Mục lục:

Archives:

Meta:

Xin giới thiệu:

Truy tìm:

MỘT THÁI ĐỘ CHỐNG “LUẬT AN NINH MẠNG”

Dưới chế độ CS, hai lý do chính làm cho con người luôn phải sống trong sợ hãi, một là do khủng bố CS và hai là do trình độ nhận thức của người dân chưa được nâng cao đủ để có thể vượt qua sự sợ hãi.

Một câu danh ngôn quen thuộc nhưng không đề tác giả: “Sự sợ hãi luôn gây ảnh hưởng vào dân chúng khi dân chúng thiếu học.” (Fear always works to influence the population, when the population is uneducated.)

Tiến sĩ Archie Brown, giáo sư chính trị học đại học Oxford, Anh quốc, trong tác phẩm Sự Vươn Lên Và Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Cộng Sản (The Rise And Fall Of Communism) nêu ra 8 lý do khiến chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, trong đó lý do hàng đầu không phải là kinh tế hay quân sự mà là sự thay đổi xã hội (social change). Sự chuyển hóa tri thức là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào.

Tại Việt Nam, trong lúc những người muốn đem lại sự thay đổi cần thiết cho đất nước chưa đủ sức chống lại bộ máy khủng bố công an trị của CS, chắc chắn họ sẽ thắng trong mặt trận thứ hai: nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của mỗi con người trong xã hội và đất nước.

Những kẻ cai trị bằng nhà tù và tẩy não tại Việt Nam hiện nay dù đui mù câm điếc cũng biết “ngày tàn bạo chúa” sẽ diễn ra theo quy luật xã hội và hình phạt dành cho họ sẽ tương xứng với tội ác mà họ gây ra cho đất nước.

János Kádár, nguyên tổng bí thư đảng CS Hungary và là một kẻ phản quốc theo Liên Sô để tàn sát đồng bào mình sau Cách mạng Hungary 1956. Sau 1960, János Kádár thay đổi đường lối cai trị bằng các chính sách ôn hòa hơn nhưng tội ác do y gây ra không vì thế mà được quên đi. János Kádár chết ngày 6 tháng Bảy, 1989, ba tháng trước khi chế độ CS tại Hungary sụp đổ. Ngày 2 tháng Năm, 2007, mộ của János Kádár đã bị đào lên, nhiều xương cốt kể cả xương sọ của y bị lấy đi và một dòng chữ trích từ một bản nhạc Rock như một bản án được để lại bên cạnh mộ y: “Những kẻ sát nhân và phản bội không nên để nằm yên trong vùng đất thánh 1956-2006”.

Những kẻ sát nhân và phản bội tại Việt Nam nên học kỹ bài học János Kádár để qua đó đọc trước bản án mà dân tộc Việt sẽ dành cho họ.

Như Karl Marx có lần định nghĩa “tự do là thấy được tính tất yếu trong xã hội”, một trong những mục đích của bộ máy tuyên truyền CS là trồng cấy trong nhận thức con người niềm tin vào số phận.

Trong thời kỳ nô lệ tại Mỹ, không phải người nô lệ da đen nào cũng oán ghét, căm thù chủ nô da trắng. Không ít trong số họ chấp nhận cuộc đời nô lệ như một số phận an bày. Họ không mơ ước giàu sang phú quý, xe hơi nhà lầu, những thứ họ cho rằng đã nằm ngoài số phận mà chỉ mơ có chiếc giường cũ trong góc vườn để nằm xem trời sao như Clara Davis, một tác giả da đen, kể lại trong hồi ức của bà.

Không ít người Việt cũng thế. Họ chấp nhận cuộc đời như số phận an bày. Mơ ước và nỗ lực của đời họ chỉ để đủ ngày ba bữa cơm ăn, lo cho con học hành để mai mốt kiếm một công ăn việc làm ổn định còn chuyện xe hơi nhà lầu vượt qua số phận dành cho họ. Nhận thức đó cần phải thay đổi và sẽ được thay đổi.

Mục đích của đảng qua cái gọi là “Luật An Ninh Mạng” vừa rồi là để người dân tiếp tục chấp nhận số phận dành cho họ.

Nhưng thực tế sẽ không diễn ra như ý đảng muốn.

Để duy trì quyền cai trị, từ năm 1983, CSVN đã chọn con đường “tự diễn biến” qua các chương trình “đổi mới”. Ánh sáng tin học và luồng gió văn minh qua các kẽ hở “đổi mới” thổi vào Việt Nam. Ngày này đứng trước khả năng “tức nước vỡ bờ” đảng không dám và không thể đưa dân tộc trở lại thời kỳ trước năm 1983. Trình độ nhận thức của người dân Việt hôm nay có thể kém hơn so với người dân Nga hay người dân Tiệp năm 1990 nhưng không còn là người dân Việt của giai đoạn 1954.

Khi phê phán xã hội, một người thường có khuynh hướng nhìn vào các mặt tiêu cực. Nhưng đừng quên, cạnh những đám thanh niên nam nữ cởi truồng ngoài phố để mừng một trận đá banh cũng đang có hàng ngàn thanh niên khác đang âm thầm học hỏi và tham gia vào tiến trình cách mạng xã hội trong điều kiện và hoàn cảnh của mình. Một cô giáo dạy học sinh sống theo tinh thần chân thiện mỹ. Một anh đi xe thồ biết dừng lại để hô “đả đảo Trung Quốc xâm lược” với Võ Hồng Ly. Họ không để lại tên tuổi trên báo, trên đài nhưng chính là những người đang góp phần viết nên chương mới của lịch sử Việt Nam.

Trên con đường đầy gai góc, lấp một miệng hố rộng hay nhặt một cây đinh nhỏ cũng đóng góp vào cách mạng dân chủ. Thái độ chống “luật an ninh mạng” tích cực nhất, vì thế, là coi như nó không có và tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nâng cao ý thức về quyền và trách nhiệm của người dân.

Người Việt dấn thân hiện diện trên khắp các nẻo đường đất nước. Họ không sợ và thậm chí không thèm để ý đến cái gọi là “luật an ninh mạng”. Họ vẫn nói, vẫn viết như đã nói và viết vào ngày 31 tháng 12 năm ngoái. Họ vẫn tiếp tục theo đuổi các dự án đã được phác họa trước ngày 31 tháng 12 năm ngoái.

Cái thúng “an ninh mạng” chẳng thể nào che được mặt trời sự thật sáng ngời trong đôi mắt họ, chẳng thể nào đậy kín được niềm tin vào tương lai rực rỡ trong tâm hồn họ và chẳng thể nào ngăn được bước đi của thời đại họ. Dòng chảy văn minh đang chảy về phía trước và ngày tự do cho quê hương sẽ đến không xa.

Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

Trận Banh Dân Chủ

Nhìn cảnh hàng trăm ngàn người đa số còn trẻ “đi bão” một cách điên cuồng, bịnh hoạn, lố lăng sau khi đội tuyển Việt Nam thắng một trận chung kết trong một giải khu vực nhiều người không khỏi nản lòng, buồn bực, lớn tiếng chê bai, trách móc, khinh bỉ và ngay cả xỉ vả họ.

Giải AFF Suzuki Cup chỉ là một giải vùng Đông Nam Á, khác với giải vô địch Á Châu với các nước có đẳng cấp thế giới như Nam Hàn, Nhật Bản tham dự.

Đừng quên, gần 60 năm trước, Việt Nam Cộng Hòa đã là nước bóng đá mạnh tại Á Châu. Tại các SEA Games từ 1959 đến 1973, Việt Nam Cộng Hòa đoạt cả thảy 7 huy chương trong đó có huy chương vàng năm 1959. Trong vòng loại Thế Vận Hội Mexico 1968 Việt Nam Cộng Hòa đá bại Philippines với tỉ số lạnh lùng 10-0 hay từng đá bại Mã Lai với tỉ số khuất phục 6-1 tại Á Vận Hội Tokyo 1958.

Nếu không có cơn bão độc tài toàn trị CS đang quét ngang qua ánh sáng văn minh dân chủ đã giúp cho những hàng cây kinh tế, chậu hoa chính trị, dòng suối văn hóa, khóm trúc thể thao trong khu vườn Việt Nam trở nên xinh đẹp và tươi tốt biết bao nhiêu!

Mấy ngày nay, tràn ngập trên các trang mạng và diễn đàn là những câu thống trách “Phải chi họ cũng xuống đường khi Trung Cộng xâm chiếm Biển Đông!”, “Phải chi họ cũng xuống đường khi Formosa thải chất độc hủy diệt môi trường Việt Nam!”, “Phải chi họ cũng xuống đường khi luật an ninh mạng được thông qua!”, “Phải chi họ cũng xuống đường phản đối khi luật đặc khu được soạn thảo!” Rất nhiều “phải chi” liên quan đến tham nhũng, ung thư, nghèo nàn, lạc hậu khác.

Nhưng những người kêu than hay thống trách quên một điều những “phải chi” đó hoàn toàn không có trong đầu đám đông “đi bão” cuồng loạn và mê tín điên khùng kia. Trong đầu đám đông là những ham muốn, dục vọng, đam mê thấp hèn được đảng CS thuần hóa qua thói quen lập đi lập lại.

Thái Lan năm lần đoạt giải AFF Suzuki Cup này nhưng chắc không thể tìm ra một hình ảnh nào đáng khinh bỉ và ghê tởm như những cảnh lên đồng, trần truồng tại Việt Nam.

Thích coi đá banh là một điều riêng tư và tự nhiên nhưng khi thể hiện ra ngoài xã hội, các hành vi của một người không còn riêng tư nữa mà được quy định bởi xã hội. Chế độ CS tồn tại trong một xã hội băng hoại, tha hóa, mất nhân phẩm.

Cần đánh thức họ chăng? Không cần.

Trong lịch sử, cách mạng dân chủ chưa bao giờ được phát động từ những đám đông tương tự như đám đông “đi bão” tại Việt Nam.

Nếu đám đông kia không “đi bão” vì thắng một trận banh họ cũng vùi đầu vào quán nhậu, cờ bạc, rượu chè, hút xách chứ chắc chắn không đứng lên để chống Formosa hay luật an ninh mạng.

Những người xỉ vả họ, nếu không khéo, lại cũng rơi vào chiếc bẫy do đảng CS bày ra. Bộ máy tuyên truyền CS hướng mọi khen chê vào chung một quỹ đạo tư tưởng để dễ bề kiểm soát và điều chỉnh.

Đừng quên, giới cầm quyền CS cũng khuyến khích phê bình các hiện tượng xã hội miễn là không đụng tới bản chất. Tuy nhiên, phê bình hiện tượng mà không phân tích tới bản chất của nó chẳng khác gì giúp cho chế độ cách sửa sai để rồi cai trị tiếp.

Năm 1978, Đặng Tiểu Bình khi vừa lên nắm quyền đã cho phát động một chiến dịch chưa từng có gọi là “Bức tường dân chủ”. Nhiều giới khác nhau tại Trung Cộng đã đến để thể hiện nguyện vọng, phê bình, than trách trên bức tường. Nhà vận động dân chủ Wei Jingsheng vào ngày 5 tháng 12 năm 1978 đã dán lên bức tường lời kêu gọi “Hiện đại hóa thứ năm” tức dân chủ hóa Trung Quốc. Sau khi nghe đủ, Đặng ra lịnh dẹp bỏ “bức tường dân chủ”, điều chỉnh các chính sách một cách thích nghi và cai trị tới ngày nay.

Ai sẽ khơi mào cách mạng dân chủ?

Lịch sử lần nữa cho thấy, cách mạng dân chủ thường được khơi mào từ một số ít những người ý thức và nhận ra được hướng đi của dân tộc và thời đại.

Hôm đó là ngày 3 tháng 6, 1988. Một nhóm 35 người dân Lithuania họp nhau để bàn chuyện giành độc lập Lithuania khỏi khối CS Liên Sô. Họ gồm nhiều thành phần khác nhau như ca sĩ nhạc Rock Algirdas Kauspedas, diễn viên sân khấu Regimantas Adomaitis v.v.. Họ thành lập phong trào có tên là Sajudis (phong trào cải cách) và bầu Vytautas Landsbergis, một giáo sư âm nhạc không CS, làm lãnh đạo. Từ con số 35 người đó, chỉ trong vòng hai năm, phong trào đã thu thút sự tham gia của hàng trăm ngàn người và cuộc vận động độc lập cho Lithuania đã dẫn tới thành công. Lithuania tuyên bố độc lập khỏi Liên Sô ngày 3 tháng 11, 1990.

Hôm đó là ngày 10 tháng 12 năm 1989, một nhóm thanh niên Mông Cổ chỉ vỏn vẹn 13 người tổ chức một cuộc tuyệt thực đòi thực thi dân chủ. Ngày nay lịch sử Mông Cổ gọi họ một cách kính trọng là “13 nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên” nhưng dĩ nhiên trong năm 1989, bộ máy tuyên truyền CS Mông Cổ gọi họ là “mười ba tên phản động”. Nhờ 13 người đó mà Mông Cổ, một quốc gia hiếm hoi được nghe nhắc đến hai chữ tự do hay dân chủ đã trở thành một nước dân chủ.

Việt Nam cũng thế. Cách mạng dân chủ không khơi mào từ đám đông “đi bão” mà từ những người yêu nước dấn thân.

Họ là Lê Đình Lượng (20 năm tù), Trần Huỳnh Duy Thức (16 năm tù), Đào Quang Thực (14 năm tù), Hoàng Đức Bình (14 năm tù), Nguyễn Trung Trực (12 năm tù), Lưu Văn Vịnh (15 năm tù), Nguyễn Quốc Hoàn (13 năm tù), Trần Thị Nga (9 năm tù), Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (9 năm tù), Nguyễn Trung Tôn (12 năm tù), Trương Minh Đức (12 năm tù), Nguyễn Bắc Truyển (9 năm tù), Phạm Văn Trội (7 năm tù), Trần Anh Kim (14 năm tù) và trên 200 người khác với những bản án nặng nề tương tự.

Đừng lãng quên mà hãy bằng mọi cách tập trung yểm trợ những người yêu nước dấn thân. Bởi vì, giống như tại Nga, Tiệp, Lithuania, Mông Cổ v.v..trước đây, chính những “cầu thủ” nêu trên một ngày không xa sẽ là những người ghi bàn thắng cuối cùng và quyết định trong trận banh dân chủ tại Việt Nam.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

BÀI HỌC “LÁNG GIỀNG”

Các nhà lãnh đạo quốc gia phân tích tương lai của một quốc gia dựa trên các điều kiện kinh tế chính trị quân sự đang diễn ra. Tuy nhiên, như lịch sử đã chứng minh, khi quyết định, phần lớn các lãnh đạo đều nhìn về quá khứ. Lý do, quá khứ đã được chứng nghiệm giúp cho họ yên tâm và xem đó như là nguồn bảo đảm cho quyết định của mình.

Lịch sử nhân loại để lại những bài học trong quá khứ không thể bỏ qua. Ba Lan là bài học xương máu nhất. Các diễn biến chính trị, quân sự đang diễn ra tại Á Châu cho thấy Tập Cận Bình “yêu” láng giềng Việt Nam cũng giống như Hitler từng “yêu” láng giềng Ba Lan.

Trong diễn văn đọc trước Quốc Hội Đức ngày 21 tháng Năm, 1935, Hitler ca ngợi tình láng giềng giữa Đức và Ba Lan: “Chúng tôi công nhận, với sự hiểu biết và tình hữu nghị thắm thiết của những người Quốc Xã dành cho Ba Lan, quê hương của một dân tộc ý thức quốc gia. Quốc Xã Đức, và đặc biệt chính phủ Đức hiện nay, không có mong muốn nào hơn là sống trong điều kiện hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước láng giềng.”

Nội dung tương tự, Tập Cận Bình ca ngợi tình láng giềng giữa Trung Cộng và Việt Nam khi phát biểu trước cái gọi là “Quốc Hội Việt Nam” ngày 6 tháng 11, 2015: “Cổ nhân có câu “ ngàn vàng chỉ để mua tình láng giềng”…Nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam từ lâu đã là láng giềng, từ xưa tới nay đã có quan hệ qua lại mật thiết, gần đây còn có giao tình cùng chống giặc ngoại xâm, ngày nay có cùng chung sự nghiệp chấn hưng phồn vinh.”

Ngay cả trong lúc nói những câu ân cần dành cho láng giềng Ba Lan, Hitler đã có ý định xóa bỏ quốc gia này trong bản đồ thế giới.

Lúc 4:45 phút sáng thứ Sáu ngày 1 tháng 9, 1939, Hitler tung một đạo quân lên đến 1.5 triệu người thuộc nhiều binh chủng và áp dụng chiến thuật tấn công chớp nhoáng để tấn công Ba Lan từ cả hai hướng Bắc và Nam. Chỉ riêng lục quân đã lên đến 54 sư đoàn. Quân đội Ba Lan cũng lên đến một triệu nhưng chống cự chưa được bốn tuần lễ. Thủ đô Warsaw đầu hàng ngày 27 tháng 9, 1939. Hơn năm triệu, trong tổng số ba mươi mốt triệu dân Ba Lan bị giết trong Thế Chiến Thứ Hai.

Tại sao Hitler đánh Ba Lan trước?

Các sử gia đưa ra nhiều lý do nhưng nếu chọn một lý do, phần lớn đồng ý lý do hàng đầu là không gian sinh tồn của một Hitler đang ôm mộng đế quốc. Ba Lan, ngoài ra còn giữ vị trí chiến lược như một vùng độn (buffer state) ở phía Đông, và để tấn công Liên Sô, Đức phải tấn công Ba Lan trước.

Theo sử gia Tadeusz Piotrowski, tại Obersalzberg ngày 22 tháng 8, tức chỉ một tuần lễ trước khi tấn công Ba Lan, Hitler chỉ thị cho các tư lịnh mặt trận: “Mục đích của chiến tranh là tiêu diệt khả năng vật chất của kẻ thù. Đó là lý do tôi đã chuẩn bị, hiện nay mới chỉ từ phía Đông, các đơn vị SS với các mệnh lệnh giết không thương xót hay khoan dung tất cả đàn ông, đàn bà, và trẻ em con cháu dòng dõi Ba Lan hay nói tiếng Ba Lan. Với cách duy nhất này chúng ta mới có thể có được một không gian sinh tồn mà chúng ta cần.”

Ba Lan là quốc gia duy nhất Hitler không cần lập một chế độ bù nhìn, thay vào đó bị cai trị trực tiếp và vô cùng hà khắc dưới bàn tay của Hans Frank, một luật sư riêng của Hitler được cử sang cai trị Ba Lan. Tội phạm chiến tranh này bị treo cổ tại Nuremberg ngày 16 tháng 10, 1946. Hitler còn chủ trương đồng hóa dân tộc Ba Lan trong đó có cả việc thay đổi họ tên, ngôn ngữ, lễ nghi nhà thờ và gần như mọi phương tiện thông tin.

Tại sao Ba Lan đầu hàng chỉ trong vòng bốn tuần lễ?

Các sử gia đưa ra nhiều lý do, nhưng nếu phải chọn một, có lẽ nên chọn lý do Ba Lan không chuẩn bị chiến tranh về mọi mặt ở một mức độ như Đức Quốc Xã.

Vũ khí quá lạc hậu, trông cậy các đồng minh ở xa, quân đội trên danh nghĩa có cả triệu quân nhưng động viên chỉ mỗi một ngày trước khi các chiến xa Đức vượt biên giới dù Hilter đã nuốt sống Tiệp từ tháng Giêng, 1939.

Không cần phải phân tích dài dòng, chỉ thay Việt Nam vào Ba Lan trong bài viết sẽ thấy hiểm họa Trung Cộng đang đè nặng trên đầu dân tộc Việt.

Những kẻ độc tài thời đại nào cũng giống nhau vì đều là những con người có lòng tham quyền lực không đáy. Dưới mắt họ không có con người mà chỉ có đất đai và của cải.

Nếu Hilter chỉ muốn dừng lại ở Áo và Tiệp, có lẽ bản đồ thế giới ngày nay đã khác. Tương tự, Trung Cộng sau 40 năm bán sức lao động của bảy trăm triệu người Trung Hoa để tạo một lượng thặng dư tài sản khổng lồ để khắp nơi trên thế giới nhưng không dừng lại. Tập Cận Bình nuôi mộng bá chủ thế giới và sẽ xua đàn kiến đỏ Tàu Cộng tàn phá Việt Nam trong một ngày nào đó.

Những gì xảy ra ở Ba Lan sẽ xảy ra ở Việt Nam với một mức độ thảm khốc hơn nhiều trong tương lai.

Vậy câu hỏi đặt ra là phải làm gì?

Về mặt lý luận, người viết đã phân tích trong bài “Để thắng được Trung Cộng”, xin tóm tắt dưới đây:

1. Việt Nam phải có dân chủ. Việt Nam phải có dân chủ mới bảo vệ được đất nước. Điều đó đúng nhưng cần phải nói thêm, dân chủ không chỉ giúp bảo vệ đất nước mà còn để thắng được Trung Cộng. Ngoài ra, dân chủ phải đến sớm, đừng đợi đến khi chiến tranh Á Châu bùng nổ, máu đổ, thây phơi mới đến.

2. Vượt qua mọi bất đồng để tạo thế đoàn kết dân tộc. Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại. Chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một quốc gia dân chủ thịnh vượng lâu dài.

3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia. Giống hệt vị trí của Ba Lan trước Thế chiến thứ Hai, Việt Nam hiện còn đang giữ vị trí chiến lược nhưng vì CSVN bám theo chân Tàu Cộng nên không chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia được. Mọi chính sách đối ngoại của CSN đều phải được Bắc Kinh chấp thuận và không được tự tiện đi ra ngoài chính sách đối ngoại toàn cầu của Trung Cộng.

4. Ba Lan có liên minh quân sự với Anh và Pháp nhưng gần như không có sự hợp tác chiến lược cụ thể nào. Ngay cả sau khi tuyên chiến với Đức, các lãnh đạo Anh và Pháp vẫn còn tin vào một giải pháp chính trị hơn là một đương đầu trực tiếp bằng quân sự. Do dự là cha đẻ của mọi thất bại. Liên minh giữa Ba Lan với Anh, Pháp là những liên minh không đáng tin cậy và quốc gia nào có những liên minh không đáng tin cậy sẽ dễ bị tấn công hơn là các quốc gia có sự liên minh tin cậy.

Bốn điểm nêu trên, chọn lựa dân chủ là quan trọng nhất.

TT Harry Truman đã không mạnh dạn gởi Hàng không mẫu hạm USS Franklin D. Roosevelt và hạm đội tháp tùng hùng hậu vào Địa Trung Hải để bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ trong xung đột Eo Biển Thổ năm 1946 và nhất là không ủng hộ Thổ vào NATO nếu Thổ không cam kết một nền dân chủ.

Yêu nước ngày nay đồng nghĩa với yêu dân chủ và mọi người Việt dù ở đâu hãy nỗ lực cho mục đích tối cần thiết và quan trọng này.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

CHIẾC VÁY RÁCH CỦA MAO, CÁI ÁO CŨ CỦA NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Tháng 7 năm 2018, bộ máy tuyên truyền của đảng CS đồng loạt tung hô Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nào là một người “xứng đáng là điểm tựa vững chắc”, nào là “nơi gửi trọn niềm tin sắt son, là niềm tự hào của đồng chí, đồng bào chúng ta!” hay nào là “tấm gương sáng, trực quan, sinh động nhất về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” v.v..

Lý do chỉ vì Nguyễn Phú Trọng mặc chiếc áo ấm năm năm trước.

Mặc chiếc áo ấm năm năm, thật ra, là một việc bình thường. Có thể nói với đại đa số trong hơn 90 triệu người Việt trong nước, chiếc áo ấm năm năm vẫn còn được xem như mới.

Bồi bút Nguyễn Đệ, tác giả của bài “Chiếc áo cũ và nhân cách giản dị của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng” nên đến các vùng cao mùa rét năm nay để xem các cha mẹ già, các phụ nữ đang mang thai, các em học sinh nghèo ăn mặc như thế nào rồi về nhà viết tiếp.

Chiếc áo này, nếu chế độ không sụp sớm, chắc sẽ được đưa vào viện bảo tàng để các thế hệ trẻ “học tập và noi gương Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng”.

Nhân chuyện chiếc áo cũ của Nguyễn Phú Trọng, người viết nhớ lại hồi ký của Bác sĩ Lý Chí Thỏa, bác sĩ riêng của Mao. Ông viết trong hồi ký “Sau khi Mao chết, Trung ương đảng Cộng sản mở cửa cho công chúng vào thăm chỗ ở của Mao. Họ cho trưng bày những bộ đồ rách rưới cũ mèm để chứng tỏ rằng Mao là một người đã suốt đời hy sinh cho sự nghiệp của quần chúng và có một đời sống gần gũi với quần chúng…Mao thường mặc một bộ váy dài và hay đi chân đất.” Đừng quên, Mao Trạch Đông gốc nông dân.

Câu hỏi được đặt ra, Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot, Fidel Castro, ba đời họ Kim có tham ô, tham nhũng không?

Câu trả lời là không nếu hiểu tham ô (embezzlement ) theo nghĩa thông thường trong tự điển Cambridge là “việc lấy của công làm của riêng một cách bí mật và phi pháp” và tham nhũng (corruption) chỉ “những hành vi phi pháp, bất lương đặc biệt từ các thành phần có quyền lực trong xã hội.”

Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot, Fidel Castro, Kim Nhật Thành v.v.. không vi phạm luật, đơn giản vì quyết định của đám người này là luật.

Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot, Fidel Castro, Kim Nhật Thành v.v.. không lấy của công làm của riêng vì cả đất nước từ tài nguyên, của cải cho đến con người đều thuộc quyền sở hữu của họ.

Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot, Fidel Castro, Kim Nhật Thành v.v.. không ăn cắp của ai một cách lén lút vì những cung điện, biệt thự dành cho họ được xây dựng một cách công khai, cao lương mỹ vị phục vụ cho họ diễn ra trước mắt mọi người.

Trong cuộc chiến quốc cộng Trung Hoa, CS Trung Quốc thắng trong mặt trận tuyên truyền nhờ khai thác tối đa tệ trạng tham nhũng trong các cấp chỉ huy Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Người dân Trung Hoa không thấy dấu hiệu tham nhũng nào trong hàng ngũ CS và họ tin rằng nếu phe CS thắng những tệ trạng xã hội sẽ mất đi.

Sách vở đó đã được đảng CSVN áp dụng đúng bài bản và cũng đã lừa được nhiều thế hệ người Việt từ 1930 cho tới nay.

Bộ máy tuyên truyền CS tại Trung Cộng và tại Việt Nam trong lúc ca ngợi các lãnh tụ CS cũng liên tục phê bình tình trạng tham nhũng trong các cấp đảng và gọi chung là tình trạng “thoái hóa”.

Định nghĩa một các tổng quát “thoái hóa” là tình trạng hư hỏng, giảm giá trị và mất phẩm chất tốt đẹp vốn đã có. Theo lý luận của đảng, chỉ có các lớp đảng viên sau này mới nhiễm vi trùng tham ô, hủ hóa của tư bản chứ các đời trước thì không.

Nếu không phải vì quyền lợi, vậy Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot, Fidel Castro, Kim Nhật Thành v.v.. tranh đấu cả đời vì mục đích gì?

Câu trả lời là quyền lực.

Những lãnh tụ CS không cần phải biển thủ, tham ô mà chỉ cần nắm quyền lực vì họ biết có quyền lực sẽ có tất cả.

Theo điều tra của hai tác giả Jung Chang và Jon Hallyday trong tác phẩm “Mao, Chuyện Chưa Được Biết” (Mao, Unkown Story), trong 27 năm cai trị, có hơn 50 biệt thự được xây dành riêng cho Mao vì Mao thích sống trong biệt thự sang trọng, kín cổng, cao tường. Có những biệt thự được xây hết sức công phu, tốn kém như trường hợp biệt thự ở Jade Spring Hill, ngoại ô Bắc Kinh. Không ít biệt thự được xây cho Mao nhưng y không đủ thời gian để đặt chân tới. Đó là chưa nói tới đời sống dâm dật đáng kinh tởm của Mao như ngày nay nhiều người biết.

Tương tự, “Viện bảo tàng Hồ Chí Minh” trưng bày những đôi dép râu, những bộ đồ cũ xám, gậy gộc Hồ Chí Minh đã dùng. Nhưng bao nhiêu điều trong đời tư của họ Hồ, kể cả lý lịch bản thân, tên tuổi, vợ con, gốc gác của y, đảng CS đang cố tình bưng bít.

Hành trình đạt tới đỉnh cao quyền lực như đã chứng minh từ Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot, Fidel Castro, Kim Nhật Thành v.v.. đã được lót bằng xương sọ của nhiều triệu người trải dài từ Tứ Xuyên trong nạn đói 1961 của Trung Quốc, tới Huế Mậu Thân 1968 của Việt Nam và sang tận những cánh đồng chết ở Campuchia.

Phân tích để thấy muốn trong sạch hóa xã hội Việt Nam không phải chống tham nhũng mà là tước bỏ quyền lực khỏi tay những kẻ đang nắm quyền tuyệt đối trong xã hội Việt Nam.

Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

ĐỀ ÁN VIDEO CHÍNH LUẬN CỦA VINNA MEDIA PRODUCTION

ĐỀ ÁN VIDEO CHÍNH LUẬN CỦA VINNA MEDIA PRODUCTION

Sự sụp đổ của Liên Sô cho thấy, trong lúc đảng CS nắm trong tay mọi phương tiện trấn áp, khủng bố nhưng đã không thể ngăn chận được sự phát triển của nhận thức con người.

Lúc bảy giờ chiều ngày 25 tháng 12, 1991, Mikhail Gorbachev từ chức chủ tịch Liên Sô giữa sự thờ ơ của đại đa số dân Nga. Không một tiếng vỗ tay ngoài điện Kremlin. Không có một tiếng hoan hô trên “Quảng trường Đỏ”. Nhiều người dân Nga đi xe điện về nhà sau ngày dài làm việc không biết mình đang sống trong thời điểm lịch sử. Lý do như Mikhail Gorbachev phát biểu “người dân đã từ chối chế độ từ trước đó rồi”.

Góp phần vào dòng chảy của nhận thức để qua đó người dân Việt Nam thấy ra và “từ chối chế độ CS”, VINNA MEDIA PRODUCTION, cố gắng thu gọn các bài chính luận sang dạng video nhanh và gọn. Trang này sẽ được cập nhật hàng tuần khi có video mới, mời các bạn nghe và góp phần phổ biến trên FB và Youtube:

FACEBOOK:

1 : Hãy Làm Một Giọt Nước
2 : Suy Nghĩ Bên Đèn Đỏ Ở NARA
3 : Chuyện Từ Vùng Biên Giới Bắc Hàn
4 : Tâm Lý Phản Chiến
5 : Cuộc Đấu Tranh Này
6 : Đừng Trách Dòng Sông Không Chảy
7 : Con Đường Chính Sử
8 : Nguồn Gốc CS Của Ngày Nhà Giáo Việt Nam
9 : Thành Phần Phên Dậu
10 : Từ Tô Định Đến Nguyễn Phú Trọng Năm 43 Trong Lịch Sử 
11: Tiếng Hát Lộc Vàng

YOUTUBE:

Video Chính Luận Trần Trung Đạo trên Youtube

Các video được giới thiệu theo thứ tự thời gian trong link dưới đây. 
Cám ơn anh chị em và các bạn.

Vinna Media Production & tác giả Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

CUỘC ĐẤU TRANH NÀY

Một câu hỏi mà người viết thường được hỏi và cũng thường được nghe tranh luận là “Việt Nam có nhiều trăm tù nhân lương tâm bị CS bỏ tù với những bản ác khắc nghiệt nhưng tại sao nỗ lực của người Việt, trong cũng như ngoài nước, chỉ tập trung vận động cho một vài người?”

Câu hỏi đúng về mặt tình cảm nhưng có lẽ nên phân tích sâu thêm về lý luận. Cuộc đấu tranh nào cũng thế, có những người tranh đấu, có phong trào tranh đấu nhưng trên hết phải có biểu tượng của cuộc đấu tranh.

Việt Nam có một phong trào dân chủ chưa?

Định nghĩa một cách tổng quát, phong trào là tập hợp của những người cùng chia sẻ một niềm tin, một ước muốn, một mục tiêu nhất định nối kết nhau bằng tình cảm và sự tin cậy. Đặc điểm để hình thành một phong trào xã hội là các thành viên tham gia sở hữu những nhận thức căn bản về những bất công xã hội họ đang chứng kiến, có khả năng hành động tập thể, có không gian thông tin, có cơ hội bày tỏ quan điểm.

Bốn mươi ba năm trước, Việt Nam chìm sâu trong bóng tối của chủ nghĩa CS. Không có không gian và thời gian như dừng lại. Nhưng ngày nay điều kiện thế giới và cuộc cách mạng tin học đã ít nhiều làm thay đổi nhận thức nhiều người Việt. Tuy chưa đủ lớn mạnh như tại các nước độc tài CS trước 1991 hay độc tài không CS như Miến Điện, Ai Cập nhưng qua định nghĩa rộng đó, Việt Nam đã có phong trào dân chủ.

Biểu tượng của phong trào thường là một hay một số người có những hoạt động nổi bật, gây được tiếng vang quốc tế, được nhiều người biết đến và thu phục được cảm tình của các thành viên trong phong trào.

Nelson Mandela không phải là người sáng lập nên tổ chức Nghị Hội Toàn Quốc Nam Phi (African National Congress) và chỉ là một trong tám người bị kết án chung thân trong phiên xử ngày 12 tháng Sáu năm 1964. Chuyến bay đêm ra nhà tù trên đảo Robben Island có bảy tù nhân chứ không phải một mình Nelson Mandela. Tuy nhiên, thế giới gần như không biết gì nhiều về Walter Sisulu, Govan Mbeki và năm người khác mà chỉ biết Nelson Mandela. Lý do, Nelson Mandela là biểu tượng đấu tranh của phong trào chống kỳ thị chủng tộc tại Nam Phi.

Tương tự, thế giới nỗ lực vận động cho bà Aung San Suu Kyi và gần như bỏ qua số phận của nhiều ngàn tù chính trị bị giam giữ tại nhà tù Insein Prison ở Rangoon suốt từ năm 1962 khi tướng Ne Win đảo chánh chính phủ dân chủ và thiết lập bộ máy độc tài quân phiệt.

Trong 15 năm, ngoại trừ một thời gian ngắn bị giam trong một căn nhà nhỏ nằm trong khu vực nhà tù Insein, bà Aung San Suu Kyi sống trong một biệt thự, có khu vườn rộng, không phải lao động khổ sai, không đói khát, an nhàn đọc sách. Lý do thế giới tập trung ủng hộ bà vì bà là biểu tượng cho cuộc đấu tranh chống độc tài quân phiệt Miến Điện.

Nelson Mandela và Aung San Suu Kyi là tù nhân, nhưng quan trọng hơn là tù nhân biểu tượng của cuộc đấu tranh. Ủng hộ Nelson Mandela và Aung San Suu Kyi là một cách ủng hộ cho phong trào dân chủ tại Nam Phi và Miến Điện.

Phong trào dân chủ Việt Nam thiếu những biểu tượng đấu tranh có nhiều tiện nghi, tầm mức và lâu dài như Nelson Mandela hay Aung San Suu Kyi. Nhưng nếu chưa có chẳng lẽ ngồi chờ một lãnh tụ anh minh xuất hiện dẫn dắt phong trào hay sao. Không. Thay vào đó, trong mỗi giai đoạn, phong trào dân chủ có một hay hai biểu tượng tính theo thời gian họ có những hoạt động nổi bật và bị CSVN kết án.

Nguyễn Đan Quế (1978, 1990), Hà Sĩ Phu (1996), Lê Chí Quang (2002), Phạm Hồng Sơn (2003), Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân (2007), Nguyễn Văn Hải (2008), Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (2010), Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Huỳnh Duy Thức (2010), Cù Huy Hà Vũ (2010), Tạ Phong Tần (2012), Lê Quốc Quân (2012), Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha (2013), Nguyễn Văn Đài (2015), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (2016). Đó là chưa nhắc đến các vị lãnh đạo tôn giáo và một số khá đông cá nhân và đoàn thể khác.

Báo chí và dư luận thế giới, cả người Việt ở hải ngoại, khó có thể biết hết và dành những quan tâm đúng mức cho một danh sách dài những tù nhân lương tâm đang bị CS bỏ tù tại Việt Nam, do đó, biểu tượng đấu tranh là cần thiết. Vai trò của một biểu tượng không chỉ đúng cho trường hợp Việt Nam mà là một nguyên tắc cách mạng đã chứng minh tại hầu hết các cuộc cách mạng dân chủ trên thế giới.

Những người được xem là biểu tượng của một giai đoạn đấu tranh dân chủ tại Việt Nam trước hết là vì lòng can đảm. Họ được vinh danh, ca ngợi cũng chỉ vì họ đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho tương lai tự do dân chủ của đất nước. Mọi ca ngợi hay vinh danh dành cho họ đều chỉ giới hạn trong không gian và thời gian họ hoạt động và bị tù. Nếu họ được tự do, cám ơn họ đã đi một chặng đường cùng với phong trào dân chủ nói riêng và đất nước nói chung, sau đó nên để họ bình yên với chọn lựa của mình.

Phần đông trong số họ chẳng phải là Nelson Mandela, Aung San Suu Kyi, Václav Havel hay Andrei Sakharov. Họ đứng lên chỉ vì bất bình trước một xã hội bất công và chấp nhận tù đày. Đừng kỳ vọng quá nhiều vào họ và cũng đừng đặt họ vào những vị trí mà họ chưa thể đứng vững để rồi thất vọng, chán chường, trách móc và quay sang hằn học.

Ngay từ thời Lenin, ba phương pháp chính trị học đã được các chế độ CS dùng để vô hiệu hóa một đối tượng: cô lập hóa, trung lập hóa và thỏa hiệp. Trong tuyển tập Mao Trạch Đông, họ Mao từng nói nhiệm vụ của đảng CS không chỉ thắng kẻ thù nhưng quan trọng hơn là phân hóa kẻ thù. “Phân hóa kẻ thù” trong trường hợp đang bàn là làm cho mọi người chung quanh ghét bỏ, khinh bỉ và xa lánh một đối tượng.

Gắn cái nhãn “dân chủ cuội” hay “đấu tranh để được ra nước ngoài” là cách dễ nhất để cô lập một đối tượng. Với suy nghĩ nặng cảm tính của nhiều người Việt, không cần phải lập lại ba lần như trong chuyện “Tăng Sâm giết người” mà chỉ chụp mũ một lần cũng đủ làm mọi người xa lánh đối tượng mà chế độ CS cần cô lập. Rất buồn, cho tới nay đảng CSVN chứng tỏ rất thành công với chiến thuật rất căn bản, quen thuộc nhưng hữu hiệu này.

Đừng tự nguyện thực thi chính sách phân hóa kẻ thù giùm cho đảng CS. Đừng để lòng yêu nước bị CS khai thác như CS đã từng làm khi đẩy nhiều triệu tuổi trẻ miền Bắc vào lò lửa chiến tranh và dụ dỗ nhiều tuổi trẻ miền Nam trở thành những tay sai cho đảng lũng đoạn xã hội miền Nam trước năm 1975.

Còn những kẻ cơ hội thì sao? Vâng, những kẻ cơ hội bao giờ cũng có, ở đâu cũng có, lãnh vực nào cũng có. Trong phong trào dân chủ Việt Nam còn non trẻ, phân tán, lỏng lẻo và phải đương đầu với khó khăn từ mọi phía cũng vậy, khó có thể tránh khỏi những người núp dưới chiếc dù lý tưởng tự do dân chủ để kiếm sống hay trục lợi bằng việc lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người khác. Tuy nhiên, không nên từ vài kẻ cơ hội để suy ra hay đánh mất niềm tin vào cả một phong trào.

Trong danh sách người viết kể ở phần trên, có ai biết Lê Chí Quang, người một thời đã đánh thức bao nhiêu triệu người với bài viết “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” bây giờ đang ở đâu, làm gì và còn có mặt hay không trên hành trình tranh đấu hôm nay? 
Chắc không nhiều người còn nhớ. Nhưng điều đó không quan trọng. Trên chặng đường tranh đấu gian nan, có những người đứng chờ ở mỗi sân ga để bước lên cùng đi với đất nước. Cũng ngay tại sân ga đó lại có người bước xuống theo chọn lựa riêng của mình. Họ mệt mỏi, họ chán nản, họ hết năng lực, họ thỏa hiệp hay có thể vì bất cứ lý do nào. Dù chọn lựa của họ là gì đi nữa vẫn cám ơn những cống hiến của họ và có họ hay không con tàu vẫn tiếp tục băng trên đường lịch sử mang theo những hành khách mới.

Hành khách mới hôm nay là Lê Đình Lượng 20 năm tù, Đào Quang Thực 14 năm tù, Hoàng Đức Bình 14 năm tù, Nguyễn Trung Trực 12 năm tù, Nguyễn Đình Thành 7 năm tù, Lưu Văn Vịnh 15 năm tù, Nguyễn Quốc Hoàn 13 năm tù, Từ Công Nghĩa 10 năm tù, Nguyễn Văn Đức Độ 11 năm tù, Phan Trung 8 năm tù.

Ngoài ra, một danh sách trên 200 tù nhân khác trong đó có những tên tuổi quen thuộc như Trần Anh Kim 14 năm tù, Trần Thị Nga 9 năm tù, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm tù, Nguyễn Trung Tôn 12 năm tù, Trương Minh Đức 12 năm tù, Nguyễn Bắc Truyển 9 năm tù, Phạm Văn Trội 7 năm tù.

Tất cả hiện đang sống trong địa ngục trần gian ở Việt Nam. Hãy làm quen và cùng đi với họ trong cuộc đấu tranh này.

 

Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

NỖI LO CỦA ĐẢNG: TÍNH CHÍNH DANH

Trong một phần tư thế kỷ qua, Mỹ có bốn tổng thống, hai ông Cộng Hòa và hai ông Dân Chủ. Cả bốn ông đều gây nhiều tranh luận. Tuy nhiên, không một ai có thể nói bất cứ ông nào trong số bốn ông đó không phải là tổng thống Mỹ. Cả bốn ông đều lãnh đạo quốc gia trên cơ sở chính danh do hiến pháp 1789 cộng với 27 Tu Chính Án quy định.

Chính danh là điều kiện tối cần thiết để một chính quyền xứng đáng lãnh đạo quốc gia. Đất nước như một con tàu, không phải bao giờ cũng gặp sóng êm biển lặng nhưng tính chính danh giúp cho con tàu vượt qua những giai đoạn sóng to gió lớn.  

Kết quả thăm dò của Pew Research Center, một trung tâm thống kê quốc tế và thường được các nhà nghiên cứu hay phân tích sử dụng, cho biết năm 2017 chỉ còn 13 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đang sống trong chế độ độc tài chuyên chế, tức một chế độ tuyệt đối không có tính chính danh. (Democracy Has Grown Across The World Over The Past Four Decades, Pew Research Center, December 4, 2017)

Theo thống kê của Economist Intelligence Unit năm 2017, Việt Nam, Bắc Hàn, Trung Cộng là ba chế độ có chỉ số chính danh thể hiện qua bầu cử là 0.00, tức đảng CSVN hoàn toàn không có chính danh để lãnh đạo Việt Nam. Việt Nam đứng tận cùng bảng số, thấp hơn cả Lào 0.83 và Cuba 1.33. (The Democracy Index compiled by the UK-based company the Economist Intelligence Unit)

Bắc Hàn không quan tâm đến tính chính danh vì không có một lực lượng đối lập hay phản kháng nào đáng kể nhưng Trung Cộng và CSVN rất sợ tính chính danh.

Sau 43 năm cai trị Việt Nam bằng khủng bố và tẩy não, Cộng Sản Việt Nam ngày nay như một người mang gần hết các bịnh nan y. Không cần phải là một bác sĩ giỏi mới kê toa thuốc đúng, đơn giản vì bịnh gì cũng đúng và bịnh gì cũng làm đảng sợ.

Dưới đây là vài căn bịnh tiêu biểu và nổi bật.

Bịnh tham nhũng. Dưới chế độ CS tham nhũng có tính đảng. Sự tồn tại của tham nhũng gắn liền với sự tồn tại của đảng CS. Trước đây tại Liên Xô, Gorbachev biết điều đó và đã cố gắng để trong sạch hóa xã hội qua hai chính sách cải tổ kinh tế (perestroika) và cởi mở văn hóa chính trị (glasnost). Một câu hỏi đặt ra cho Gorbachev là làm thế nào để vừa thay đổi xã hội một cách căn bản nhưng cùng lúc có thể duy trì chế độ độc đảng?  Gorbachev không thể trả lời được và kết quả Liên Sô sụp đổ.

Bịnh nghiện rượu. Như người viết đã trình bày trong bài “Bệnh Nghiện Rượu Dưới Chế Độ Cộng Sản”, các nghiên cứu cho thấy cơ chế chính trị CS là  nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của bệnh nghiện rượu.  Giấu cơn giận trong men cay, ngăn nỗi buồn nơi đáy cốc là thái độ tìm quên tiêu cực nhưng rất phổ biến của người dân thường trước những bất công đang đè lên số phận của họ.

Bịnh ung thư. Mỗi năm Việt Nam có thêm 150 ngàn người mắc bịnh ung thư và dự phóng năm 2020 Việt Nam sẽ có 200,000 người mắc ung thư và trong số đó 94,000  phải chết. Theo tỉ lệ dân số, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về tỉ lệ mắc và chết vì ung thư.

Nhưng căn bịnh sẽ dẫn đến sự sụp đổ chế độ không sớm thì muộn đó không phải vì tham nhũng, ung thư hay rượu chè mà là thiếu tính chính danh. Tính chính danh như máu trong cơ thể con người. Thiếu dòng máu luân lưu trái tim sẽ ngừng đập và óc sẽ ngừng hoạt động.

Đặng Tiểu Bình khi còn sống cũng đã ý thức cây cột duy nhất có thể giữ chế độ CS khỏi sụp đổ là bảo vệ cho được tính chính danh lãnh đạo của đảng CS.

Để nuôi dưỡng tính chính danh của đảng CSTQ sau khi phong trào CS châu Âu tan rã và nhất là sau biến cố Thiên An Môn, giới cầm quyền Trung Cộng áp dụng hàng loạt chính sách, bao gồm (1) ngu dân bằng cách ngăn chận mọi nguồn thông tin từ thế giới bên ngoài, (2) đun sôi lò lửa ái quốc cực đoan Đại Hán, đồng thời, (3)  cố gắng cải thiện mức sống của người dân. Họ Đặng biết, một khi người dân đói khổ hay nhận thức nâng cao họ sẽ dễ dàng nhận ra những lãnh đạo đảng thực chất là những tên ăn cướp.

Việt Nam cũng thế. Thiếu tính chính danh lãnh đạo là mối lo lớn nhất của đảng. Trong chiến tranh, đảng CS lừa bịp người dân bằng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. Khi chủ nghĩa CS trên phạm vi thế giới chưa sụp đổ, đảng lừa bịp người dân bằng lý luận “ba dòng thác”, bằng khẩu hiệu “giai cấp tiên phong”. Tuy nhiên, khuôn mặt văn minh thế giới đã đổi thay và chủ nghĩa CS đã bị nhân loại ném vào sọt rác. Ngày nay chế độ CSVN chỉ còn dựa vào nhà tù, khủng bố và đám nịnh thần để điều hành bộ máy nhà nước. Những bản án nặng nề và bất nhân đảng CS dành cho hàng loạt các bạn trẻ đã lên tiếng phản đối Formosa và luật đặc khu bán nước vừa rồi là một bằng chứng quá rõ ràng.

Ai bầu ông Nguyễn Phú Trọng là chủ tịch nước? Ai bầu ông Nguyễn Xuân Phúc làm thủ tướng chính phủ? Ai bầu bà Nguyễn Thị Kim Ngân làm chủ tịch quốc hội?

Ngoài những kẻ tận cùng ngu dốt vì bị tẩy não hay bán rẻ lương tri để làm bồi bút cho đảng, không một người dân có kiến thức chính trị tối thiểu có thể đồng ý rằng giới cầm quyền CS hiện nay có đủ chính danh để lãnh đạo Việt Nam.

Đảng CS là một đảng cướp, cướp máu xương của tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh và cướp mồ hôi nước mắt của nhân dân Việt Nam trong hòa bình.

Tương tự các băng cướp ngân hàng chỉ nghĩ đến chia chác sau mỗi vụ trộm, giới chóp bu CS đang cai trị  Việt Nam không hề nghĩ tới tương lai dân tộc. Họ có mắt như mù, có tai như điếc, có miệng nhưng chỉ để ăn. Đất nước đang đứng bên vực thẳm diệt vong không làm sáng mắt họ. Tiếng gầm thét của các chiến đấu cơ Trung Cộng trên các đảo nhân tạo ở  Biển Đông không làm thức tỉnh họ.

Điều kiện văn hóa phương đông, các ngộ nhận lịch sử, nhận thức chính trị của người dân còn thấp đã giúp cho CS Trung Hoa và CS Việt Nam các lý do kéo dài quyền cai trị. Thế nhưng, trong lịch sử nhân loại không có một đảng cướp nào cầm quyền được lâu dài. Một đám mây đen dù lớn, dù dày bao nhiêu cũng không thể che mãi mãi ánh sáng mặt trời sự thật.

Mối lo âu hàng đầu của đảng CS là tính chính danh. Do đó, tấn công đảng CSVN dựa vào các tệ nạn tham nhũng, suy đồi đạo đức, giáo dục lạc hậu v.v.. có thể nhất thời làm cho đảng khó khăn nhưng không sụp đổ. Đảng CSVN chỉ sụp đổ nếu bị tấn công thẳng vào tính chính danh.

Trần Trung Đạo

 

 

 

 

 

 

 

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

THƯ KÊU GỌI GIÚP ĐỠ NẠN NHÂN TSUNAMI NAM DƯƠNG 2018

THƯ KÊU GỌI GIÚP ĐỠ NẠN NHÂN TSUNAMI NAM DƯƠNG 2018

Đảo Pulau Galang là một trong 17,508 đảo của Nam Dương. Hòn đảo nhỏ này có lẽ không nhắc nhở gì nhiều ngay cả đối với người dân Nam Dương. Tuy nhiên, với 250 ngàn người Việt và hàng triệu người khác trong gia đình họ sau này, Galang là nơi họ đã được đưa vào bờ, được cung cấp thức ăn, được giúp che nắng che mưa, được phép xây nơi thờ phượng trong những ngày đầu của hành trình vượt biển tìm tự do đầy gian khổ sau 30-4-1975.

Thời gian trôi qua nhưng ký ức Galang không bao giờ phai. Những gì mà nhiều triệu người Việt hải ngoại có hôm nay đã bắt đầu từ những bước chân xiêu trên bờ cát trắng ở các trại tỵ nạn Đông Nam Á.

Như chúng ta đều biết, ngày thứ Sáu, 28 tháng 9 vừa qua, Nam Dương chịu đựng một trận động đất lớn và theo sau là Tsunami (sóng cao 5.5 mét do địa chấn gây ra) đã tàn phá đảo Sulawesi, 50 dặm phía bắc đảo Palu và gây nhiều thiệt hại trầm trọng về sinh mạng lẫn tài sản của người dân. Theo BBC, tính đến hôm nay, 2 tháng 10, 2018, chính phủ Nam Dương đã tìm được 1347 xác nạn nhân. Số người bị thiệt mạng chắc chắn sẽ tăng cao mỗi ngày vì nhiều khu vực bị động đất vẫn chưa vào được. Khoảng 2.4 triệu người dân bị ảnh hưởng và hàng trăm ngàn nhà cửa bị hư hại.

Nhiều tổ chức từ thiện khắp thế giới đang tìm cách cứu giúp. Đối với người Việt chúng ta đây là một cơ hội để đềnn ơn dân tộc Nam Dương và cũng để chính phủ Nam Dương biết dù đang sống trong tự do no ấm chúng ta vẫn không quên những mái lá đơn sơ ở trại tỵ nạn Kuku và Galang. Cho dù chưa từng ở các trại Kuku, Galang, hay chưa từng vượt biển, Tsunami Nam Dương 2018 cũng đã đánh thức trong mỗi chúng ta qua tiếng gọi của tình người.

Đối với các cộng đồng và hội đoàn người Viêt đang định cư tại hải ngoại, phương pháp giúp đỡ thích hợp nhất là liên lạc trực tiếp với tòa đại sứ Nam Dương tại quốc gia quý đồng hương đang cư ngụ để tham khảo cách thức và các nhu cầu cần thiết nhất.

Trên điêu tàn đổ nát bao giờ cũng là nơi những hạt giống tình thương, phước đức được gieo trồng. Những hạt giống chúng ta gieo xuống hôm nay sẽ đâm chồi, nẩy lộc cho chính chúng ta, cho gia đình và con cháu chúng ta.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Viết ngắn | Góp ý »

BỊNH MAU QUÊN CỦA CON NGƯỜI

Chiều thứ bảy tuần trước đi với các bạn ghé thăm nhà sách Powell nổi tiếng ở Portland, Oregon. Trong thời buổi internet chế ngự các sinh hoạt thông tin, một tiệm sách độc lập tồn tại được là một việc khó khăn. Không những thế, duy trì một nhà sách rất lớn, nhiều tầng, đầy đủ thể loại, khách ra vào tấp nập như nhà sách Powell là một thành tựu hiếm hoi.

Như thường lệ, nếu không có mục đích nhất định, khi vào một nhà sách tôi thường ghé lại các gian sách về lịch sử và chính trị thế giới để xem có sách nào mới.

Nhà sách Powell có một ô lớn dành cho sách về Bắc Hàn. Nói rõ hơn sách về tội ác của ba đời họ Kim đối với người dân Bắc Hàn. Có một vài cuốn đã đọc và khá nhiều chưa đọc. Tôi chụp một bức hình giá sách để về Boston tìm đọc.

Trong các chế độ độc tài, chế độ độc tài CS cai trị người dân bất nhân nhất, và trong các chế độ CS, CS Bắc Hàn đày đọa con người dã man nhất về cả thể lực lẫn tinh thần.

Bắc Hàn không thừa nhận mình là CS, nhưng thực chất chế độ Bắc Hàn chỉ là CS biến thể với sự pha trộn thêm cái gọi là “tư tưởng Kim Nhật Thành”. Các đặc tính độc tài toàn trị, tẩy não, khủng bố vẫn là CS.

David Hawk, thuộc Ủy ban Nhân Quyền Bắc Hàn, trưng bày các bằng chứng phim ảnh chụp bằng vệ tinh để chứng minh sự tồn tại của các nhà tù chính trị tại Bắc Hàn. Không chỉ cá nhân người bị bắt mà cả gia đình gồm vợ hay chồng và con cái của người đó cũng bị bắt và giam giữ suốt đời trong các nhà tù với điều kiện vô cùng tệ hại.

Tại Bắc Hàn, tội “thù địch chống lại đảng và nhà nước” không phải vì lập đảng, lập tổ chức mà bất cứ một hành động hay cử chỉ nào dù nói chuyện riêng tư với bạn bè, tin đồn, có thái độ nghi ngờ, vẽ một bức tranh không thích hợp với chủ trương nghệ thuật của đảng đều bị kết tội tù chính trị.

Tại Bắc Hàn, mỗi gia đình đều có những bức ảnh của Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật và Kim Jong-un. Ban kiểm tra hình lãnh tụ theo định kỳ đến khám xét từng nhà. Chủ nhà sẽ bị phạt nếu hình của ba đời họ Kim không được lau chùi đúng tiêu chuẩn. Bịnh tôn thờ lãnh tụ tại Bắc Hàn trầm trọng đến nỗi người dân có thể chết chỉ để bảo vệ bức ảnh của “cha già dân tộc” Kim Nhật Thành.

Nhiều năm quá đói người dân Bắc Hàn phải ra đồng đào rễ, cắt cỏ và hái lá để ăn trong khi gia đình họ Kim sống như một đế vương.

Mồ hôi nước mắt của nhân dân Bắc Hàn được dùng để chế bom nguyên tử, mua súng đạn và xây tượng đài. Hiện có 34 ngàn tượng đài của ba đời họ Kim tại Bắc Hàn. Trung bình, một tượng đài dành cho 750 người dân Bắc Hàn.

Theo tường trình của Liên Hiệp Quốc năm 2014, tại Bắc Hàn có tới 120 ngàn tù chính trị bị giam giữ tập trung, chưa kể con số khoảng 70 ngàn người khác bị giam rải rác khắp nước.

Đời sống của tù chính trị tại Bắc Hàn vượt qua sự tưởng tượng của một người có khả năng tưởng tượng phong phú nhất. Ủy Ban Tội Ác Chiến Tranh thuộc Luật Sư Đoàn Quốc Tế (IBA) kết tội gia đình họ Kim vào 10 tội ác chống lại nhân loại gồm ám sát, tra tấn, bắt làm nô lệ tình dục, bỏ tù và các tội ác trầm trọng khác.

Luật sư Thomas Buergenthal, một luật sư nổi tiếng và cũng là người sống sót trại tù Auschwitz đang làm việc tại IBA cho biết “các trại tù ở Bắc Hàn còn khủng khiếp hơn, tệ hại hơn” các trại tù Đức Quốc Xã.

Các tù nhân trốn thoát tường trình với Ủy ban Nhân Quyền trường hợp một em bé vừa ra đời bị ném vào chậu thức ăn cho chó của an ninh coi tù hay bị xử bắn chỉ vì nhổ các cây cỏ ăn được để ăn. Có người bị bắn chỉ vì ăn cắp thức ăn để sống mà giá trị còn rẻ hơn giá một viên đạn. An ninh nhà tù xử bắn công khai để đe dọa tinh thần tù nhân.

Nhưng từ khi Kim Jong-un thay đổi chính sách đối ngoại và tỏ ra hòa hoãn với Nam Hàn, thái độ của con người dành cho y cũng thay đổi theo.

Họ Kim từ một nhân vật bị khinh bỉ, bi nguyền rủa đang trở thành một biểu tượng sáng ngời.

Tại Việt Nam, y nhận được nhiều ca ngợi ngay cả trong những người từng hay đang là nạn nhân của chế độ CSVN. Từ dáng đi, cách bắt tay của y cũng được mô tả như “tự tin”, “bệ vệ”, “khí phách” v.v..

Một ngày không xa các sách bày trên giá ở nhà sách Powell ở Portland có thể sẽ bị lấy xuống vì không còn ai đọc nữa.

Các sách vở, tài liệu, chuyện kể, tường trình phơi bày tội ác mà 25 triệu dân Bắc Hàn chịu đựng qua bao nhiêu thế hệ từ 1949 đến nay sẽ bị chính con người quên lãng như họ đang quên lãng Mao Trạch Đông, Stalin, Pol Pot, Hồ Chí Minh, Nicolae Ceaușescu, Erich Honecker, Fidel Castro, Mengistu Haile Mariam v.v..

Bịnh mau quên của con người là một trong những lý do giúp các chế độ CS, trong đó có CSVN, tồn tại.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

TRẦN HUỲNH DUY THỨC, MỘT VÁCLAV HAVEL VIỆT NAM

Câu ngạn ngữ “Đừng muốn người khác làm những việc mà chính mình không muốn hay không dám làm” trong trường hợp bài viết này chỉ đúng một nửa. Nửa đúng là về phía người viết, đang sống yên thân ở Mỹ và “không dám ở tù”. Nửa không đúng là “người khác” Trần Huỳnh Duy Thức bởi vì anh không phải là người dễ bị ai sai khiến.

Ngoài cá tính chưa được biết nhiều, Trần Huỳnh Duy Thức có tư cách của một lãnh đạo cách mạng và đồng thời có cơ sở lý luận làm kim chỉ nam cho hành động của mình.

Không có lý luận dân chủ sẽ không có cách mạng dân chủ. Cách mạng dân chủ tại Việt Nam như đã chứng minh từ Âu, Phi, sang Á, đang cần một đầu tàu như Trần Huỳnh Duy Thức.

Trần Huỳnh Duy Thức có nhiều điểm giống Václav Havel, nhà soạn kịch sau trở thành tổng thống Tiệp Khắc hai nhiệm kỳ.

THẢN NHIÊN VÀ DỨT KHOÁT VỚI TÙ ĐÀY

Khi dấn thân vào đường tranh đấu nhà soạn kịch Tiệp Khắc cũng biết lao tù là căn nhà thứ hai ông sẽ dời đến. Václav Havel dặn vợ chuẩn bị sẵn một vali chứa các dụng cụ cá nhân cần thiết, từ quần áo cho đến bàn chải đánh răng, khăn tay để khi công an đến là đi ngay. Ông bị bắt nhiều lần. Tù đày trở thành một phần của sinh hoạt mà Havel đã sống từ sau cuộc Nổi Dậy Mùa Xuân Praha 1968.

Trần Huỳnh Duy Thức nhận bản án 21 năm gồm 16 năm tù giam và 5 năm “quản chế tại gia” nhưng không hề than van hay nhận tội.

VIẾT THƯ CHO GIA ĐÌNH

Václav Havel viết rất nhiều. Một trong những văn bản lý luận ra đời năm 1977 là Hiến Chương 77 làm nền tảng cho cuộc vận động dân chủ tại Tiệp Khắc. Hàng loạt tiểu luận trong đó có “Quyền lực của không quyền lực” được ông viết năm 1978 và gây nhiều ảnh hưởng đến các phong trào dân chủ không chỉ Tiệp mà cả Đông Âu và Nga.

Ngoài ra, trong thời gian ở tù từ 1979 đến 1982, Havel viết thư đều đặn cho vợ, bà Olga Havlova. Tổng cộng 123 lá thư đã được in chung thành một tác phẩm Thư gởi Olga (Letters to Olga).

Trần Huỳnh Duy Thức ngoài những bài viết đã được trích đăng trong tác phẩm “Trần Huỳnh Duy Thức và con đường nào cho Việt Nam” cũng đang viết đều đặn về nhà cho “Ba và cả nhà thương”.

Những lá thư của anh, ngoài việc thăm cha và gia đình, là cơ hội để anh mang suy tư đi vào lòng dân tộc và một ngày không xa sẽ được in thành tác phẩm.

CẢM QUAN LỊCH SỬ VÀ VIỄN KIẾN CHÍNH TRỊ

Václav Havel và Trần Huỳnh Duy Thức đều xuất thân từ những ngành nghề không liên hệ gì đến chính trị học và bang giao quốc tế, nhưng cả hai đều có một cảm quan lịch sử và trực giác chính trị rất sâu sắc.

Havel chủ trương đấu tranh bất bạo động nhưng cho rằng bất bạo động không đồng nghĩa thỏa hiệp với tội ác.

Những bài học lịch sử cho Václav Havel thấy NATO là chỗ dựa an ninh tin cậy duy nhất và ông đã kiên trì vận động cho việc mở rộng NATO sang các quốc gia cựu CS. Năm 1999, Tiệp cùng với Ba Lan và Hungary trở thành hội viên của NATO.

Trong lá thư mới nhất gởi cho gia đình ngày 26 tháng 6, 2018, Trần Huỳnh Duy Thức nhắc lại quan điểm của anh về tương lai châu Á. Anh thấy ánh dương xa tít tận chân trời từ cánh cửa nhà tù chật hẹp khi nhấn mạnh đến “trật tự mới” đang hình thành: “Mục tiêu của Mĩ không chỉ là thương mại, mà chính yếu là trật tự thế giới. Nhưng không phải là thứ trật tự mà Mĩ ban phát cho nước này nước kia ở vị trí này vị trí nọ, mà là một trật tự theo Quy luật phát triển. Dù là nước lớn hay nhỏ thì đều phải tôn trọng luật. Dân tộc nào nỗ lực hơn thì sẽ vượt lên theo Dòng chảy của thời đại.”

Quan điểm này đã được anh trình bày trong những lá thư gởi gia đình tháng 8 và tháng 9, 2014, trước khi sách lược Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương của Mỹ ra đời.

Đừng quên Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt từ năm 2009 và vào thời điểm này chủ trương đối ngoại của Mỹ vẫn còn đặt nặng trên chính sách hai mặt vừa hợp tác xuyên qua ngoại giao, mậu dịch với Trung Cộng và vừa gia tăng áp lực quân sự. Biển Đông bị Trung Cộng quân sự hóa chứng tỏ sự thất bại của chính sách hai mặt.

BÁM LẤY QUÊ HƯƠNG

Václav Havel và Trần Huỳnh Duy Thức đều bám lấy quê hương.

Cách mạng dân chủ cho Tiệp Khắc đã không xảy ra ở Washington, thủ đô nước Mỹ nhưng xảy ra tại Prague, Tiệp Khắc. Tương tự, cách mạng dân chủ cho Việt Nam sẽ không xảy ra tại San Jose, Houston, Santa Ana, Paris, Melbourne hay những nơi có nhiều người Việt định cư nhưng sẽ xảy ra tại Hà Nội và Sài Gòn.

Họ bắt đầu bằng một nhóm nhỏ nhưng là những người mang tâm nguyện vì đất nước và từ đó phát triển đông dần. Havel có lần đã nói “khi đủ số người hành động theo đúng lương tâm, chế độ sẽ sụp đổ” nên ông, và hẳn cả Trần Huỳnh Duy Thức của Việt Nam, không hề cảm thấy cô đơn.

TRẦN HUỲNH DUY THỨC CỦA VIỆT NAM

Một điểm khác. Václav Havel đã đi, đã đến và đã về. Trần Huỳnh Duy Thức vẫn còn đang đi.

Như đã viết trong phần nhập đề của bài này, Trần Huỳnh Duy Thức có chọn lựa và quyết đinh riêng cho đời mình. Không ai có tư cách gì để khuyên hay muốn anh làm khác. Tuy nhiên, riêng trường hợp Việt Nam, với tình trạng nhận thức chính trị còn tương đối thấp của người Việt, Trần Huỳnh Duy Thức nên sống và viết trong tù hay trong nước hơn là viết từ ngoài nước.

Những bài bình luận chính trị của Trần Huỳnh Duy Thức viết ở Mỹ hay Đức nội dung lý luận có thể không thay đổi nhưng sẽ mất đi tính thôi thúc tinh thần.

Trong lá thư gởi gia đình hôm 2 tháng 6, 2018 Trần Huỳnh Duy Thức cũng đã thừa nhận điều này khi viêt: “Trái ngon nhất khi cây sống trên vùng đất vùng nước chứa đựng khát vọng của trái quả đó”.

Nếu Trần Huỳnh Duy Thức chọn lựa ra đi vì một lý do riêng, có khả năng cao anh sẽ trở thành một học giả như khá nhiều học giả khác. Cách mạng dân chủ không chỉ cần học giả mà còn cần những người thật sự dấn thân, xuống đường và ngay cả hy sinh mạng sống.

Nhà cách mạng Việt Nam Nguyễn Thái Học từng nói “Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu, hoa tự do phải tưới bằng máu” và máu ở đây là máu Việt Nam đổ trên đất Việt Nam. Không ai đổ máu vì độc lập tự do của người khác.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tiểu Luận- Chính Luận | Góp ý »

« Previous Entries