và so sánh tình hình Việt Nam trước hiểm họa Trung Cộng. Tác giả cũng phân tích quan hệ Mỹ-Trung trong chính sách toàn cầu và đặc biệt tại Đông Nam Á để cho thấy chính sách của Mỹ đã thất bại như thế nào trước “sức mạnh mềm” của Trung Cộng và thái độ nào là khôn khéo mà Việt Nam cần chọn lựa để tự bảo vệ mình trước hiểm họa Trung Cộng. Tác giả Trần Trung Đạo nêu ra một vài chiến lược mà Việt Nam và các nước trong vùng Đông Nam Thái Bình Dương phải biết để đối phó với hiểm họa Trung Cộng. Tác giả nêu 3 điểm nổi bật như sau:

Để đương đầu với hiểm họa Trung Cộng, các quốc gia trong vùng Đông Nam Thái Bình Dương phải biết (1) chiến lược hóa quốc tế vị trí của quốc gia mình, (2) liên kết thành một khối trong xung đột với Trung Cộng và (3) khai thác tối đa các mặt yếu của Trung Cộng.” (Chính Luận, trang 156, 157)

Tác giả cũng đã cảnh báo các nước bị hiểm họa Trung Cộng không nên chỉ biết ngồi đó rên rỉ mà phải quật cường đứng lên với ngọn cờ dân chủ để thoát Trung:

Nếu không cùng hát đồng ca dân chủ và vươn lên cùng nhân loại mà quanh năm chỉ rên rỉ vài bài ai điếu rồi ngày đại tang cho dân tộc sẽ đến không xa.” (Chính Luận, trang 158)

Nói về hiện trạng Việt Nam, tác giả Trần Trung Đạo đưa ra hai hình ảnh tiêu biểu của xã hội Việt Nam trong vòng gần bốn thập niên qua, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975: một xã hội lụn bại và thụt lùi dưới gọng kềm nghiệt ngã của độc tài đảng trị Cộng Sản Việt Nam và niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc qua cuộc vận động tự do và dân chủ cho đất nước mà giới trẻ đang tích cực tham gia.

Với thảm họa Cộng Sản trên đất nước trong suốt gần 40 năm, tác giả “Chính Luận” viết rằng, “Sau 37 năm, tiếng súng đã vắng đi trên đất nước Việt Nam, non sông liền một dải nhưng người dân vẫn sống trong nỗi bất an lo sợ, hàng trăm ngàn người con gái Việt phải rời bỏ quê hương đi ăn mày, làm điếm, ở đợ khắp thế giới, phần lớn trong số hơn hai triệu người Việt hải ngoại vẫn còn bị xem là “thành phần phản động bám theo chân đế quốc,” và trong nước, những quyền căn bản như ngôn luận, đi lại, thờ phụng của người dân vẫn chưa có được, hàng ngàn người yêu nước vẫn còn bị tù đày. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.” (Chính Luận, trang 334)

Với tương lai tươi sáng của dân tộc, Trần Trung Đạo nghĩ ngay đến nhu cầu không thể không có của một “cuộc cách mạng dân chủ Việt Nam.” Và ông đã bày tỏ niềm tin rằng, “Tôi, trái lại, tin rằng, cuộc cách mạng dân chủ Việt Nam tuy sẽ rất khó khăn, đòi hỏi nhiều kiên nhẫn với các tác động từ bên ngoài và vận động từ bên trong, khi xảy ra sẽ xảy ra trong nhanh chóng và không đổ máu bởi vì tuyệt đại đa số người dân, ở mức độ khác nhau, đều thấy những bất công phi lý đang diễn ra hàng ngày trên đất nước, đều chán ghét chế độ và đều có trong lòng chung một khát vọng dân chủ tự do.” (Chính Luận, trang 344, 345)

Tẩy não là chủ đề chính thứ ba trong “Chính Luận.” Giải thích về vai trò của chính sách tẩy não trong chế độ Cộng Sản, tác giả Trần Trung Đạo viết rằng, “Khái niệm tẩy não được biết đến từ lâu qua các tà đạo, chiến tranh, tình báo, tuy nhiên chỉ dưới các chế độ Cộng Sản kỹ thuật này mới được nâng lên thành quốc sách và được thực hiện một cách triệt để, có hệ thống, bao trùm mọi lãnh vực xã hội và trong mọi tầng lớp nhân dân.” (Chính Luận, trang 519)

Sau khi phân tích các chính sách tẩy não của chế độ Cộng Sản trên thế giới qua việc “tẩy não một người,” “tẩy não một dân tộc,” “tẩy não một quốc gia thù địch,” và đặc biệt chính sách tẩy não của Cộng Sản đã thực hiện tại Việt Nam trước và sau năm 1975 để đi đến kết luận rằng, “và Việt Nam hôm nay vẫn còn chịu đựng dưới chế độ độc tài trong khi đại đa số nhân loại sống trong tự do dân chủ không phải vì tài năng của giới lãnh đạo CS nhưng chỉ vì số người bị tẩy não còn quá đông.” (Chính Luận, trang 531)

Những gì người viết bài này nêu ra ở đây chỉ là một phần rất nhỏ và rất khái lược trong số 44 bài khảo luận chính trị trong tác phẩm “Chính Luận” dày 600 trang của Trần Trung Đạo.

Có thể nói mà không sợ bị thất thố rằng “Chính Luận” của Trần Trung Đạo là một trong những tác phẩm chuyên khảo về tình hình chính trị Việt Nam và mối quan hệ trở thành “hiểm họa” giữa Đảng CSVN và Đảng CSTC đầy đủ, sâu sắc và thực tế nhất mà người viết bài này đã từng đọc trong vòng mấy chục năm qua.

Tác phẩm “Chính Luận” có giá trị đặc thù không phải chỉ ở thẩm quyền kiến thức của tác giả, ở tính chính xác của tài liệu được trưng dẫn, ở những nhận định nghiêm túc, khách quan và sát hiện thực, mà còn ở tâm thức chân thành, thiết tha và xây dựng đối với tiền đồ của đất nước và dân tộc Việt Nam của tác giả nữa.

Trước tình hình bất an và nguy cơ mất nước của Việt Nam vì tham vọng bá quyền xâm lược của Trung Cộng, “Chính Luận” của Trần Trung Đạo là tài liệu quý giá cung cấp cho người đọc những điều cần biết về hiện tình Việt Nam, Trung Cộng và thế giới, cũng như con đường nào dẫn đến tương lai tươi sáng cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Xin chân thành cám ơn tác giả Trần Trung Đạo và xin trân trọng giới thiệu tác phẩm “Chính Luận” của Trần Trung Đạo đến tất cả bạn đọc. Sách đã được phát hành bởi công ty phát hành sách lớn nhất thế giới là Amazon.

Huỳnh Kim Quang

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

Họa sĩ Nguyễn Văn Nhớ: Đọc Thơ Trần Trung Đạo “Mỗi Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ”

doime-nguyenvannhoGiới thiệu: Về lại nhà ở Boston ngày mùng hai Tết. Trên bàn rất nhiều thư, sách báo trong đó có giai phẩm xuân của Oregon Thời Báo. Giai phầm in bài viết của Họa sĩ Nguyễn Văn Nhớ ở Oregon viết về bài thơ Mỗi Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ. Bên trong phong bì lớn còn có một danh thiếp rất đẹp của họa sĩ. Tôi gọi cám ơn. Trước đó, chúng tôi chưa có dịp quen biết, nói chuyện hay gặp gỡ nhau. Anh viết chỉ vì cảm xúc bài thơ và cảm mến những công việc tôi làm. Theo tiểu sử sưu tập từ internet, họa sĩ Nguyễn Văn Nhớ tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Huế 1969, nhập ngũ Khóa 6/69 SQTB Đồng Đế Nha Trang, làm thơ với bút hiệu Quách Nhân. Sau biến cố 30/4/1975 anh bị bắt và giam 6 năm trong tù “cải tạo” tại trại Ái tử- Bình điền, Thừa thiên. Năm 1995, họa sĩ và gia đình được định cư tại Mỹ theo diện HO. Từ đó anh tham gia đều đặn vào các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật qua các cuộc triển lãm tranh cá nhân cũng như nhóm, Việt cũng như Mỹ. Ngoài ra, anh tích cực yểm trợ các hoạt động đấu tranh nhân quyền tại Việt Nam. Sáng nay Họa sĩ Nguyễn Văn Nhớ email tôi bài viết và bức ảnh ký họa cho tựa đề. Cám ơn anh.

Mừng Xuân Giáp Ngọ
Đọc Thơ Trần Trung Đạo
Mỗi Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ

Họa sĩ Nguyễn Văn Nhớ

1

Thơ Văn của anh Trần Trung Đạo đa dạng, gồm các thể loại: Dịch- Kịch- Ký-Truyện-Tùy Bút- Nhận Xét Thơ- Tiểu Luận- Khảo Cứu Chính Trị.

Anh viết với một tấm lòng thương yêu đất nước nồng nàn, với tâm ý chân thành sâu sắc. Những tiểu luận, những khảo cứu chính trị của Trần Trung Đạo đã nói lên tội ác của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam. Hiện nay tuổi trẻ đấu tranh cho tự do dân chủ, nhân quyền ở trong nước rất tâm đắc những bài viết của anh. Ý tưởng của tác giả mang hy vọng đến cho tuổi trẻ Việt Nam, thúc đẩy hành động đấu tranh cho quyền sống của dân tộc.

Người viết không hiểu gọi anh thế nào cho đúng nghĩa bởi anh quá đa dạng. Thi sĩ, nhà văn, nhà viết chính luận, hay nhà hoạt động xã hội. Thật khó xác định, vì trong bất cứ lảnh vực nào anh cũng xuất sắc. Tấm lòng yêu thương dân tộc và đất nước chan chứa trong lòng anh và tràn ngập ở trong tất cả các lảnh vực mà anh đang theo đuổi.

Người viết chưa có duyên may gặp hay nói chuyện được với anh, chỉ biết và yêu mến anh qua thơ văn và những tiểu luận anh viết, những công việc xã hội anh làm, qua đó thấy được tấm lòng anh yêu thương da diết quê hương nước Việt, yêu thương mẹ cha, gia đình và bằng hữu.

Thơ anh hay vì nó đã ấp ủ, và dễ dàng giữ lại cảm xúc trong lòng người đọc. Anh đã viết trên 110 bài thơ trong thi phẩm Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười và những bài thơ khác. Tập thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, ngoài bài thơ cùng tên, còn có những bài thơ gắn liền với hành trình tỵ nạn của hơn hai triệu người Việt như Em Bé Việt Nam và Viên Sỏi, Người Con Gái Việt Nam Trên Đại Lộ Sri Ayutthaya v.v. được xuất bản lần đầu trên Interenet 1992 và tái bản nhiều lần sau đó.

Cảm xúc bởi thơ văn và tri ân đối với những việc anh làm cho quê hương đất nước. Nhân dịp Xuân về người viết mạn phép anh, xin được ghi lại những cảm xúc từ bài thơ:

Mỗi Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ.

2.
Xuân ở đây nặng chĩu tấm lòng, cùng tâm trạng của người con tha hương nhớ mẹ cha, nhớ mái nhà cũ nơi chôn nhau cắt rún. Nhớ thương người dân khốn khổ trên quê hương lưu đày. Lòng thi nhân đau như cắt, bởi hơn mười mấy năm trời muốn về thăm quê vẫn không về được. Hằng năm Xuân về Tết đến anh phải dối đi dối lại biết bao lần cùng mẹ. U uất quá vì nhớ thương mẹ trong những ngày Xuân nên anh làm thơ để giải toả niềm đau thương tột cùng.

Ngôn ngữ thơ của Trần Trung Đạo đầy nhạc tính, ẩn tàng tính thẩm mỹ và văn hoá sâu sắc, nên rung động lòng người một cách sâu xa .

Nhớ năm ngoái mẹ có lần đã hỏi
Về chưa con sao vẫn thấy chưa về
Con lại phải thêm một lần nói dối
Chờ sang năm con hứa sẽ về quê

Trên đây là bốn câu đầu của bài thơ: Mỗi Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ. Bài thơ có vần điệu, mỗi câu 8 chữ, mỗi khổ 4 câu. Tất cả 8 khổ.

Tha hương, Tết về lòng quặn đau vì nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ quê hương mà không về được. Những giây phút chạnh lòng đó, đôi lúc nghĩ về Thế Lữ :

“ Rủ áo phong sương trên gác trọ.
Lặng nhìn thiên hạ đón Xuân sang”.

Đúng không gặp được mẹ cha và gia đình trong ngày Tết là thật não nùng. Bởi người đời hay nói: Về quê ăn Tết. Ừ! mà tại sao phải về quê. Có thể, đó là về với mẹ. Về với cội nguồn. Cả một năm làm lụng vất vả, nhất là xa nhà sống một mình trơ trọi để kiếm kế sinh nhai. Tết về mong một chút thảnh thơi, quên đi bao nỗi nhọc nhằn của một năm tất bật vất vả để trông mong gặp mẹ, gặp lại mái nhà xưa, sum họp gia đình. Xuân về, đất trời cây cỏ, hoa Xuân đâm chồi nẫy lộc. Tâm thức con người càng phấn chấn, càng mang hy vọng mới.

Tết tha hương buồn lắm. Tết về, mong ước của mẹ là gặp con. Mẹ muốn trông thấy mặt con, cầm tay con, ôm ấp con, nếu không gặp được con, mùa Xuân chẳng có nghĩa lý gì đối với mẹ. Con ơi! về chưa con? Sao chưa thấy con về.

Con không thể nào về được. Đành lòng phải nói dối cùng mẹ. Giọng thơ Trần Trung Đạo thủ thỉ tâm tình, chân chất, mộc mạc.

Con chưa thể về vì cuộc sống quá tất bật. Nhịp sống Mỹ dưới áp lực đè nặng, cuốn hút con vào trục quay xã hội.

Nếu chẳng phải vì thay tờ lịch mới
Chắc là con không biết có Xuân sang
Ðời nước Mỹ tháng ngày trôi qua chóng
Chưa kịp xoay đã hết một năm tròn

Nguồn thơ anh là những rung động đau đớn, xót xa, tất cả được đúc kết qua tâm hồn thơ đầy tình tự gia đình, dân tộc. Ngôn ngữ thơ anh giản dị, có vần điệu, ngắn gọn súc tích, nhiều ý cô đọng gây ra nhạc và tạo ra hình ảnh, nên Nhạc sĩ Nhật Ngân đã phổ nhạc Mỗi Mùa Xuân thêm Một Lần Dối Mẹ. Không về gặp được mẹ, tâm trạng anh cứ băn khoăn hoài. Cảm giác như có tội.

Bỗng sực nhớ đến lời ai đã nhắc
Lại lo tìm câu nói dối cho xong
Mười một mùa xuân miệt mài đất khách
Con dối đi dối lại biết bao lần

Tại sao phải dối mẹ. Tại sao lại không về. Nếu những ai đã theo dõi những sinh hoạt của anh, đọc những bài tiểu luận chính trị sắc bén anh gửi về cho bạo quyền cộng sản, cũng như nói với tuổi trẻ Việt Nam ở trong nước, những bài đăng trên các trang mạng” lề dân”. Và khi hiểu những suy tư anh đã viết, thì mới hiểu ra là tại sao anh lại khó về. Đúng! Anh thật là khó về quê hương. Anh coi như mình chấp nhận thân phận lưu vong. Đau xót lắm ! Anh viết nhiều về tiểu luận chính trị, nhưng có thể ghi xuống đây một ít, như: Suy Nghĩ Tháng Tư, Ba Mươi Năm Nhìn Lại Chiến Tranh, Sự Im Lặng Của Biển, Tuổi Trẻ Và Lý Tưởng Phụng Sự Xã Hội, “Con Có Một Tổ Quốc”, Số Phận Một Loài Chim, Nhìn Tấm Bia Tưởng Niệm Ở Galang. Suy Nghĩ Về Hòa Giải v.v. Ngoài ra, Tâm bút Trần Trung Đạo còn gồm những bài thuyết trình của tác giả về các chủ đề văn hóa, tuổi trẻ và nhân quyền tại các cộng đồng, hội nghị, đại học, tổng hội sinh viên Việt Nam, trại hè thanh niên sinh viên học sinh.

Tư tưởng chống cộng của Trần Trung Đạo thâm sâu như thế, chắc hẳn anh cũng không mong muốn trở về với quê hương một khi bạo quyền cộng sản vẫn còn đó. Thương mẹ quá, nhưng làm sao mẹ hiểu lòng con khi con nói dối mẹ.

Người viết này cũng đã bao lần dối mẹ. Nhớ lại, vào thời điểm chiến tranh khốc liệt nhất, khoảng năm 1972, người viết là lính đang làm việc ở Văn phòng Bộ Tư lệnh SĐ2/BB,Chu Lai KBC 4277, ở đơn vị không tác chiến. Nhưng sau đó ra tiểu đoàn tác chiến ở Ba Tơ, Quảng Ngãi. Nghĩ đến mẹ ở nhà hằng đêm thường hay cầu nguyện cho con, bởi lo âu con mình chết trận, nên người viết đã giấu không cho mẹ biết là mình ra đơn vị tác chiến, và đã viết sẵn một số thư bỏ sẵn vào phong bì, ghi địa chỉ nơi gửi vẫn như cũ là KBC 4277 không tác chiến, mỗi tháng nhờ bạn gửi một lần về mẹ, cho mẹ bớt lo âu. Nhưng giống như Trần Trung Đạo, càng giấu quanh để dối mẹ, lòng mình càng ray rức khổ đau.

Ngôn ngữ thơ Trần Trung Đạo ngó như thường bởi tính giản dị, chân thật. Nhưng tinh ý mới thấy ở đó ngôn ngữ đã được tinh luyện, nên tạo được những câu thơ truyền được cảm xúc cô đọng nhất vào lòng người. Truyền đến người đọc tính chân thiện mỹ. Cho nên ngôn ngữ thi ca dù thế nào cũng cần thể hiện tính văn hóa cao mới truyền được những gì rung động sâu thẳm đến tâm hồn người đọc. Xa quê hương đất nước, tâm trạng luôn luôn bồi hồi, xốn xang, nhung nhớ. Đọc thơ Tết, với cảm giác xót xa bởi tha phương, nên thường hay hoài niệm về cội nguồn. Mỗi người chúng ta như cất giấu những điều riêng tư trong lòng, đến muà Xuân như muốn đâm chồi, xót xa, ray rức.

Lại nhớ về căn nhà cũ, nhớ cây mai nhỏ người cha đã trồng, không biết có còn sống hay đã chết theo cha.

Căn nhà cũ chắc năm nay mục nát
Tiền gởi về không đủ mẹ nuôi thân
Con gái lớn theo chồng đi nơi khác
Con trai đầu biền biệt chốn xa xăm

Cây mai nhỏ ba đã trồng năm trước
Mấy xuân rồi có nở nụ nào không
Hay đã chết theo ba từ dạo ấy
Ðể mùa Xuân hoa trắng nở trong lòng

Có thể nói, lối diễn đạt, ngôn ngữ thơ Trần Trung Đạo vừa có đặc tính bình dân vừa bác học. Hay nói rõ hơn ngôn ngữ thơ anh chân thành, giản dị, mộc mạc như đời thường, nhưng cũng vừa rung động sâu xa khi cảm thụ cao ở giới trí thức. Khi nghe: Hay đã chết theo ba từ dạo ấy. Để muà Xuân hoa trắng nở trong lòng. Giới bình dân có thể ngâm nga, tâm tình thủ thỉ với nhau. Đọc lên ai cũng hiểu. Ngó như thường nhưng không thường, bởi càng đọc càng thấm thía, nếu cảm thụ càng cao thì sự rung động càng sâu xa, càng lớn. Đọc thơ Trần Trung Đạo, tôi liên tưởng đến ngôn ngữ Truyện Kiều của Thi hào Nguyễn Du. Giới bình dân thường thích ngâm nga Truyện Kiều để khuây khỏa, nhưng giới bác học càng thích Kiều vì ở đó sâu sắc. Giá trị văn chương cao, càng đọc càng say mê thích thú bởi tính nghệ thuật diễn đạt sâu sắc. Và biết đâu, đặc tính vừa bình dân vừa bác học đó đã góp phần làm nên bất tử của Truyện Kiều. Và thi hào Nguyễn Du đã được Hội Đồng Hoà Bình Thế Giới, Liên Hiệp Quốc vinh danh là một Danh Nhân Văn Hóa Của Nhân Lọai. Vinh hạnh thay cho dân tộc Việt Nam.

Xin đọc tiếp những câu sau đây để thấy ngôn ngữ thơ vừa bình dân vừa bác học ở Trần Trung Đạo. Năm mới nghĩ về mẹ già thêm tuổi, càng làm nỗi buồn mình mênh mông, nỗi nhớ thương mẹ rưng rưng trong lòng.

Năm mới đến mẹ già thêm một tuổi
Tóc bạc nhiều má hóp răng long
Sao giấc ngủ chập chờn con thấy mẹ
Người đàn bà đẹp nhất trần gian.

Tóc bạc nhiều má hóp răng long, nghe như ca dao tục ngữ, mà người thường hay nói. Nhưng, Sao giấc ngủ chập chờn con thấy mẹ. Người đàn bà đẹp nhất trần gian. Mang tính gợi hình, gợi cảm, mang ý nghĩa cao đẹp.

Chinh phục được cảm xúc người đọc là thành công của bài thơ. Trần Trung Đạo đã đạt điều đó. Thơ anh chân thật, giản dị nhưng rung động sâu xa, bởi nhờ ngôn ngữ có linh hồn. Thơ anh có tính luận lý học cao. Ngôn ngữ và tâm tình trong thơ anh có mối tương quan chặt chẽ, sâu sắc với đời sống.

Bài thơ Trần Trung Đạo mang âm hưởng của nhạc khúc, nên nhạc sĩ Nhật Ngân đã phổ thành ca khúc. Và ở đó cũng có thể liên tưởng đến bức họa sinh động, nhờ những rung cảm như mới, nhưng đậm nét văn hóa dân gian Việt Nam; cho nên khi đọc bài thơ người đọc cũng dễ bắt gặp về hình tượng, màu sắc, sự chuyển động, tính thẩm mỹ. Tất cả đã mang nhiều tính họa trong thơ anh. Người đọc tinh tường, cảm thụ cao, có kinh nghiệm vẽ, sẽ vẽ được từ thơ anh thành tranh nghệ thuật qua hình thức cổ điển hoặc có hình dạng, ấn tượng hay siêu thực.

Hạnh phúc khi đọc thơ là tiếp tục sáng tạo để thưởng thức, tìm được nghĩa và những gì ẩn tàng đằng sau tứ thơ và ý thơ mà tác giả đôi khi cố ý làm khuất mờ, che dấu ở trong đó. Và hạnh phúc khi thấy mình đồng cảm với bài thơ. Thi tâm của người đọc nhập vào thi tâm cuả tác giả. Đọc thơ Trần Trung Đạo chúng ta dễ chan hòa với cảm giác đó.

Thơ hay cần có tính tương quan, là tính quan hệ với nhau. Bài thơ mất sự tương quan với đời sống thì bài thơ sẽ dễ chết, dễ quên. Hồn tác giả nhập vào thơ, chan hoà vào đời sống, vào đất trời. Ngay trong cuộc sống, không quan hệ với nhau làm sao mà sống được. Buồn lắm! Nhà thơ có thể ẩn mình cô độc. Nhưng bài thơ, đứa con tinh thần ra đời, tiếng khóc, tiếng cười của nó cần có người nghe. Cần nỗi cảm thông. Bài thơ cần có tri âm. Không tri âm thơ sống với ai. Bài thơ vừa làm xong nó cần có tri âm để chia xẻ. Tôi nghĩ: Ngôn ngữ, kết cấu, ý tưởng của đời sống bài thơ cũng như cơ thể sống của con người, khi những phần cơ thể chấm dứt mối tương quan, coi như chấm dứt cuộc sống.

Tác giả có thể sẽ không còn. Người đời có thể quên tác giả, nhưng bài thơ hay, sẽ còn lưu lại mãi trong lòng người, và sống mãi trong mối tương quan với nhân gian vũ trụ.

Năm mới đến Trần Trung Đạo nghĩ đến tuổi mẹ, tuổi đất nước, tuổi của mình. Người đọc cũng dễ đồng cảm, bởi tất cả điều đó cũng đè nặng thêm lên trên vai của những người con xa xứ.

Năm mới đến con cũng già thêm tuổi
Xa mẹ hiền một tuổi nặng bằng hai
Tuổi nước Việt chất chồng lên quá khứ
Tuổi xứ người quần quật với tương lai

3
Qua Thơ Văn và những công việc của anh Trần Trung Đạo đang làm cho dân cho nước. Người viết cảm xúc và tri ân. Mặc dầu chưa gặp, chưa biết, chưa quen với anh. Nhưng khi đọc Mỗi Muà Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ, lòng mình dâng lên với bao nỗi cảm xúc. Biết mình không phải nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhưng Xuân về cùng xót xa, mong chia xẻ buồn vui với những mảnh đời lưu vong, nên viết xuống những tâm tình, xin được gửi về anh và gia đình.

Cám ơn thơ anh đã cho tôi hiểu thêm một con người yêu nước.

Cầu mong núi sông đất Việt được vuông tròn như bốn câu thơ cuối cùng của anh vẫn hằng ấp ủ.

Con chẳng biết nói thế nào mẹ hiểu
Chẳng còn ai hiểu hết chuyện đời con
Non nước đó vẫn còn đầy dâu biển
Núi sông đây sao giữ được vuông tròn.

Cùng chúc nhau Một Mùa Xuân An Lành, Thịnh vượng.
Mong ngày hội ngộ trên quê hương đất Việt. Dẫu hôm nay quê hương còn nhiều dâu bể. Nhưng tất cả 90 triệu người con Mẹ Việt Nam mãi mãi vững tin: Nước Việt sẽ vuông tròn.

Họa sĩ Nguyễn Văn Nhớ
Portland . Cuối Đông 2013.

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

Đỗ Trường: Đọc “Dưới bóng đa chùa Viên Giác” như có nhạc và thơ trong văn xuôi Trần Trung Đạo

dbdcvg1Trong một bài viết gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Đức cho rằng, Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo là ba cây bút nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Tôi không thể phản đối đánh giá trên của ông. Nhưng tôi nghĩ, nếu như đọc và nghiên cứu Trần Trung Đạo, chắc chắn Nguyễn Hoàng Đức sẽ phải viết tiếp: Ngoài Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo, chúng ta còn có một Trần Trung Đạo thơ, một Trần Trung Đạo văn, và cõng trên lưng cả mảng phê bình nghị luận xã hội.

Thật vậy, công việc chủ yếu của một kỹ sư điện toán đã vắt kiệt sức, nhưng với Trần Trung Đạo, thơ văn, nghiên cứu lại là hơi thở, là bữa ăn hàng ngày. Có thể nói, Trần Trung Đạo không sống bằng nghề viết, sự viết lách chỉ là giải tỏa cái đau và nỗi nhớ của người xa quê. Ông chỉ cầm bút, khi con tim chính mình rung lên, thôi thúc và mách bảo. Do vậy, thể loại nào, mảng nào, ông cũng để lại những tác phẩm đóng đinh vào lòng người. Và như một lần tôi đã viết: Nếu không có biến cố 30-4-1975 và không có những con thuyền lá tre kia, cố lao đi để tìm sự sống thật mong manh, trong cái mênh mông của biển cả, giông tố của đất trời, thì chúng ta sẽ không có một nhà thơ đa tài Trần Trung Đạo hôm nay. Những cơn mưa nguồn, gió bể ấy là những nhát búa gõ vào hồn thơ anh, rồi như tiếng chuông ngân lên từ cõi lòng, vọng về bên kia bờ đại dương.

Vâng! Cứ tưởng rằng, thơ sẽ là cơn gió hè, xoa dịu những cái đau và nỗi nhớ. Nhưng vết thương dài đằng đẳng đó, dường như ngày càng khắc sâu thêm. Khi nỗi đau đó, hòa vào cái đau chung của cả dân tộc, thì những cơn mưa nguồn gió bể, không chỉ còn là những nhát búa gõ vào hồn thơ nữa, mà buộc nó phải gõ tiếp, phải đẩy cái đau tận cùng đó đến với trang sách, hồn văn Trần Trung Đạo.

Hôm rồi, nhà thơ Trần Trung Đạo, gửi tặng tôi tập sách “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” viết chung với Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng chùa Viên Giác, Đức Quốc. Có người cho rằng, đây là cuốn tự truyện, hồi ký đơn thuần. Tôi hơi nghĩ khác một chút, ngoài những tự truyện, hồi ký cá nhân, hồn cốt của cuốn sách lại nằm trong khung cảnh tang thương nhất của đất nước gắn với thân phận con người, vào những thập niên sáu, bảy mươi của thế kỷ trước và những thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam trong thời chiến loạn.

Tôi quen, đọc Hòa Thượng Thích Như Điển cũng đã mấy chục năm. Từ những ngày đầu Hòa Thượng xây dựng và trụ trì chùa Viên Giác Hannover, kiêm phụ trách tờ báo, nơi tôi thường xuyên gửi bài. Phải nói, Hòa Thượng Thích Như Điển là người được đào tạo, tu luyện cơ bản, từ trong cho đến ngoài nước. Do vậy, Thượng Tọa sử dụng được nhiều sinh ngữ, và có kiến thức uyên bác, thâm hậu. Tuy học, hành đạo chủ yếu ở nước ngoài, nhưng Thượng Tọa vẫn giữ cốt cách giản dị, mộc mạc khi viết. Cái lời văn chầm chậm, đậm đặc từ ngữ địa phương ấy, nếu như không biết trước, chắc chắn tôi nghĩ, tác giả hiện đang trụ trì, hành đạo một ngôi chùa nào đó ở xứ Quảng. Là người xuất gia, sống xa Tổ Quốc gần hết cả cuộc đời, nhưng Thượng Tọa vẫn giành nhiều trang viết về quê hương, thời thế, tình người. Tập “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” là một trong mấy chục đầu sách viết về đạo và đời của Thượng Tọa. Nó vạch trần cái bẩn thỉu, đê hèn của chính trị và con người làm chính trị, dù là thời nào chế độ nào, Phật Giáo cũng là một trong những nạn nhân đau đớn và tàn bạo nhất. Hình ảnh người lính quốc gia, thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa, theo lệnh của ông Nguyễn Cao Kỳ, đã dúi truyền đơn, lựu đạn vào chùa, sau đó ập vào khám xét, nhằm cản trở việc đem bàn thờ Phật ra đường. Đó là hành động tận cùng của sự bỉ ổi. Nó làm tôi liên tưởng đến hai cái bao cao su cũ và vụ án Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ thời nay:

“…Bên ngoài chùa từng toán lính, từng toán lính nhảy qua cổng Tam quan vào chùa lục soát khắp nơi, không chừa một chỗ nào. Ho là lính quốc gia thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa do chỉ thị của ông Kỳ vào tất cả các chùa Miền Trung bắt bớ, ngăn cản việc đem bàn thờ Phật ra đường theo lời chỉ đạo của Thượng Tọa Thích Trí Quang lúc bấy giờ.

Tôi đứng quan sát thật kỹ, đầu tiên họ nhúi cái gì đó vào lư hương chính giữa chánh điện và sau đó họ từ phía sau nhà Tổ mang một bao tời to tướng ra phía trước sân hô lớn lên, có truyền đơn. Tiếp đến họ vào những lư hương họ đào, bới mang ra nhiều lựu đạn. Đó là tang chứng trình diễn “gián điệp“ một cách thật táo bạo và lố lăng. Đứa con nít lên năm cũng có thể biết được, chớ đừng nói chuyện người lớn…” (Trang 43, sách đã dẫn)

Là một nạn nhân của sự bắt bớ, tù đày và là người trực tiếp chứng kiến sự đàn áp Phật giáo (năm 1966) nên Thượng Tọa lý giải, chỉ có minh bạch, đức tin, tình người thì chính quyền mới thu phục được nhân tâm con người. Sự ép buộc Tôn Giáo làm công cụ, phục vụ cho một thể chế, đảng phái là một tội ác, là nguyên nhân dẫn đến cảnh tranh đấu, nồi da xáo thịt:

“…Đa phần thuở ấy và bây giờ nhiều người vẫn nghi Hòa Thượng Thích Trí Quang là cộng sản, nhưng tôi lại nghĩ khác. Người cộng sản có thể đội lốt một tu sĩ để hoạt động, chớ một người tu sĩ chân chính đã tin luân hồi, nhân quả và nghiệp báo không thể là một người cộng sản được. Ranh giới giữa quốc cộng là chỗ ấy. Thật sự lúc ấy những người lãnh đạo quốc gia miền Nam chẳng chinh phục được lương tâm của người dân, trong đó có cả những vị lãnh đạo phật giáo, ngược lại dồn nén họ và đẩy họ vào thế bí đứng về hàng ngũ của phía bên kia. Thế nhưng điều đó họ đã lầm, cho đến sau nầy, sau ngày 30-4-1975 nhiều vị tướng tá miền Nam Việt Nam để lộ nguyên hình mình là những người cộng nằm vùng, chớ còn Phật Giáo vẫn là Phật Giáo và những người lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, như Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Hòa Thượng Thích Tuệ Sĩ v.v… cho đến hôm nay (2005) sau 30 năm người cộng sản thống trị miền Nam, họ vẫn là những người bị tù tội… Một Tôn giáo phục vụ vụ đúng nghĩa cho tín đồ, không làm công cụ cho một chế thể độc tài, tham nhũng như vậy được. Trước năm 1975 Giáo Hội đấu tranh cho một đất nước Việt Nam như thế, thì sau năm 1975 cũng vì mục đích ấy mà thôi…” (Trang 45 và 46 sách đã dẫn).

Ai đã bắn viên pháo đó? Một viên pháo đã bắn nát tuổi thơ Trần Trung Đạo. Câu hỏi này, dường như cả tuổi thơ ông và thế hệ ông, không tìm được câu trả lời. Chỉ đến “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” dường như Trần Trung Đạo mới có lời giải đáp.

Làng tơ lụa Mã Châu, Duy Xuyên quê ông nằm bên nhánh sông Thu Bồn thơ mộng, cũng là nơi phân tranh giữa lính Cộng hòa, Nam Hàn với quân chủ lực Mặt Trận Giải Phóng. Hận thù từ đâu đến đang cày nát mảnh đất nơi đây? Mảnh pháo ấy của Nga, của Tầu hay của người Mỹ xa lạ kia, đã găm vào trái tim cha mẹ và những người dân vô tội quê ông?

“…Ai đã bắn viên pháo đó? Năm 13 tuổi, trên những chiếc ghế đá bên bờ sông Hàn, bao nhiêu lần tôi đã nhìn xuống đáy sông sâu và hỏi như thế. Có lần tôi đã tìm về làng cũ, không phải chỉ để viếng thăm mà để tìm những mảnh pháo còn ghim đâu đó quanh vườn. Tôi muốn biết ai đã làm ra nó”… (Sách đã dẫn trang 187)

Cũng như hàng trăm hàng ngàn trẻ mồ côi trong chiến tranh, Trần Trung Đạo phải lặn ngụp tuổi thơ trên những con phố, hè đường. Đất nước chẳng nơi nào bình yên. Có lẽ, chỉ còn duy nhất, cây đa mái chùa xơ xác là niềm hy vọng, là nơi cứu rỗi chở che cuối cùng, tâm hồn cũng như thân xác con người. Và nếu như không có tiếng chuông chiều thuở ấy, đưa cậu bé 13 tuổi về trú ngụ nơi cửa Phật, thì chắc chắn cuộc đời Trần Trung Đạo sẽ có bước ngoặt khác.

Nhắc đến Nguyễn Cao Kỳ, bao giờ tôi cũng nghĩ đến những ông Thủ Tướng, Tổng Thống trên sân khấu hề chèo. Một ông tướng thời chiến, trước bàn dân thiên hạ, lái trực thăng trình diễn để tán gái, đưa đón bồ bịch, trong khi dân chúng đang đói rách, tan tác chạy loạn. Hành động kém tri thức, kệch cỡm đó, khác gì ca sỹ gào Đàm Vĩnh Hưng đấu môi ông nhà sư mất nết, trên sân khấu, thời nay. Ở thời điểm đó, trẻ mồ côi như Trần Trung Đạo, nếu như bắt gặp người lãnh đạo cộng sản, chắc chắn không phải họ đang cỡi máy bay đi tán gái, mà họ dép râu, áo vá như Trần Trung Đạo. Rồi họ vẽ ra viễn cảnh của tương lai, mà nhà thơ Chế Lan Viên sau này gọi là bánh vẽ. Một thứ bánh tất nhiên là không có thật, nhưng mới đầu nghe, có lẽ ai cũng phải thích, phải theo. Thật vậy, những người lãnh đạo cộng sản làm dân vận giỏi hơn lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa. Nên tôi nghĩ, trong trận chiến vừa qua, cái thua trước nhất thuộc về chính trị, dân vận của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Một con người kém hiểu biết chính trị như Nguyễn Cao Kỳ lại nắm vận mạng của cả một quốc gia, thật là một điều khó hiểu. Dù Miền Nam lúc đó không thiếu người tài.

Có một điều lý thú, nếu như “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” không được chia làm hai phần, bởi hai tác giả viết, thì người đọc cũng dễ dàng nhận ra, hai cách hành văn, sử dụng từ ngữ của Thượng Tọa Thích Như Điển và nhà thơ Trần Trung Đạo hoàn toàn đối nghịch nhau. Nếu văn của Thượng Tọa chậm, mộc mạc bao nhiêu thì lời văn của Trần Trung Đạo nhanh thoát, trữ tình, đầy hình ảnh tượng trưng bấy nhiêu. Cái chất trữ tình, chất thơ ấy được lằn sâu trong từng câu, từng đoạn luyến láy, trầm bổng, làm cho lời văn êm dịu đi vào lòng người, tưởng như đang nghe một bản nhạc buồn vậy:

“…Tôi thường nằm hàng giờ lắng nghe tiếng lá rung xào xạc, hồn đuổi theo những ước mơ riêng tư của lứa tuổi đang bắt đầu mơ mộng. Tôi mơ về một mái nhà ấm cúng. Một gia đình. Một người chị. Một đứa em. Một người bạn. Một chiếc xe đạp. Một thôn xóm thanh bình. Tôi mơ thấy cha tôi về. Vẫn mặc chiếc áo cánh đen như ông thường mặc. Vẫn giọng hát bộ điệu Nam Ai buồn não ruột mỗi đêm trong căn nhà tranh nhỏ. Vẫn hình ảnh của người thợ dệt vải nghèo nàn ở làng Mã Châu, mỗi ngày dày thêm những sợi buồn phiền vào cuộc đời vốn đã nhiều cay đắng của mình…” (sách đã dẫn trang 236) …“

Là một nhà thơ, nên cách sử dụng từ ngữ của Trần Trung Đạo chắt lọc, ngắn gọn súc tích. Đọc đoạn văn dưới đây, tôi cứ ngỡ mình đang đọc một bài thơ hay trong tập thơ hay. Đọc lên ta không khỏi bùi ngùi xót xa cho thân phận những đứa trẻ côi cút nói riêng và thân phận con người nói chung trong chiến tranh:

“…Cô tôi có vẻ vui hơn trong những lúc tôi về. Biết tôi suốt tháng ăn chay nên dù rất nghèo, cô cũng ráng mua sắm thêm chút cá thịt cho bữa ăn. Cô thức khuya hơn, dặn dò tôi hằng trăm việc. Cố gắng nhịn nhục. Cố gắng chịu đựng. Cố gắng học hành. Cô hỏi thăm từng việc lớn nhỏ trong chùa tôi đang tá túc.

– Bà Chín có còn chửi mắng con không?
– Không, bà Chín chết rồi.
– Sao vậy?
– Xe tông chết.
– Có ai đánh con không?
– Không.
– Có ai bắt con làm chuyện gì nặng nề không?
– Không.
– Thầy có biểu con đi tu không?
– Có, nhưng không phải thầy Viên Giác.
– Thế ai biểu con?
– Thầy Giải Nguyên.
– Thầy Giải Nguyên là ai?
– Đệ tử của thầy Viên Giác.
– Con trả lời thầy Giải Nguyên sao?
– Con nói con không muốn đi tu.
– Thầy nói gì thêm?
– Thầy nói đi tu sẽ được các thầy lo lắng ăn học, mai mốt lớn sẽ được đi Huề hay Sài Gòn học thêm. Không đi tu chẳng lẽ ở trong chùa này hoài hay sao. Chùa chỉ dành cho người đi tu thôi, đâu có thể nuôi con hoài như vậy được.
– Thế con trả lời sao?
– Con không biết trả lời sao vì không biết nếu thầy đuổi sẽ đi đâu, nhưng con nhất định không đi tu.
– Thầy hay hỏi thế không hay chỉ hỏi một lần?
– Nhiều lần nhưng tháng này không hỏi nữa vì con đã bạch với thầy là con nhất định không đi tu.
– Con đừng bỏ đi. Nếu thầy đuổi thì về Đà Nẵng ở với cô.
– Nhưng ở Đà Nẵng với cô thì chỉ đi bán cà rem hay đánh giày chứ làm gì có trường công để học.
– Ừ thì lúc đó hãy tính.
– Con phải đi học.
– Cô biết, nhưng lúc đó hãy tính, giờ còn đi học được thì phải lo học.
– Dạ.

Hai cô cháu tôi thường ngồi như thế rất lâu trong căn nhà nghèo nàn phía trong Ngã Ba Huế. Một đứa bé bất hạnh ngồi bên người đàn bà bất hạnh trong một đất nước bất hạnh. Thỉnh thoảng cô đưa bàn tay gầy guộc cầm lấy tay tôi sợ rằng đứa cháu trai của cô sẽ khóc. Tôi không khóc. Cô không khóc. Không có hay vì không ai còn giọt nước mắt nào để nhỏ trong những đêm tôi về thăm cô. Nếu có chăng chỉ là những giọt nước mưa từ buổi chiều còn đọng trên mái tranh nghèo, như những nốt nhạc buồn, gõ từng nhịp đều vào chiếc lu hứng nước ngoài sân.” (Sách đã dẫn trang 233-234)

Lấy cảnh vật, tĩnh vật để miêu tả, bộc lộ tâm trạng cũng như gửi tâm sự của mình vào đó, tuy không mới, nhưng để đạt đến câu văn, đoạn văn truyền cảm, đầy cảm xúc của Trần Trung Đạo, quả thật là không có nhiều người viết được hay đến như vậy:

“…Những đêm khuya im vắng tôi ngồi dưới hiên chùa ngắm hàng vạn vì sao mọc kín vòm trời. Một cảm giác lạ kỳ, vừa ấm cúng nhưng cũng vừa cô độc, vừa rất thực nhưng cũng vừa hư huyễn thường đến với tôi trong những đêm khuya khoắt như thế. Tôi chọn một vì sao nhỏ, lẻ loi và xa xôi nhất trong dãi thiên hà bát ngát để làm bạn với mình, để chia xẻ những buồn vui bắt gặp trong ngày. Tôi tâm sự với sao những chuyện thầm kín nhất. Những chuyện tôi chưa từng nói với ai và, dù tôi muốn, cũng chẳng có ai gần gũi để cùng san sẻ. Như thầy Giải Nguyên có lần đã cảnh giác, nếu không đi tu, sớm hay muộn, tôi cũng phải ra khỏi nơi nầy. Tôi biết. Tôi biết. Dù thế gian này là giả tạo và mộng tưởng, dù khoảnh khắc tôi đang sống là vô thường hay hữu thể, thì con đường dài sâu hun hút phía bên kia cổng tam quan chùa Viên Giác vẫn là con đường có thực. Con đường đầy gai góc kia, một ngày không xa, trong cuộc đời này, tôi phải dẫm lên, tôi phải đi qua…” (Trang 236-sách đã dẫn)

Theo nhà văn Lương Thư Trung, mỗi đoạn văn trong “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” là một câu chuyện chan chứa thiền vị thâm trầm. Vâng! Đúng vậy, cuộc chiến đi qua đã lâu, lòng người phân ly, chỉ có tình người mới xóa đi được ranh giới của con sông Gianh ấy. Mái Chùa và tiếng chuông Thánh Đường mãi mãi là nơi nuôi dưỡng, chở che những mảnh đời rách nát. Đây cũng là thông điệp chính của tập sách, Trần Trung Đạo muốn gửi đến người đọc.

“…Những con sông Gianh trong lòng người phải cần được lấp lại. Lấp lại bằng cảm thông chứ không phải bằng những bãi xương khô, những cánh đồng nhuộm máu. Người Việt Nam cần được nghe những tiếng chuông chùa nhẹ đưa, tương tự như cũng cần được nghe tiếng chuông nhà thờ thánh thoát. Hãy trao cho các thế hệ tương lai Việt Nam một cơ hội để được sống trong hòa thuận, bao dung, tha thứ. Tại sao phải mang theo gánh nặng của phân hóa, rẽ chia, hoài nghi, mặc cảm, trong lúc dân tộc Việt Nam đang cần một đôi cánh để bay cao, để vượt qua ao hồ quá khứ, để mong đuổi kịp nhân loại, đã nhiều thế kỷ, tiến xa về phía trước…” (sách đã dẫn trang 232)

Với tôi, “Đôi Mắt” là truyện ngắn hay nhất của Trần Trung Đạo. Và có lẽ, cũng là một trong những truyện ngắn hay nhất của văn chương Việt, viết về đề tài vượt biên và tù tội. Câu chuyện đơn giản, không đao to búa lớn, không có những tình tiết ly kỳ. Nhưng nó lôi cuốn người đọc từ đầu đến dòng cuối cùng. Vì ngoài cái tấm lòng cao thượng của một cô gái giang hồ với chàng sinh viên can tội vượt biên cùng vào tù, nó được dẫn dắt bởi nghệ thuật dẫn chuyện của tác giả. Nếu người viết không có tài, câu chuyện này trở thành nhạt phèo. Quả đúng, như ai đó đã nói, từ hay đến dở có khoảng cách rất gần. Chúng ta đọc lại đoạn kết của truyện ngắn này, để thấy chất thơ, chất trữ tình trong văn xuôi Trần Trung Đạo nhé:

“…Hoàn cảnh cô ấy rất đáng thương nhưng không phải cô ta vì bán thuốc Tây mà bị bắt đâu”. Dì muốn nói tiếp nhưng như chợt biết mình vừa lỡ lời nên dừng lại, khoát tay: “Thôi, sắp hết xe về Sài Gòn rồi. Cậu về đi. Chúc cậu bình an trong lần đi tới. Tôi tin Bích Vân sẽ không bao giờ gặp cậu, dù cậu có ngồi đây suốt đêm nay, hay đi tìm khắp thị xã cũng thế thôi. Hai cô cậu chẳng ai có lỗi gì. Cũng vì hoàn cảnh thôi. Nếu là cậu, chắc cậu cũng không có chọn lựa nào khác. Gặp nhau để làm chi. Cậu chắc hiểu ý tôi”. Tôi đứng dậy trả tiền ly nước. Dì Năm không nhận. Bà dúi tờ giấy bạc vào tay tôi, ôn tồn: “Cậu giữ để uống nước dọc đường”.

Chuyến xe đò chót về Sài Gòn trong khi trời đã tối. Trên bầu trời đầy mây đen, bỗng xuất hiện lên hai ngôi sao rất xa và rất nhỏ. Vâng, đôi mắt Bích Vân, đôi mắt người con gái đáng thương, đáng yêu đang nhìn xuống tôi. Tôi mỉm cười nhìn sâu vào đôi mắt nàng và thầm hát như chỉ để mỗi nàng nghe: “Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó, để hái dâng người một đóa đẫm tương tư”.

Không chỉ những truyện ngắn, những bài tùy bút văn chương, ngay cả những bài chính luận, văn của Trần Trung Đạo cũng đầy ắp trữ tình, chất thơ ở trong đó. Do vậy, người đọc cảm thấy nhẹ nhàng, không khô khan cứng nhắc. “Việt Nam Tôi Đâu- Câu Hỏi Của Nhiều Thế Hệ” là một trong gần một trăm bài luận của ông, khơi dậy tinh thần dân tộc trước thảm họa Trung Quốc, đã chứng minh điều này:

“…Lịch sử không phải là một ngôi miếu để thờ cúng nhưng là một đời sống luôn đổi mới. Truyền thống chỉ là một thói quen lỗi thời nếu truyền thống không được hiện đại hóa. Angkor Wat, Angkor Thom nguy nga, đồ sộ nhưng không cứu được một phần tư dân tộc Khờ Me khỏi bàn tay Pol Pot. Tương tự, Ấn Độ, một dân tộc có nền văn minh lâu đời nhất nhân loại và trải qua các thời đại hoàng kim từ Ashoka đến Gupta, cũng đã chịu đựng hàng loạt ngoại xâm từ Mông Cổ, Hồi Giáo và thực dân Anh kéo dài suốt 600 năm.

Việt Nam cũng thế. Nếu chỉ biết tôn vinh quá khứ và làm ngơ trước hiểm họa Trung Quốc hôm nay, rồi lịch sử dân tộc với những chiến công hiển hách của các thời Ngô, Đinh, Lý, Trần cũng sẽ chỉ là những tấm bia trong một ngôi đền cổ. Hãy tưởng tượng, nếu tất cả chúng ta đều im lặng, làm ngơ, chịu nhục trước hiểm họa mất nước, rồi bốn ngàn năm nữa, những đứa trẻ dòng Việt tộc, đi ngang qua di tích đền Hùng, sẽ căm hận biết bao khi nghĩ về tổ tiên nhu nhược của chúng vào bốn ngàn năm trước đó…”

Tôi có thói quen, khi đọc Trần Trung Đạo, bao giờ cũng mở băng, nghe bài ca “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của ông. Lúc đó, tôi có cảm giác thật tuyệt vời, không còn biết đâu là văn, là thơ, là nhạc nữa, mà dường như nó hòa trộn vào với nhau vậy. Nếu không tin, bạn làm thử, xem có cảm giác như tôi không?

Và tôi xin mượn bài thơ vẽ về chân dung Trần Trung Đạo, rất hay và rất chính xác của nhà thơ Luân Hoán, để kết thúc bài viết này:

“…khởi đi từ nụ chữ
xanh biếc nở dòng thơ
bén rễ qua tiểu luận
sắc bén trong ngọt ngào

trải lý luận nhân bản
theo dòng nghệ thuật cao
chung qui nhờ nhịp đập
tình thương yêu dạt dào

mẹ chính là trứng ngọc
bát ngát nở tình người
cả thiên thu nguyện đổi
giữ thơm “tiếng mẹ cười”

anh con trai xứ Quảng
từ đất tình Duy Xuyên
chưa hẳn thành hảo hán
đã đậm cá tính riêng”

Leipzig ngày 11- 10-2013

Nằm vào mục: Nhận Xét | Góp ý »

« Previous Entries