Trang Chủ  | Văn  | Thơ   | Thơ Anh Ngữ   | Tác Phẩm  | Tiểu Sử  | Nhận Xét  | Âm Thanh  | Truyện Dịch

 

 

ý niệm về nguồn
tham luận Trần Trung Ðạo

 

Hẳn chúng ta chưa quên những ngày nóng bỏng California đầu năm 2000. Trong suốt 53 ngày đêm rực lửa đấu tranh để hạ hình Hồ Chí Minh và lá cờ Cộng Sản, tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đã đóng một vai trò chủ lực. Không ai thúc giục, không ai tổ chức. Từ những ngày đầu tiên, hàng ngàn sinh viên học sinh Việt Nam tại hầu hết các trường đại học Nam California đều đứng dậy góp phần với các cha, các chú triệt hạ lá cờ Cộng Sản và tấm hình Hồ Chí Minh. Sức sáng của ngọn lửa Bolsa mà 20 ngàn tuổi trẻ Việt Nam thắp lên trong gần 2 tháng, đã làm ngạc nhiên mọi người, không chỉ kẻ thù của tự do dân chủ, không chỉ những người thường ngày lo lắng và bi quan về tiềm năng của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại, mà ngay cả những người lạc quan về sức sống của thế hệ trẻ Việt Nam hải ngoại cũng không nghĩ tuổi trẻ chỉ trong vài ngày đã vụt đứng lên hiên ngang như Phù Đổng thế đó. Câu chuyện thánh Gióng ngày xưa không còn là huyền thoại nhưng là một thực tế đầy kiêu hãnh dù giữa xứ người xa lạ.

Sức mạnh như giông bão đó từ đâu mà có? 
Niềm tin đó tự đâu mà có? 

Từ ý thức chính trị chăng? Không đủ.
Từ ý thức tự do dân chủ chăng? Không đủ. 
Từ lập trường Quốc Gia chăng? Không đủ. 

Sức bật, sức mạnh, sức phản kháng đó, nếu nhìn từ căn bản, sẽ thấy rằng chúng phát xuất từ cội nguồn văn hóa, từ tinh hoa văn hóa Việt Nam. Tôi tin rằng cuộc chiến cuối cùng giữa dân tộc dân chủ và Cộng Sản độc tài cũng sẽ diễn ra trên mặt trận văn hóa. Và vì thế, hôm nay, trong diễn đàn tuổi trẻ quan trọng nầy, xin phép được dành vài phút để cùng nhau thảo luận về sứ mệnh văn hóa của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại.

Theo quan niện Đông phương, văn hóa của một dân tộc là tổng hợp mọi sinh hoạt của một dân tộc bao gồm khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức, pháp luật, phong tục tập quán. Theo quan niệm tây phương, văn hóa là tất cả những gì làm cho đời sống có giá trị tinh thần (Culture may even be described simply as that which makes life worth living (Việt Nam Con Người Hành Động, TS Lê Kim Ngân, tr. 149)

Văn hóa dân tộc Việt Nam, theo hai định nghĩa trên, là tập hợp tất cả các sinh hoạt của đời sống Việt Nam, thể hiện tính đặc thù của dân tộc Việt Nam, tính nhân bản của con người Việt Nam, tính dung hợp khai phóng (Giao Châu) của địa lý chính trị Việt Nam. Và nhờ đó đã làm cho văn hóa dân tộc chúng ta khác với bất cứ một nền văn hóa nào trên thế giới.

Sau hơn bốn nghìn năm trưởng thành theo chiều dài lịch sử, văn hóa Việt Nam đã và đang kết tụ thành một tài nguyên vô cùng phong phú, lớn lao và quí giá. Mỗi bước đi của lịch sử là một bước gạn lọc, kế thừa và phát huy các tinh hoa văn hóa nêu trên để tạo nên một phong cách mà chúng ta gọi là phong cách Việt Nam.

Hôm nay, chúng ta đang bước vào những ngày cuối cùng của thế kỷ 20. Nhân loại rộn ràng chào đón một thiên niên kỷ mới đánh dấu một bước đổi thay quan trọng trong lịch sử loài người. Trong lúc nhân loại vui mừng bao nhiêu, thì lòng mỗi người Việt Nam đang ưu tư cho vận nước, đang ưu tư về văn hóa Việt Nam lại phải lo âu xao xuyến bấy nhiêu.

Dân tộc chúng ta rồi sẽ đi về đâu? Cơn mưa 25 năm rồi sao chưa tạnh?

Đám mây đen đang vần vũ trên nền trời quê hương bao giờ sẽ tan đi? Tuổi trẻ chúng ta cho đến bao giờ mới hết "ngơ ngác nhìn thiên hạ, tủi thân nhau"?

  Từ những ưu tư thao thức đó, chúng ta không ai không cảm thấy trên vai mình nặng trĩu những trách nhiệm mà tổ tiên giao phó là phục hồi và phát huy nền văn hóa dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên trước khi bàn đến các vấn đề thuộc phạm vi văn hóa, chúng ta cũng nên dành vài phút để nhìn lại quá trình hình thành và trưởng thành của các thế hệ trẻ Việt Nam hải ngoại.

Căn cứ vào khoảng cách tuổi tác, tầm suy nghĩ và hoàn cảnh trưởng thành, tôi xin tạm phân chia tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại ra làm hai thế hệ.

Thế hệ thứ nhất gồm những em đã được sinh ra và lớn lên ngay trong giai đoạn cực kỳ khó khăn của lịch sử dân tộc. Các em là những người đã chào đời khi tiếng xích T54 của đoàn quân Cộng Sản đang nghiền nát đường phố Sài Gòn, là những người ra đời trên những chiến hạm đang lênh đênh trên biển cả, ra đời trong các trại tỵ nạn, ra đời khi cha mẹ đang trong những ngày tháng đầu tiên bơ vơ lạc lõng nơi xứ lạ quê người. Những em đó, những người thuộc vào thế hệ mà tôi tạm gọi là thế hệ 75, bây giờ đã bước vào lứa tuổi hai mươi. Theo mọi tiêu chuẩn xã hội, các em đã vào tuổi trưởng thành.

Một thế hệ khác gồm những em ra đời khoảng năm bảy năm trước ngày quê hương rơi vào tay Cộng Sản. Các em đã có một thời gian khá dài sống trong nước, đã có cơ hội chứng kiến những đổi thay đau đớn của sinh mệnh dân tộc. Các em đã từng là những đứa bé một thời lang thang trên hè phố Sài Gòn, Đà Nẵng, đã từng chịu đựng đói khát trên vùng Kinh Tế Mới, từng đứng khóc tiễn cha, tiễn mẹ lên đường đi vào những trại tập trung xa xôi. Thế hệ của các em cũng là thế hệ của những thuyền nhân tí hon đã thả trôi tương lai của mình theo sóng nước biển Đông, sống lây lất trong các trại tỵ nạn khắp vùng Đông Nam Á. Một số không ít các em sinh ra và lớn lên từ miền Bắc, đã may mắn được theo cha mẹ hay thân nhân vượt biển qua ngã Hongkong hay vượt biên giới qua đường Trung Quốc để sang nước ngoài.

Nếu nói văn hóa là một con sông bồi đắp phù sa chạy dài theo chiều dài của lịch sử thì 25 năm qua, dòng sông đó là dòng sông tắt nghẽn, chỉ có lở mà không có bồi, chỉ có đục mà không có trong. Với các em sinh ra và lớn lên khi cuộc chiến tranh vừa kết thúc để lại trên quê hương một biển máu đào, một rừng xương trắng. Cuộc cách mạng văn hóa hiện thực xã hội chủ nghĩa sau 1975 đã cố biến các em thành những chiếc máy hoàn toàn không nhân tính. Khả năng duy nhất mà nền giáo dục Cộng Sản đào tạo và trang bị cho các em là khả năng phục tùng không điều kiện. Mục đích chính của nền văn hóa đỏ là tiêu diệt một cách có hệ thống mọi khả năng phản kháng của con người.

Để làm điều đó, các nhà kiến trúc tư tưởng Cộng Sản đã dựng nên một thứ "chủ nghĩa anh hùng cách mạng" hay đúng hơn là những chiếc đèn nê-ông rực rỡ để thu hút những con thiêu thân lao vào như các em đã bắt gặp từ các nhân vật chính của Hòn Đất, của Thép Đã Tôi Thế Đấy,v.v... Nếu định nghĩa giáo dục là những gì còn lại sau khi quên hết, thì cái còn lại trong các em là những bài học tuyên truyền rẻ tiền và láo khoét đến độ buồn cười.

Nhà thơ Việt Phương, nguyên bí thư riêng của Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng, một hôm đã bừng tỉnh mắt trong bài thơ Cuộc Đời Như Vợ Của Ta Ơi:

"...Ta cứ nghĩ là đồng chí rồi không còn ai xấu nữa 
Trong hàng ngũ ta chỉ dành cho chỗ yêu thương 
Đã chọn con đường đi 
Chẳng ai dừng ở giữa 
Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường 
Ta nhất quyết đồng hồ Liên Sô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ 
Hình như đây là ý chí, niềm tin, tự hào 
Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ 
Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời nhưng ngờ nghệch làm sao ..."

Dù sao, các em đã may mắn thoát khỏi "thiên đường đầy bất hạnh" đó, được định cư, ăn học, trưởng thành tại các quốc gia tự do theo nhiều diện khác nhau.

Sự hình thành của tuổi trẻ Việt Nam trong môi trường đặc biệt như thế đã tạo nên những đặc điểm mà các nhà nghiên cứu không thể tìm thấy trong các thế hệ Việt Nam trước đây.

Tuổi trẻ Việt Nam sinh ra đời, giống như một khán giả vừa bước vào nhà hát khi vở thảm kịch của quê hương bước vào đoạn kết. Họ loay hoay, quờ quạng, cố đi tìm một chỗ đứng cho mình trong bóng đêm dày đặc. Tuổi trẻ là đất vỡ hoang đang chuẩn bị cho vụ mùa thứ nhất, nhưng cũng chính tuổi trẻ là những người tự mình đi tìm hạt giống để gieo trồng trên mảnh đất tâm hồn mình. Giống như các định luật kinh tế xã hội, không có cầu thì không có cung, không có hấp thụ văn hóa thì không thể có sáng tạo văn hóa. Đối với các em, 25 qua là một khoảng trống dài thiếu vắng dòng sữa văn hóa Việt Nam.

Chiến tranh và rồi Cộng Sản đã cướp đi những thời gian quí báu của tuổi thơ, tuổi học đường, tuổi được hấp thụ và nuôi dưỡng trong dòng sữa văn hóa dân tộc, bằng những câu ca dao, bằng những chuyện cổ tích, bằng những bài sử ca hào hùng của giòng giống Lạc Long. Nhiều em đã một thời lớn lên trên vỉa hè, trên khu Kinh Tế Mới, bằng những chén cơm thừa canh cặn.

Lịch sử Việt Nam thời cận đại là lịch sử của những biến chuyển chính trị, kinh tế, văn hóa dồn dập và rất dễ bị ngộ nhận. Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại vì vậy đã hiểu rất ít lại càng hiểu rất thiếu về lịch sử Việt Nam. Những cái biết của họ về Việt Nam, về chiến tranh Việt Nam, về những diễn tiến chính trị, văn hóa là những cái biết góp nhặt nơi xứ người, từ báo chí, từ các trường đại học Âu Mỹ, từ những kinh nghiệm thời ấu thơ rời rạc và thiếu hệ thống. Tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại chưa hay rất hiếm khi có một cơ hội được học những bài học lịch sử từ một cái nhìn sư phạm và khách quan khoa học.

Một đặc điểm khác của tuổi trẻ hải ngoại là môi trường giáo dục thiếu căn bản đạo đức mà họ đang được đào luyện và trưởng thành. Trong lúc chúng ta luôn có sự kính trọng đặc biệt dành cho hệ thống giáo dục thực dụng của Hoa Kỳ nói riêng và tây Phương nói chung, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng nhiều giá trị đạo đức, giá trị gia đình được đề cao trong nền giáo dục truyền thống Việt Nam đã không được đề cao đúng mức trong hệ thống giáo dục Âu Mỹ.      

Những giá trị đạo đức, những giá trị tinh thần được hun đúc từ bao đời trong văn hóa Việt Nam đã sớm trở thành nạn nhân của một nền giáo dục đặt trên nền tảng kỹ thuật, trên những giá trị vật chất. Lớn lên trong một hoàn cảnh đầy thiếu sót như thế, tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại không khỏi cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, thiếu chỗ dựa và thiếu niềm tin.

Nói đến những đặc điểm khách quan nhưng ít nhiều màu sắc tiêu cực của tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại không có nghĩa sẽ dẫn đến kết luận rằng tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại đã hoàn toàn xa rời với nguồn gốc của mình. Trái lại, thưa quí vị, các thế hệ tương lai của dân tộc Việt Nam từ lúc chào đời đã mang trong mình tinh hoa tinh huyết của dòng giống Lạc Long lắng sâu vào tâm hồn của mỗi người dân Việt. Tuổi trẻ Việt Nam vẫn ngày một lớn mạnh, vẫn ngày đêm thao thức về tương lai dân tộc, và vẫn đang âm thầm hay công khai đóng góp vào công cuộc đấu tranh chung của dân tộc cho một ngày mai tự do và dân chủ trên quê mẹ Việt Nam.

Khái niệm Hồn Thiêng Sông Núi mà triết gia Kim Định nhấn mạnh trong các tác phẩm Việt học của ông, thoạt nghe tưởng chừng như là một câu khẩu hiệu, hay một lời hiệu triệu rỗng nhưng, thưa quý vị và các bạn, đó thật sự là một khái niệm văn hóa Việt Nam đặc thù hơn bất cứ một dân tộc nào khác. Có mấy ai trong chúng ta khi nghe những chữ Quê Cha Đất Tổ, Mẹ Việt Nam, Cái Đình, Cây Đa, Bến Đò,v.v... mà không khỏi bồi hồi xao xuyến. Trong ý nghĩa đó, mỗi chúng ta là một phần kế thừa của Hồn Thiêng Sông Núi, Quê Cha Đất Tổ. Mỗi chúng ta là một cá nhân không thể phân ly của đại gia đình Việt tộc.

Một điều rất mừng cho tương lai đất nước rằng trong bất cứ thời đại nào, dù khó khăn đến đâu, Hồn Thiêng Sông Núi, hay nói khác đi, dòng văn hóa dân tộc, khi mãnh liệt, lúc âm thầm, vẫn tiếp tục truyền đi từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Tuổi trẻ hải ngoại dù chịu đựng nhiều mất mát cũng đã không ngừng học hỏi và giữ gìn những gì họ có. Từ Châu Mỹ đến Châu Âu, Châu Úc, nơi nào có người Việt Nam sống là nơi đó văn hóa Việt Nam được thể hiện, nơi đó sức sống của dân tộc Việt Nam bừng dậy. Nhìn từ phía tiêu cực chúng ta có thể nghe hàng trăm chuyện buồn, nhưng nếu nhìn từ phía tích cực, lạc quan chúng ta cũng có thể thấy hàng trăm mẫu chuyện hết sức cảm kích và vui mừng về những thành công của tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại. Tuổi trẻ hải ngoại đấu tranh vì dân chủ bằng một tấm lòng trong sáng, bao dung, không vướng bận bởi những ưu tư bức xúc cá nhân, không bị ám ảnh hay mặc cảm bởi quá khứ.

Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại hiểu dân chủ và đấu tranh vì dân chủ trong một phạm trù rộng lớn và có tính cách thời đại hơn so với các thế hệ khác. Dân chủ, với tuổi trẻ hải ngoại, là một xu hướng tất yếu của phát triển văn minh không phải chỉ riêng cho dân tộc Việt Nam mà còn của loài người.

  Tuổi trẻ hải ngoại học và xử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, các phương pháp quản trị và tổ chức hiện đại cần thiết cho một xã hội Việt Nam mới trong tương lai.

Là người có dịp sinh hoạt với các anh, các chú bác của thế hệ lớn hơn nhưng cũng may mắn có nhiều dịp sinh hoạt với nhiều nhóm, nhiều tổ chức thuộc các thế hệ trẻ hơn, tôi hết sức vui mừng được thấy sức sống của dân tộc chúng ta trong giới trẻ vẫn còn đó và đang một ngày một lớn mạnh hơn. Trong mỗi tiểu bang, trong mỗi nước đều có hàng chục, hàng trăm nhóm trẻ ngày đêm làm việc và đóng góp vào các nỗ lực văn hóa, khoa học, xã hội, cũng như đấu tranh cho tự do dân chủ của quê mẹ Việt Nam. Trong hai năm qua, các phong trào trẻ tại hải ngoại đã phát triển thành các mạng lưới rộng rãi và đa diện.

Tuổi trẻ là sức sống của dân tộc, tuổi của tìm tòi và khai phá. Những ưu tư về đất nước, những hổ thẹn xót xa khi nhìn sang thế giới hiện đại bên ngoài so sánh với một Việt Nam nghèo nàn lạc hậu, những quan tâm về khu vườn văn hóa dân tộc không người chăm sóc. Tất cả điều đó đã buộc tuổi trẻ sẽ phải chọn cho mình một thái độ, một hướng đi đích thực và cụ thể để gánh vác trách nhiệm lịch sử để phục hồi và phát huy Văn Hóa Việt Nam.

Văn hóa dân tộc không phải là một khái niệm để chỉ những vấn đề chung chung, chỉ những khái niệm trừu tượng, trái lại văn hóa là những hình tượng cụ thể, có thể sờ mó như những chiếc Trống Đồng Đông Sơn, như Chùa Một Cột, biết vui và biết buồn như em bé Việt Nam, biết đau thương và hạnh phúc như những bà mẹ Việt Nam.

Văn hóa Việt Nam giống như một khu vườn nếu biết chăm sóc thì sẽ xinh tươi, nếu lơ là thì sẽ trở nên điêu tàn, hoang dại. Văn hóa thể hiện trong mỗi bữa cơm gia đình, trong mỗi ngày giỗ kỵ tổ tiên và ngay cả trong tiếng cười hay tiếng khóc Việt Nam 

Như chúng ta đã học, Văn hóa Việt Nam thời đại nhà Lý, nhà Trần đẹp tươi và hiển hách bao nhiêu thì văn hóa Việt Nam trong thời kỳ thực dân và rồi Cộng Sản đau buồn và tăm tối bấy nhiêu.

Phục hồi văn hóa, chính vì vậy, không đơn giản là chỉ ngồi lại với nhau để ca hát, để kẻ ngâm thơ người thưởng thức nhưng phục hồi văn hóa dân tộc là một sự dâng hiến, một sự hy sinh, một lý tưởng cao đẹp của tuổi trẻ. Trong lúc đất nước còn nô lệ trong tay chủ nghĩa ngoại lai, phi dân tộc, còn chưa có tự do, dân chủ và hạnh phúc thì phục hồi văn hóa dân tộc còn bao gồm trách nhiệm để đóng góp tài năng của tuổi trẻ vào nỗ lực đưa đất mẹ thân yêu của chúng ta vượt qua giai đoạn khó khăn khổ nhọc hiện nay để bước vào một thời đại mới, thời đại của tự do, dân chủ và thịnh vượng. Điều đó không phải là làm chính trị nhưng là con đường phục hồi văn hóa cao quí và thực tế nhất.

  Xin hãy cùng nhau xây dựng một thái độ học hỏi văn hóa nghiêm túc và khiêm cung từ các thế hệ cha anh. Hãy trân trọng với quá khứ. Không có quá khứ nào là quá khứ sai khi chúng ta không còn thể thay đổi được. Tất cả đều là những bài học lịch sử mà chúng ta phải học. Sông vẫn chảy, nước vẫn trôi, đời sống sẽ không ngừng thay đổi, dân tộc Việt Nam phải tồn tại và vươn lên cùng nhân loại.

  Tuổi trẻ hải ngoại cũng đối diện với thách thức liên kết trong chính họ. Trước khi có hàng trăm tổ chức trẻ đang hoạt động như ngày nay, đã có nhiều trăm tổ chức trẻ khác đã phải chết non. Lý do tan rã của nhiều nhóm trẻ phát xuất từ việc thiếu nhân sự, thiếu phương tiện, lạc mất hướng đi, bị phân hóa bởi các hiện tượng tiêu cực trong cộng đồng, không có đối tượng hoạt động, các chương trình ngắn hạn đã không còn khả năng thu hút nhưng không xác định được mục tiêu lâu dài, cảm thấy cô đơn, lạc lõng và thiếu tự tin trong việc chọn lựa một hướng đi đích thực. Để vượt qua những chướng ngại đó, để duy trì và phát triển các sinh hoạt trẻ, các tổ chức trẻ, các nhóm trẻ hiện nay phải tìm mọi cách để liên kết với nhau, phải vượt lên trên được những tình trạng tiêu cực trong sinh hoạt cộng đồng, đưa sinh hoạt ra khỏi địa phương mình cư ngụ, bổ túc cũng như san sẻ các kiến thức, kỹ thuật, phương tiện và ngay cả mục đích với các tổ chức trẻ khác.

  Sự liên kết trong các nhóm trẻ không nhất thiết, không cần và cũng không nên, phải thống nhất cả về mặt tổ chức, lãnh đạo nhưng quan trọng hơn là liên kết bằng cách cùng cộng tác nhau trong các đề án đem lại lợi ích chung cho cộng đồng, cho an sinh xã hội, cho công cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ của đất mẹ Việt Nam. Các đề án giáo dục, nhân quyền, xã hội, văn hóa Việt Nam,v.v... là những đề án lớn, những môi trường học tập quan trọng nhưng hoàn toàn khả thi đối với các tổ chức trẻ.

Không nên nghĩ chỉ có đấu tranh chính trị mới thực sự đóng góp vào tiến trình vận động dân chủ tại Việt Nam, trái lại, văn hóa, xã hội, giáo dục cũng là những môi trường quan trọng cho các ý thức dân sinh, dân trí, dân chủ được đâm chồi nẩy lộc. Tương tự, không nên cho rằng chỉ có các đề án quy mô mới tạo nên hiệu quả lâu dài, trái lại, một đề án tạo hiệu quả rộng lớn và lâu dài nếu đề án đó đáp ứng không chỉ các nhu cầu trước mắt mà còn có thể ứng dụng được cho cả tương lai. Một thí dụ, mạng lưới Internet mà chúng ta thường gọi là Viet Net, nơi đã có hàng trăm ngàn người Việt Nam trong và ngoài nước đang xử dụng ngày nay, thật ra cũng bắt đầu từ một đề án của vài bạn trẻ trong một số trường đại học tại Boston, UCI, Florida, MIT vào tháng 8 năm 1988.

Trong lúc khoa học kỹ thuật còn có thể học được ở người khác, học được từ nước khác, ngay cả có thể thuê mướn người khác làm thay cho mình, nhưng phục hồi tinh hoa dân tộc là trách nhiệm vô cùng cấp bách và khẩn thiết của chính người Việt Nam. Chính chúng ta phải là người gánh vác trách nhiệm đó chứ không thể cầu cạnh ai khác, nhờ vả hay thuê mướn ai khác. Mọi sự cầu cạnh, dù vật chất hay tinh thần đều dẫn đến mất quyền tự chủ. Mất tự chủ sẽ dẫn đến mất nước. Lịch sử đã chứng minh điều đó nhiều lần.

  Lịch sử bao giờ cũng mang tính kế tục nhưng đồng thời cũng tính thời đại. Lịch sử trước hết là lịch sử của thời đại. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm để hoàn thành những trách nhiệm mà lịch sử giao phó cho thời đại của họ nhưng dù không hoàn thành, ngọn đuốc lịch sử vẫn phải được chuyển sang bàn tay thế hệ khác. Nhìn lại quá khứ không phải để rồi trách cứ cha mẹ ông bà, để đổ thừa cho tổ tiên nhưng là để chiêm nghiệm một cách trân trọng những bước chân của người đi trước. Học lịch sử để làm lịch sử.

  Học từ quá khứ không phải để rồi khư khư ôm lấy quá khứ, sống trong quá khứ, nhưng học để biết dung hợp một cách hài hòa giữa văn hóa Việt Nam dân tộc nhân bản và văn minh thế giới hiện đại, phù hợp với nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài, không phải chỉ cho chúng ta, cho con cháu chúng ta, mà còn cho nhiều thế hệ xa hơn của tương lai dân tộc.

  Quá trình phát triển văn hóa là một quá trình gạn lọc và sáng tạo. Một nền văn hóa không có sáng tạo, nền văn hóa đó sẽ chết và dân tộc đó sẽ bị diệt vong.

  Xin hãy xây dựng một phương pháp học hỏi, nghiên cứu văn hóa trên một căn bản khoa học khách quan và nhìn vấn đề từ gốc chứ không phải từ cành hay từ ngọn. Hãy biến những ước mơ thao thức và tự phát của tuổi trẻ thành ý thức, thành lý luận, thành tổ chức và thành các hành động cụ thể. Đã qua rồi thời đại của anh hùng cá nhân, minh quân, minh chủ. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại liên mạng (Internet), ở đó, mỗi cá nhân là một tập hợp thu hẹp chứa đựng các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp và phụ thuộc vào nhau của cộng đồng xã hội, dân tộc và nhân loại. Sự thành công của một cá nhân tùy thuộc rất lớn vào hiệu quả của cách tổ chức, quản trị tập thể.

  Đừng ngại chúng ta không hoàn thành mục đích của đời mình nhưng chỉ ngại chúng ta không dám đi, không dám dấn thân, không dám khởi hành đúng vào con đường mà dân tộc chúng ta nên bước tới trong thiên niên kỷ thứ ba.

Đối với các bậc cha mẹ, xin quí vị hãy đến với tuổi trẻ bằng một tấm lòng thành thật và sự cảm thông. Quan hệ giữa các thế hệ già trẻ là mối quan hệ hai chiều. Nếu chúng ta muốn tuổi trẻ cảm thông, trước hết chúng ta phải cảm thông với tuổi trẻ, cảm thông với những vấn đề mà tuổi trẻ đang suy nghĩ và đương đầu. Phương pháp tốt nhất để tạo niềm tin nơi tuổi trẻ là tin tưởng ở họ trước. Hãy trao cho họ trách nhiệm, không phải để chạy theo các chú, các bác, đi theo hướng đi của lịch sử, nhưng còn để làm nên lịch sử, viết nên những trang mới tươi đẹp và hiện đại cho hôm nay và mai sau.

  Xin hãy nói với tuổi trẻ bằng ngôn ngữ của họ và có một thái độ sống như họ đang sống, nên có các sinh hoạt trẻ như họ và nhìn vào vấn đề từ góc độ mà họ đang đứng.

  Đại đa số tuổi trẻ hải ngoại đã không đi qua chiếc cầu mà các thế hệ cha anh đã đi qua, cũng như không sống một quãng đời bi tráng mà các thế hệ cha anh đã sống. Và vì thế, chúng ta không thể trách tuổi trẻ không có những nhận thức bằng kinh nghiệm mà các thế hệ cha anh đã có được, đã phải đánh đổi được bằng bao hy sinh xương máu. Không nên buộc tuổi trẻ phải sống một cách giả tạo, đau đớn một cách giả tạo, khóc cười một cách giả tạo. Con đường giáo dục các thế hệ trẻ là một con đường dài, kiên nhẫn và chỉ có thể chinh phục bằng sự chân thành, thương yêu và tương kính.

  Dân tộc ta đã chịu đựng hơn hai mươi lăm năm dưới chế độ Cộng Sản. Hai mươi lăm năm là thời gian khá dài so với một đời người nhưng chỉ là khoảnh khắc so với muôn đời lịch sử Việt Nam. Là một người mang niềm tin sâu xa vào lịch sử, tôi tin rằng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã kiêu hãnh vươn lên từ hơn một ngàn năm Bắc thuộc, đã bức tung xích xiềng sau một trăm năm dưới ách thực dân, nhân dân Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, sẽ tiếp tục kiên trì tranh đấu cho một quê hương Việt Nam không còn bóng dáng độc tài, phục hồi các giá trị văn hóa cao đẹp, xây dựng lại từ những điêu tàn đổ nát hôm nay một quốc gia Việt Nam thật sự độc lập, tự do, dân chủ, giàu mạnh, ngẩng mặt nhìn nhân loại và bước hiên ngang vào thiên niên kỷ thứ ba.

Trần Trung Đạo

 

 


Tên:
Địa chỉ Email:
Nhận xét về bài viết: