CHUYỆN “CHẶT ĐẦU [THIỆU]” VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA TỔNG THỐNG VNCH

Ngoài nhiều trăm tác phẩm, hiện có bốn nơi lưu trữ các tài liệu về chiến tranh Việt Nam gồm (1) Thư viện tổng thống Lyndon Johnson (LBJ Presidential Library), (2) Thư viện TT Gerald Ford (The Gerald R. Ford Presidential Museum), (3) Thư viện Richard Nixon (Richard Nixon Presidential Library & Museum) và quan trọng nhất (4) Kho Tài Liệu Quan Hệ Ngoại Giao Mỹ (The Foreign Relations of the United States (FRUS)).
FRUS dày khoảng nửa triệu trang là nguồn quan trọng nhất vì tổng hợp hết các tài liệu đã được chính các tổng thống Mỹ cho phép phổ biến công khai hóa qua nhiều thời kỳ. Bất cứ bài viết nào về chiến tranh Việt Nam hay Biến Cố 1963, dù binh vực hay chống đối mà thiếu tham khảo FRUS thì bài viết đó chưa đủ tin cậy.
Trong kho tài liệu FRUS có ghi lại một đoạn nói chuyện của TT Nixon và Kissinger lúc 9:32 sáng ngày 20 tháng 1, 1973. Xin lưu ý, mọi trao đổi qua đường dây riêng của chính phủ Mỹ đều được thu lại. Họ nói chuyện gì. Dĩ nhiên là chuyện chiến tranh Việt Nam, một vấn đề nhức nhối của Mỹ trong thời gian đó. Họ nói về ai? Về Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Người viết sẽ trở lại nội dung của đoạn nói chuyện trong phần cuối, trước hết phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến.
Bộ máy tuyên truyền CS thường dùng chữ “bù nhìn” hay “tay sai” để chỉ chính phủ của TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng bốn kho tài liệu chính thức người viết nêu trong phần đầu đều cho thấy TT Nixon rất vất vả để đạt sự đồng thuận của TT Thiệu. Về phía TT Thiệu, ông biết tổng thống Mỹ đang tìm một giải pháp để rút ra khỏi chiến tranh Việt Nam. Khó tiên đoán một cách chính xác những gì sẽ xảy ra sau khi hiệp định được ký kết nên trong khi chưa ký TT Thiệu cố gắng mặc cả để có lợi cho VNCH.
Khác với chính phủ VNCH, cái gọi là “Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) chỉ là cục đất sét do đảng CS nặn ra và hà hơi vào.
Không có một tài liệu nào cho thấy bà Nguyễn Thị Bình từng phát biểu một câu khác với những câu mà Lê Đức Thọ hay Xuân Thủy đã phát biểu.
Không có tài liệu nào cho thấy quan điểm của CPCMLTCHMNVN khác với với quan điểm của đảng CS.
Cục đất sét CPCMLTCHMNVN chỉ được nặn ra ngày 6 tháng 6 năm 1969 để làm đối trọng với chính phủ VNCH đã ra đời ngày 26 tháng 10 năm 1955. Nếu không vì nhu cầu đàm phán, cục đất sét CPCMLTCHMNVN chắc chắn đã không được đảng nặn ra.
Chính bà Nguyễn Thị Bình trong Hồi Ký cũng đã thú nhận: “Việc có hai đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam là điều đặc biệt hầu như chưa từng có trong lịch sử ngoại giao quốc tế, và tôi cũng cần nói rõ điều này. Đấy là sự hiện diện của hai thực thể, đại diện cho cuộc chiến đấu chung dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về mặt chính trị ngoại giao chúng ta đã thiết lập một thế trận “tuy hai mà một, tuy một mà hai.” (Nguyễn Thị Bình, Gia Đình, Bạn Bè và Đất Nước, Hồi Ký)
Ở đây không bàn về các lãnh vực kinh tế, xã hội, riêng về đối ngoại với Mỹ và CS, TT Đệ Nhị Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu là một người khôn ngoan và khí phách. TT Thiệu không phải “bù nhìn” hay “tay sai” mà là một nguyên thủ quốc gia có lập trường cứng rắn.
Kho Tài Liệu Quan Hệ Ngoại Giao Mỹ (FRUS) tóm tắt quan điểm chính của TT Thiệu như sau: “Kể từ cuộc gặp cuối cùng của Kissinger với Bắc Việt tại Paris vào ngày 17 tháng 10 [1972], Tổng thống Nam Việt Nam [Nguyễn Văn] Thiệu đã ngăn chặn việc dàn xếp, bác bỏ thỏa thuận do Kissinger và Lê Đức Thọ đàm phán bất chấp nỗ lực thuyết phục của Kissinger trong chuyến thăm của ông (Kissinger) từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 10 [1972]. [TT] Thiệu đã có nhiều lời chỉ trích về thỏa thuận nhưng trọng tâm phản đối của ông là thỏa thuận không yêu cầu lực lượng Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam, ước tính khoảng 140.000–300.000, phải rời khỏi miền Nam.” (Breakdown of Negotiations, November 1972–December 1972, Paris, November 20, 1972, 10:45 a.m.–4:55 p.m., Foreign Relations, 1969–1976, Volume XLII, Vietnam: The Kissinger-Le Duc Tho Negotiations, State Department)
TT Thiệu đúng. Ba trăm ngàn quân “miền Nam” nói giọng Nghệ An, Thanh Hóa, Cao Bằng, Hà Nội v.v… phải rút ra khỏi miền Nam. Trong các buổi họp báo tại Paris, bà Nguyễn Thị Bình cũng thú nhận không thể trả lời trực tiếp câu hỏi mà chỉ biết nóng vòng vo cho đến khi không ai còn hỏi nữa.
Hai bên đều thỏa thuận với văn bản do Kissinger và Lê Đức Thọ soạn. Chỉ có Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu là chưa đồng ý.
Tổng thống Nixon gởi TT Thiệu nhiều thư. Trong lá thư cuối cùng gởi TT Thiệu đầu năm 1973, TT Nixon dứt khoát: “Tôi tin rằng việc tổng thống từ chối tham gia cùng chúng tôi sẽ là lời mời dẫn đến thảm họa – đánh mất tất cả những gì chúng ta đã cùng nhau chiến đấu trong hơn thập niên qua. Trên hết, điều đó là không thể tha thứ được vì chúng ta sẽ mất đi một giải pháp thay thế công bằng và danh dự.” (As I said in my December 17 letter, “I am convinced that your refusal to join us would be an invitation to disaster—to the loss of all that we together have fought for over the past decade. It would be inexcusable above all because we will have lost a just and honorable alternative.”) (Letter from President Nixon to President Thieu Washington, January 5, 1973, Office of Historian, State Department)
Lá thư đó gần như là một “tối hậu thư”. Lý do, nếu không ký quốc hội sẽ cắt viện trợ mà không đem lại được điều gì tốt hơn cho VNCH. TT Nixon viết: “Tôi chỉ có thể nhắc lại điều tôi đã thường nói: sự bảo đảm tốt nhất cho sự tồn tại của miền Nam Việt Nam là sự thống nhất lập trường giữa hai nước chúng ta, điều này sẽ bị nguy hiểm nghiêm trọng nếu tổng thống cứ tiếp tục theo đường lối hiện tại của mình. Những hành động của Quốc hội Mỹ kể từ khi trở lại rõ ràng đã chứng minh được nhiều cảnh báo mà chúng tôi đã đưa ra. (Letter from President Nixon to President Thieu Washington, January 5, 1973, Office of Historian, State Department)
Hai ngày sau, TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu trả lời TT Nixon, trong đó ông vẫn nhấn mạnh đến sự hiện diện của quân đội CS Bắc Việt tại miền Nam Việt Nam:“…Sau khi đã đọc rất kỹ văn bản, tôi nhận thức rõ những khó khăn hiện hữu trong các cuộc đàm phán; tuy nhiên, tôi không cho rằng chúng ta nên cam chịu chấp nhận việc vấn đề rút quân Bắc Việt không thể được giải quyết một cách thỏa đáng, chỉ vì phía Bắc Việt trước đây từng phản đối yêu cầu hợp lý này từ phía chúng ta.
Như tôi đã nêu trong bức thư đề ngày 20 tháng 12 năm 1972, vấn đề quân đội Bắc Việt, hàm ý về sự tồn tại song song của hai chính quyền cùng chung sống tại miền Nam Việt Nam, và thẩm quyền của Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc là ba vấn đề mang tính sống còn đối với chúng ta. Tuy nhiên, nhằm thể hiện thiện chí tối đa vì hòa bình, chúng tôi sẵn sàng thực hiện một sự nhượng bộ lớn và chấp nhận các điều khoản về kết cục chính trị tại miền Nam Việt Nam như đã được quy định trong dự thảo hiệp định đề ngày 12 tháng 12 năm 1972.
Sau sự nhượng bộ quan trọng đó, chúng tôi vẫn kiên quyết giữ vững lập trường đối với các vấn đề còn lại, bao gồm việc rút quân Bắc Việt và việc không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời (PRG) như một chính quyền song song tại miền Nam Việt Nam. Như Ngài còn nhớ từ bức thư của tôi, hai vấn đề này chính là những vấn đề mang tính sống còn đối với toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam.” (Backchannel Message From the Ambassador to Vietnam (Bunker) to the President’s Assistant for National Security Affairs (Kissinger))”
Mục đích của TT Nixon là tái đắc cử tổng thống và rút Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam “trong danh dự”. Chướng ngại duy nhất trên lộ trình này là TT Nguyễn Văn Thiệu. TT Nixon rất giận. TT Nixon giận đến nỗi trong một tài liệu còn lưu trữ tại Miller Center thuộc Đại Học Virginia ghi lại buổi trao đổi giữa TT Richard Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger như sau:
“Thư viện Nixon ngày 23 tháng 6 năm 2009 phát hành 150 giờ băng ghi âm của Nixon từ tháng 1 năm 1973 đã làm sáng tỏ một chương ít được biết đến trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Tháng đó, Nixon cố gắng hết sức để có được sự đồng ý của Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu đối với một giải pháp mà Cố vấn An ninh Quốc gia Henry A. Kissinger đã đàm phán với Bắc Việt. Thiệu nghĩ rằng các điều khoản giải quyết của Nixon sẽ dẫn đến một chiến thắng quân sự của Cộng sản, một đánh giá mà Nixon và Kissinger đã chia sẻ riêng.
Bắc Việt chấp nhận các điều khoản của Nixon vào tháng 10 năm 1972, nhưng miền Nam Việt Nam phản đối cho đến tháng 1 năm 1973. Khi đó điều gì đã tạo nên sự khác biệt? Lời đe dọa cắt viện trợ cho miền Nam Việt Nam do những người ủng hộ Quốc hội bảo thủ của Nixon dẫn đầu.
Trong khi “telcons” [bản ghi các cuộc điện thoại giữa Kissinger và TT Nixon] trước đây cho thấy cách Nixon dàn dựng mối đe dọa thông qua hai trong số những người ủng hộ chiến tranh nổi bật ở Thượng viện của ông, Barry M. Goldwater, R-Arizona, và John C. Stennis, D-Mississippi.
Các công ty viễn thông đã bỏ qua một số tuyên bố tiết lộ, chẳng hạn như câu này Nixon đã nói với Kissinger vào ngày nhậm chức năm 1973: “Tôi không biết liệu mối đe dọa cắt viện trợ có đi quá xa hay không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì tệ hại nhất, nghĩa là, hoặc chặt đầu ông ta [Thiệu] nếu cần thiết.” (I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do any damn thing, that is, or to cut off his [Thieu’s] head if necessary.)
Ngày: 20 tháng 1 năm 1973
Thời gian: 09:32
Người tham gia: Richard Nixon, Henry Kissinger
Số đàm thoại: 036-021”
(Trung Tâm Quân Sự Viện Đại Học Virginia, mục 50 năm 1975-2025 UVA Miller Center ghi lại từ Nixon Library)”
“Chặt đầu” không có nghĩa đem ra pháp trường chặt đầu hay ám sát nhưng là một thành ngữ để chỉ một hành động bãi nhiệm, thay thế một chủ tịch chấp hành (CEO) của một công ty hay lãnh đạo quốc gia. Dù sao cách dùng tiếng lóng “damn thing” và thành ngữ “cut off his head” của TT Nixon quá nặng để nhắm vào Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, lãnh đạo quốc gia của một nước, nhất là nước đồng minh.
Thành thật mà nói TT Thiệu luôn mang trong người ít nhiều mặc cảm, tự ti của nước nhỏ nên mọi hành động của Mỹ dù cố tình hay vô tình ông đều không bỏ qua.
Chuyện Chiếc Ghế Ở Midway
Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng kể lại chuyện TT Thiệu thay chiếc ghế trong lần gặp gỡ giữa ông và TT Nixon tại Midway 1969 như sau: “Có lần ông Thiệu kể lại một chuyện buồn cười. Sau khi làm đủ trò để giúp Nixon thắng cử tháng 11 năm 1968, Kissinger đi họp với tân Tổng Thống lần đầu tiên ở Đảo Midway vào tháng Sáu 1969. Lúc đầu, ông Thiệu được thông báo rằng vì là chủ nhà nên Nixon sẽ tới trước để tiễn ông tại phi trường. Nhưng khi ông tới nơi, máy bay Nixon còn cách xa Midway tới 15 phút. Lúc ông bước vào phòng họp thì thấy bốn cái ghế đã được xếp sẵn cho hai Tổng Thống và hai phụ tá (Henry Kissinger và Nguyễn Phú Đức). Cái ghế thứ tư cao hơn và chỗ dựa lưng lớn hơn, dành cho Nixon. Ông Thiệu vừa buồn cười vừa tức. Không nói gì, ông lẳng lặng đi sang phòng ăn bên cạnh, xách một cái ghế cùng chiều cao, bê xuống rồi ngồi đối diện với Nixon. “ (Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy, 2005)
Người viết cũng thắc mắc chuyện chiếc ghế nên xem lại vài lần hình ảnh, video cũng như đọc biên bản dài 8 trang ghi lại buổi gặp gỡ Midway ngày 8 tháng 6, 1969 nhưng không thấy hình cái ghế hay đọc chuyện cái ghế.
Vì TT Nixon muốn nói chuyện riêng nên ngoài phần gặp xã giao sau khi vừa đến, toàn bộ buổi thảo luận, ngoại trừ khi ăn trưa, đều chỉ diễn ra trong một phòng riêng, không có hình ảnh nào chụp bốn người.
Trong biên bản, ngày đó là tài liệu “tuyệt mật”, hầu hết là đối đáp giữa TT Thiệu và TT Nixon. Hai ông phụ tá Kissinger và Nguyễn Phú Đức chỉ góp phần giải thích một câu nói của TT Nixon khi được yêu cầu chứ không trình bày quan điểm riêng của họ.
Như TT Nixon thừa nhận sau đó, TT Thiệu phát biểu rất “thẳng thắng” về mọi lãnh vực kể cả một cuộc bầu cửa tự do có thể xảy ra dưới sự giám sát quốc tế giữa VNCH và CPCMLTCHMNVN. Theo TT Thiệu, dĩ nhiên điều đó chỉ xảy ra với điều kiện CS Bắc Việt rút quân hết về miền Bắc. (President Nixon and President Thieu Meet at Midway Island, June 8, 1969, Nixon Library)
Vì không có hình ảnh hay video nào ghi lại buổi họp riêng tư nên không thể kiểm nhận chuyện TT Thiệu thay chiếc ghế. Nhưng vì buổi gặp gỡ diễn ra tại chỗ ở của sĩ quan chỉ huy căn cứ Miday chứ không diễn ra ở White House hay một dinh thự nào, chuyện sắp ghế cao ghế thấp có thể đã xảy ra. Trong trường hợp đó, mặc cảm nước nhỏ và tự ái dân tộc đã giúp TT Thiệu có phản ứng đúng. Chuyện ghế cao ghế thấp là một chuyện cười chính trị. Nhiều người cười khi nghe kể nhưng TT Thiệu lúc đó chắc không cười. Đối với ông đó là thể diện quốc gia. Nếu TT Thiệu không tìm thay chiếc ghế khác và các phóng viên được phép chụp hình trước khi buổi thảo luận bắt đầu, quả thật là một điều đáng tiếc.
Thời gian như cơn gió thổi bay đi bao cát bụi đóng trên khuôn mặt lịch sử. Một ngày, những nhà viết sử Việt Nam có cơ hội ngồi xuống dưới một mái nhà tự do, dân chủ. Họ sẽ bình tỉnh đọc từng trang lịch sử, sẽ lắng lòng nhìn lại mỗi chặng đường bi tráng mà dân tộc Việt Nam đã trải qua để từ đó có một cái nhìn khách quan và thông cảm với những con người đã đến và đi trong lịch sử.
Trần Trung Đạo
