Trang Chủ  | Văn  | Thơ   | Thơ Anh Ngữ   | Tác Phẩm  | Tiểu Sử  | Nhận Xét  | Âm Thanh  | Truyện Dịch

 

 

Từ Iraq đến Sri Lanka, nhân loại vẫn cần có nhau

 

Sự đáp ứng của nhân loại trước thảm họa Tsunami tại Á Châu đã vượt qua ước tính của các cơ quan từ thiện quốc tế. Hàng trăm chuyến bay của các hãng hàng không thuộc nhiều quốc gia khác nhau không ngừng hạ cánh trên các phi trường ở Nam Dương, Thái Lan, Mã Lai mang theo thuốc men và những đồ dùng cần thiết cho nạn nhân. Ông Jan Egeland, thay mặt cơ quan Liên Hiệp Quốc điều hành chiến dịch cứu trợ  khẩn cấp tại Á Châu, trong buổi họp báo tại New York ngày 4 tháng Giêng năm 2005, đã ca ngợi  sự đóng góp của thế giới là “chưa bao giờ có" trong lịch sử của cơ quan quốc tế này. Con số hơn 4 tỉ Mỹ kim, tính đến ngày 5 tháng Giêng năm 2005, đã được chính phủ các quốc gia trên thế giới cam kết hay do các cơ quan từ thiện gây được, cũng được xem là số tiền lớn nhất từ trước đến nay.

Trong cộng đồng người Việt hải ngoại, gần như mọi tôn giáo, cộng đồng, đoàn thể, cá nhân đều có trực tiếp hay gián tiếp góp phần vào nỗ lực cứu trợ. Việc cứu giúp người hoạn nạn Á Châu, đối với những người Việt đã một lần vượt biển, còn mang thêm ý nghĩa tinh thần đặc biệt khác. Trong phần tư cuối cùng của thế kỷ 20, nhiều trăm ngàn đồng hương Việt Nam đã từng được chở che bao bọc trong vòng tay nhân ái của chính phủ và nhân dân các quốc gia trong vùng Đông Nam Á. Trên hành trình vượt biển, đồng hương người Việt, có thể không tránh khỏi những cảnh đau lòng và chịu đựng riêng, nhưng nhìn chung, tình người và lòng nhân đạo vẫn là một điểm son nổi bật trong quan hệ con người mà chúng ta may mắn đã nhận được từ các quốc gia này. Những địa danh Pulau Bidong (Mã Lai), Panat Nikhom (Thái Lan), Galang (Nam Dương) vẫn còn in đậm trong ký ức của những người Việt đã một lần dừng chân ở đó. Người Việt Nam, với truyền thống “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây” và “Lá lành đùm lá rách” đã không làm ngơ trước hoàn cảnh đau lòng của những người cùng chung dòng máu đỏ da vàng. Từ Đức, Pháp, Anh ở Châu Âu đến Mỹ, Canada ở Bắc Mỹ và các quốc gia xa xôi ở Úc, Tân Tây Lan, đồng bào Việt Nam đã tự nguyện đóng góp qua nhiều cách khác nhau. Có nơi, như ở Vancouver, Canada, vị trụ trì còn bán cả chùa để  giúp đở nạn nhân Tsunami. Khả năng của mỗi chúng ta, dù cố gắng bao nhiêu, chắc không thể so sánh với sự đóng góp của Oprah Winfrey, Bill Gates nhưng đó là một thể hiện cần thiết của tình thương giữa người và người, bởi vì như Đức Dalai Lama nói: “Không có tình thương con người sẽ không tồn tại”, hay cụ thể hơn, như Mẹ Teresa có lần đã nói: ”Một giọt nước có thể không làm biển mặn thêm nhưng biển sẽ không đủ mặn nếu thiếu đi giọt nước đó”.

Tuần qua, tại thành phố nơi tôi ở, một nhóm trẻ em người Mỹ trong tuổi vị thành niên gọi đến cơ quan Hồng Thập Tự và hỏi họ đang cần gì nhất. Các em nhận được câu trả lời: “Cần tất cả mọi thứ nhưng tiện dụng nhất vẫn là tiền”. Các em làm một số thùng và chia nhau đứng trước các cửa tiệm, các nhà hàng ăn uống. Hai ngày sau, các em gởi đến cơ quan Hồng Thập Tự thành phố Boston số tiền mặt hơn 10 ngàn Mỹ kim. Đây là một số tiền rất lớn quyên góp được từ những bàn tay còn rất nhỏ. Khi được phỏng vấn, các em chỉ trả lời “Họ cũng là người như chúng ta nhưng khác một điều họ là những người không may mắn”. Những em bé người Mỹ đó, có thể chưa bao giờ nghe ai nhắc đến những địa danh khó nhớ như Sri Lanka, Malaysia, Plunet, Bengal Bay v.v. nhưng có một điều em biết chắc, ở góc địa cầu đó đang có những đứa bé cùng tuổi như các em phải mồ côi cha mẹ và có những gia đình như gia đình của các em tối nay không có chỗ để về.

Người Mỹ có trái tim và tấm lòng từ ái giống như mọi con người trên trái đất chứ không phải là “bọn đười ươi, mặc những chiếc áo phông thật là vô nghĩa, chen quầy tính tiền ở những tiệm rẻ tiền” như nhà thơ Đinh Linh đã viết trong bài thơ Hành tinh đười ươi đăng trên talawas hôm 29 tháng 12 năm 2004. Người Mỹ rất thực tế và cách thể hiện tình nhân loại của họ, từ chính phủ liên bang cho đến một em học sinh như trong câu chuyện tôi vừa kể trên, cũng rất là thực tế. Chính phủ Mỹ đóng góp 44 phần trăm trong tổng số viện trợ nhân đạo hàng năm của toàn thế giới mặc dù nước Mỹ tính theo lợi tức đầu người không phải là quốc gia giàu nhất. Cô Oprah Winfrey, người điều khiển chương trình hội luận nổi tiếng Oprah Winfrey Show tặng 175 triệu Mỹ kim trong tài sản của cô cho các quỹ từ thiện khắp nơi trên thế giới. Steven Spielberg, đạo diễn phim ảnh, đóng góp 96 triệu Mỹ kim vào quỹ từ thiện. Nữ tài tử Angelina Jolie dành một phần ba lợi tức hàng năm của cô cho các công việc từ thiện xã hội.

Nền giáo dục của Mỹ đặt cơ sở trên tình thương và trách nhiệm xã hội chứ không đơn giản chạy theo vật chất thác loạn như một số người kết luận sau khi đọc vài tấm bảng quảng cáo hay xem vài chương trình truyền hình. Hệ thống giáo dục Mỹ luôn khuyến khích và tạo điều kiện để học sinh tham gia vào các công việc mang lại lợi ích cho con người không phân biệt họ là ai, màu da hay sắc tộc nào. Trong mỗi lớp học của các trường cấp hai, cấp ba đều có các câu lạc bộ thiện nguyện. Các trường đại học khuyến khích lòng từ tâm của sinh viên bằng cách dành nhiều lợi điểm nhập học cho các học sinh lớp 12 có tham gia nhiều công tác thiện nguyện ngoài các chương trình học do nhà trường quy định.

Người Mỹ cũng không phải là những người có “thái độ thờ ơ, phớt tỉnh của nước Mỹ về chiến tranh” như nhà thơ Đinh Linh đã viết vào dịp ông và hai bạn thơ của ông ”xuống đường” để phản đối chiến tranh Iraq ở Philadelphia. Báo chí, truyền thanh, truyền hình Mỹ đã nhiều lần đưa tin và đưa tin rất rõ về những cảnh thất nhân tâm diễn ra trong các trại tù ở Iraq. Không phải đợi đến khi ông Đinh Linh phân phối truyền đơn nhắc nhở, công dân Mỹ công khai bày tỏ thái độ bất bình trước những cảnh hành hạ tù nhân và đòi hỏi những kẻ vi phạm quyền con người phải bị trừng trị thích đáng với tội lỗi mà họ đã gây ra. Người dân Mỹ cũng xúc động khi nhìn cảnh các em bé tật nguyền, nạn nhân của bom đạn, phần lớn từ phía liên quân Anh Mỹ và đang làm tất cả những gì có thể làm được để giúp đỡ người dân Iraq gầy dựng lại cuộc sống bình yên sau chế độ Saddam Hussein hà khắc. Người Mỹ không có thói quen ra đứng ngoài đường thở than khóc lóc. Họ không có thói quen thương xót người khác bằng những giọt nước mắt, mà chúng ta thường gọi là "nước mắt cá sấu" để rồi sau đó “bay sống chết mặc bay, còn các ông thì vẫn sáng nhậu lai rai chiều coi đá bóng”.

Em bé trong bức hình kèm theo bài thơ của Đinh Linh để tố cáo tội ác của Mỹ đối với dân Iraq có tên Ali Ismaeel Abbas, 13 tuổi. Em bị mất cả hai tay và cháy một phần thân thể. Cha mẹ và 13 người thân trong gia đình đều chết khi bom rơi trúng nhà em. Em Ali đã trở thành biểu tượng cho sự chịu đựng của người dân vô tội trong cuộc chiến tranh Iraq. Tiếng kêu “Tôi đau quá” của em Ali Ismaeel Abbas sau khi hồi tỉnh đã làm tất cả bác sĩ và y tá trong bịnh viện Kuwait lặng người. Cả nước Mỹ hồi hộp theo dõi bịnh tình của em, từ khi chuyển sang Kuwait, và rồi sang Anh chữa trị cho đến ngày em đoàn tụ với ông bà nội ngoại và các chị của em ở Iraq, 21 tháng Giêng năm 2004.

Tuy san sẻ nỗi bất hạnh của người dân Iraq vô tội, người Mỹ cũng không lý giải cuộc chiến Iraq một cách đơn giản như ông Đinh Linh đã lý giải như là một cuộc chiến tranh xâm lược. Nếu cho rằng chế độ Saddam Hussein là nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược do George Bush và Tony Blair phát động, rồi 182 ngàn người Kurd đã chết trong những hầm hơi ngạt năm 1988, 200 ngàn người Iraq Shia bị giết, hành ngàn chính khách đối lập tôn giáo và chính trị  Iraq bị chôn sống trong hàng trăm ngôi mộ tập thể  khắp nước Iraq quả đáng tội lắm hay sao?

Khi liên quân Anh Mỹ chuẩn bị ném bom các căn cứ quân sự ở Baghdad, hàng ngàn người tự nhận là “yêu chuộng hòa bình” ở Châu Âu đã tình nguyện đến làm giá chắn người (Human shield) để ngăn chận đường tiến của liên quân như họ đã làm trước đó ở Afghanistan. Tại sao họ không làm giùm công việc tương tự như thế khi Ali Hassan al-Majid, còn được gọi là hung thần Chemical Ali, lùa hàng trăm ngàn đàn bà và trẻ em Kurd vào các hầm hơi ngạt ở vùng biên giới Iraq và Thổ Nhĩ Kì năm 1988? Ngoại trừ những người dân Kurd và Iraq lưu vong, có cuộc biểu tình nào do các phong trào phản chiến tổ chức để phản đối các hành động dã man của chế độ Saddam Hussein? Ngoài tiếng kêu tuyệt vọng của đoàn người du mục không chỗ dung thân Kurd, có bài thơ nào xót thương cho em bé Kurd chết ngạt khi còn trong bụng mẹ? Và gần đây nhất, có giọt nước mắt nào nhỏ cho những người dân vô tội bị bọn khủng bố chặt đầu?

Những người gọi là "yêu chuộng hòa bình thế giới" đã từng làm giá người để bảo vệ Kabul và tập đoàn khủng bố Taliban trước đây, nghĩ gì khi nhìn các em bé Afghanistan ngày nay đang vui vẻ sắp hàng vào lớp, người dân Afghanistan đã có quyền đầu phiếu để bầu nên chính phủ dân cử đầu tiên, người phụ nữ Afghanistan không còn là những người đàn bà nô lệ như trước và thủ đô Kabul mỗi ngày thêm sầm uất?

Chiến tranh là một nỗi bất hạnh của con người nhưng không nên lý giải một cuộc chiến bằng định kiến chính trị hẹp hòi hay mặc cảm cá nhân. Bác sĩ Hamad Al Shatti, người chữa trị cho em Ali Ismaeel Abbas đã nói trong buổi sáng tiễn em Ali về nước: “Ali sẽ là người mang thông điệp hòa bình và can đảm thay mặt cho những thiếu nhi cùng cảnh ngộ như em”. Cả nhân loại đều mong như thế. Những người yêu chuộng hoà bình thật sự phải là những người giúp cho nhân dân Iraq sau chế độ Saddam Hussein có được cuộc sống tự do dân chủ và xây dựng đất nước vì tương lai của Ali và tương lai của nhiều thế hệ Iraq khác chứ không phải là những người suốt bốn mùa gào thét khẩu hiệu "chống Mỹ cứu nước" như đang mang trong người một thứ tâm bịnh kinh niên khó chữa.

Trở lại với thảm họa Tsunami. Không phải tự nhiên mà chính phủ Mỹ mời hai cựu Tổng thống của hai đảng lớn đứng ra vận động gây quỹ yểm trợ nhân dân các nước Á Châu đang lâm nạn. Không phải tự nhiên mà Tổng thống Hoa Kỳ chỉ thị ngày thứ Bảy 8 tháng Giêng năm 2005 là ngày tưởng niệm nạn nhân Tsunami với quốc kỳ Mỹ khắp nước cũng như tại tất cả cơ quan trực thuộc chính phủ Hoa Kỳ trên thế giới rủ xuống nửa cột. Không phải tự nhiên mà Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell và em ruột của Tổng thống Mỹ đã có mặt tại chỗ và đích thân thăm viếng người dân bị nạn. Bên cạnh lòng nhân đạo không ai có thể chối cãi, sự quan tâm của Mỹ là một cành olive gởi đến chính phủ và nhân dân các quốc gia bị tại nạn, đặc biệt Nam Dương, nước có dân số theo đạo Hồi đông nhất thế giới. Từ Kasmir, Parkistan, Ấn Độ đến Nam Dương, Thái Lan, một cơ hội hòa bình, ổn định, tái thiết và phát triển đang mở ra cho khu vực Á Châu này nhưng kết quả ra sao tùy thuộc vào thái độ chính trị của các nước trong vùng.

Tsunami còn là cơ hội để  con người gần nhau hơn và là một nhắc nhở cho đặc tính mong manh của số phận con người. Thế giới bị đe dọa không phải chỉ vì chiến tranh ý thức hệ, quyền lợi, giàu nghèo, cực đoan tôn giáo, mà còn vì những tai họa thiên nhiên mà con người chưa hiểu hết hay chưa vượt qua được. Sau nhiều thời kỳ phát triển về khoa học kỹ thuật, con người vẫn tưởng mình đã bước một bước văn minh dài. Không, biến cố Tsunami hôm 26 tháng 12 năm 2004 cho thấy khả năng của con người vẫn còn quá nhiều giới hạn. Một cái trở mình nhẹ của trái đất đã cuốn đi 150 ngàn mạng sống. Bao nhiêu cái trở mình, bao nhiêu lần thay đổi trong nhiều dạng thể và hình thái khác nhau sẽ diễn ra, có thể trong ngày mai, trong năm tới, trăm năm hay nghìn năm tới. Không ai biết chắc được. Có một điều mọi người đều biết, để tồn tại, nhân loại trước hết phải cần có nhau.
 

Trần Trung Đạo


© 2005 talawas

       

 

Trần Trung Đạo
Vài lời và kết thúc với anh Đinh Linh
 

Tôi tôn trọng quan điểm của anh Đinh Linh trong bài Chống Mỹ cứu Mỹ và sẽ không tranh luận gì thêm, mặc dù cách giải thích của anh về phương pháp phân phối ngoại viện (foreign aid) cho Israel khác với viện trợ nhân đạo (humanitarian aid) mà tôi đã dùng trong bài trước. Cả hai tuy đều nằm trong ngân sách viện trợ cho nước ngoài (foreign aid) nhưng thuộc quyền quản trị của hai cơ quan khác nhau và phục vụ các chương trình cụ thể khác nhau. Tôi và chắc cả anh đều không phải là những chuyên viên về hành chánh công quyền nên việc hiểu khác cũng là điều không tránh khỏi.

Tranh luận chính trị thường kéo dài triền miên, nhất là khi nhìn một vấn đề dưới hai góc cạnh khác nhau, sẽ chẳng bao giờ xong. Lấy trường hợp dân Kurd trong chiến tranh Iraq làm ví dụ. Tôi kết án Saddam Hussein đã tàn sát hàng trăm ngàn dân Kurd nhưng rồi anh hay người khác có thể nói rằng sở dĩ người Kurd bị Saddam Hussein giết vì một phần do Mỹ bỏ rơi, và nếu ta nhìn lui xa hơn nữa thì do Thổ Nhĩ Kì phân biệt chủng tộc, do Liên hiệp quốc bất lực, do cực đoan tôn giáo và do chính sự phân hóa trầm trọng trong lòng dân tộc Kurd nữa, v.v. và v.v.

Tôi chỉ xin nhân cơ hội này viết rõ hơn vài ý về Iraq tôi chưa viết hết trong bài trước. Khi nhấn mạnh việc "con người vẫn cần có nhau", trọng tâm của tôi nói đến là số phận của con người đối diện với thực tế chính trị hay xã hội chứ không nhằm phê phán hay binh vực cho chính sách của tổng thống Bush. Nếu chính phủ Pháp, Nga, Đức hay bất cứ một cường quốc tự do dân chủ nào góp phần vào việc lật đổ chế độ Saddam Hussein tôi cũng ủng hộ, không nhất thiết là chính phủ Mỹ. Với những hiểu biết về sự tàn bạo của Saddam Hussein - trong suốt hơn 30 năm cai trị Iraq bằng ám sát, tra tấn dã man không những đối với người khác chủng tộc, tôn giáo mà ngay cả đối với người thân thuộc và trẻ em còn trong bụng mẹ -, tôi nghĩ rằng chế độ đó phải được thay đổi. Bằng một cuộc cách mạng nhung, cách mạng xanh, cách mạng da cam? Ai cũng muốn được như thế. Nhưng những hình thức cách mạng ôn hòa chỉ hình thành trong những cơ chế chính trị cho phép lãnh tụ đảng hay nhà nước và guồng máy khủng bố công an, quân đội có một mức độ độc lập tương đối với nhau. Stalin, Franco, Kim Nhật Thành chỉ chết già chứ không ai lật đổ được. Fidel Castro và Khadafi cũng có thể sẽ chết già và rồi những mơ ước một đời sống tự do của bao nhiêu thế hệ con người bị áp bức cũng sẽ chết già mà thôi. Vua Norodom Sihanouk của xứ chùa Tháp còn hú hồn mỗi khi nhớ đến Pol Pot và dù căm ghét Việt Nam bao nhiêu ông đã phải viết trong hồi ký Chiến tranh và Hy vọng của ông: "Dù người Khmer chúng ta thấy sự hiện diện của Việt Nam trên đất nước ta hiện nay là ghê tởm và sỉ nhục đến đâu, đối với dân chúng đó vẫn là sự bảo vệ duy nhất chống lại việc bị Khmer Đỏ tàn sát.” (No matter how distasteful and humiliating we Khmer find the current Vietnamese presence in our country, it is the people's only protection against being massacred by the Khmer Rouge. - Norodom Sihanouk, War and Hope, The Case for Cambodia).

Vai trò của các cường quốc trong đời sống chính trị của các quốc gia nhược tiểu thời nào cũng thế. Những ai theo dõi cuộc tranh chấp Iraq đều biết rằng sự quyết tâm của các chính phủ Mỹ, Anh, Nhật để lật đổ Saddam Hussein bằng võ lực và sự chống đối phương pháp đó của Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, nói cho cùng, cũng chỉ vì quyền lợi của quốc gia họ. Chính phủ Mỹ chẳng căm thù gì Saddam Hussein và chính phủ Pháp, Nga cũng chẳng thương xót gì cho số phận hẩm hiu của ông ta. Tấm hình cụt hai tay trong thân hình lở loét của em bé Ali chắc chắn không treo trong phòng phác thảo chiến lược quân sự của Ngũ giác Đài và cũng chẳng bao giờ làm động lòng trắc ẩn của Putin hay Chirac khi họ nghĩ đến những mỏ dầu ở Iraq sắp rơi vào tay Mỹ.

Tôi vẫn nhớ một trong những cuốn sách chính trị đầu tiên tôi đọc khi còn ở trung học là bút ký của một lãnh tụ sinh viên Tây Ban Nha chống độc tài phát xít Francisco Franco Bahamonde. Khi quân đội của tướng George Patton đã giải phóng Paris và đang ồ ạt tiến về phía Nam, ông ta và các bạn thuộc phong trào sinh viên thủ đô Madrid cùng nổi dậy vì họ tin rằng quân đội của Mỹ, đại diện cho lý tưởng tự do dân chủ của thế giới lúc bấy giờ, sẽ vượt biên giới để giải phóng Tây Ban Nha khỏi ách độc tài phát xít Franco. Nhưng không, quân đội Mỹ dừng chân ở biên giới Pháp-Tây Ban Nha và không bước sang một bước. Kết quả, cả phong trào sinh viên bị đàn áp dã man. Bút ký, trong đó ghi lại niềm hy vọng và rồi tuyệt vọng của lãnh tụ sinh viên mà tôi không còn nhớ được tên, tìm được sau khi ông bị bắt và bị giết. Trong hơn 30 năm, không biết bao nhiêu phong trào nổi dậy tại Iraq đã bị đàn áp gấp ngàn lần dã man hơn cách Franco đã làm tại Tây Ban Nha.

Tôi không nghĩ người chăn cừu trên cánh đồng cỏ Iraq có khả năng thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ hay Anh, nhưng đồng thời tương lai của Iraq không hẳn nằm trong bàn tay quyết định của Anh hay Mỹ. Tương lai của Iraq tùy thuộc vào lòng yêu nước của nhân dân Iraq và sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo chính phủ dân cử Iraq sắp được bầu ra. Nhân đạo nhiều khi chỉ là những gì anh cho tôi trong lúc tôi đang cần, còn tại sao anh cho, anh nhân danh ai, Phật, Chúa, Allah, xăng, dầu,… không phải là quan tâm của tôi, ít ra trong lúc này. Ngày nào quyền lợi của anh và tôi tương hợp, chúng ta là bạn, nếu không sẽ chia tay nhau và có thể trở thành đối nghịch. Trong chính trị bạn hay địch chỉ là cách gọi, nhưng cơ hội lại là điều có thật. Một nhà lãnh đạo sáng suốt là người biết nắm lấy cơ hội do các biến chuyển quốc tế tạo ra để phục vụ cho sự tồn vinh của đất nước họ. Tôi hy vọng các nhà lãnh đạo của nước Iraq Mới sẽ vận dụng một cách hữu hiệu chính sách của các cường quốc vào công cuộc phục hưng và phát triển đất nước họ, tuy không được như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore trước đây, thì ít ra cũng gần với Ai Cập, Jordan, Pakistan, Thổ Nhĩ Kì trong thế giới Hồi giáo hiện nay. Như một người đến từ một nước chiến tranh và nghèo khó, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến cơ hội hiện đang có cho người dân Afghanistan, Iraq sau nhiều năm chịu đựng dưới các chế độ độc tài hà khắc.

Nhân dịp này, tôi cũng xin minh xác hai điểm hiểu lầm có tính cách cá nhân: 1. Tôi không chụp mũ anh và cũng chưa từng chụp mũ ai (thỉnh thoảng bị chụp mũ thì có). Tôi thành thật xin lỗi anh nếu cách viết của tôi đã làm anh cảm thấy bị xúc phạm. Khi viết "chống Mỹ cứu nước" tôi không viết theo nghĩa đen như anh hiểu lầm, mà để ám chỉ chung cho các đặc tính bảo thủ và định kiến chính trị còn tồn đọng trong con người cũng như trong nhận thức của những nhà lãnh đạo đảng hay nhà nước của một quốc gia, và vì thế, ngăn chận sự phát triển đa phương của quốc gia đó. Nói rõ hơn, tôi muốn nhắc đến chuyến viếng thăm chính thức Iraq ngày 14 tháng 3 năm 2002 của bà Nguyễn Thị Bình, phó chủ tịch nước CHXHCNVN và lời tuyên bố "khẳng định lập trường đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Iraq bảo vệ độc lập, chủ quyền và phản đối mọi hành động quân sự xâm lược", tương tự cách nói của bà tại Paris hơn 30 năm trước. Trong khi Liên hiệp quốc dùng áp lực để buộc Iraq phải cung cấp các tin tức về vũ khí hủy diệt hàng loạt và đại đa số các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia Hồi giáo quá khích cũng đều né tránh Saddam Hussein, chỉ có Việt Nam và Bắc Hàn là công khai ủng hộ? Nếu không phải vì bịnh "chống Mỹ cứu nước" thì là gì, chẳng lẽ gọi đó nhìn xa thấy rộng? 2. Tôi cũng hiểu anh dùng chữ “đười ươi”, như anh nói, "ám chỉ rất nhiều người", nhưng tôi chỉ tách ra một trong số nhiều người đó để bàn trong bài viết của tôi thôi. Những ám chỉ khác của anh không liên quan trực tiếp đến điều tôi muốn nói, vả lại tôi cũng không có khả năng bình thơ.

Tôi kính phục và học hỏi ở anh sự điềm đạm và nhã nhặn thể hiện trong bài viết của anh. Và đó cũng là lý do tôi viết những dòng này. Cám ơn anh đã dành thời giờ đọc, góp ý và xin kết thúc vấn đề ở đây.

© 2005 talawas

 


Tên:
Địa chỉ Email:
Nhận xét về bài viết: