Trận Lão Sơn trong cuộc chiến Trung-Việt
lần thứ hai năm 1984
Trần Trung Đạo
dịch từ bản Anh Ngữ của Xinhui
Lời
người dịch: Thời điểm là đầu năm 1984. Bài hát ca ngợi tình hữu nghị
Việt Trung “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, mối tình hữu
nghị thắm như rạng đông” của Đổ Nhuận không còn được hát trong những chương
trình Hoa Ngữ của đài phát thanh Hà Nội. Cuộc chiến Việt Trung lần thứ nhất
đã chấm dứt. Cả hai bên, vì lý do khác nhau, đều không cho dư luận thế giới
và nhân dân của họ biết, nhưng trên những đỉnh đồi, những ngọn núi dọc biên
giới Việt Trung, nhiều cuộc đụng độ lớn nhỏ vẫn thường xảy ra. Bài viết ngắn
dưới đây đăng trong trang Internet China Defence và cũng được in trong tác
phẩm Dữ Kiện Bí Mật Của Chiến Tranh Trung-Việt (Secret Records of
Sino-Vietnamese War) của ba tác giả Jin Hui, Zhang Hui Sheng and Zhang Wei
Ming là một trong số rất ít tài liệu về những trận đánh đã được tiết lộ. Bài
viết dựa theo lời kể của một trung đoàn trưởng pháo binh Trung Cộng. Mặc dù
nhiều đoạn không che dấu được tính khoát loát, cường điệu cố hữu, những dữ
kiện do viên trung đoàn trưởng cung cấp, cũng chứng tỏ rằng Trung Cộng vẫn
không từ bỏ giấc mộng thiên triều xâm lược bắt nguồn từ chính sách bá quyền
truyền thống của họ. Đồng thời, những lời kể cũng nói lên sự bất lực của
giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam chỉ biết cúi đầu thần phục, chỉ biết hối lộ
tham nhũng, sống xa hoa trên sự nghèo đói của nhân dân và không biết nhục
khi nhìn đất nước từng mảnh đang rơi vào tay Trung Cộng.
*
Bài tường thuật do môt Trung Đoàn Trưởng Pháo
Binh Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc trong cuộc chiến Trung-Việt lần thứ hai.
Tôi không biết chắc chắc mức độ chính xác của bản tường thuật nhưng khá gần
với những gì tôi đã được đọc về chiến tranh Trung-Việt lần thứ hai. Bài
tường thuật có nhiều dữ kiện rất chi tiết.
Lưu ý: Núi Lão Sơn, cao 1422 mét trên mặt biển.
Lão Sơn có nghĩa là “Núi Già” theo tiếng Tàu. Lão Sơn nằm bên trong lãnh thổ
Việt Nam gần biên giới Trung Quốc. Sau cuộc chiến 1979, Việt Nam đã xử dụng
đỉnh Lão Sơn như một trạm xuất phát, nơi các lực lượng Việt Nam điều hợp các
cuộc lục soát lớn vào Trung Cộng.
Đầu năm 1984, trung đoàn của chúng nhận lịnh
phải chiếm mủi Lão Sơn. Ngày 18 tháng 2 chúng tôi tiến đến Ei-Liang, và ngày
20 đến đồi Ma-Sho. Sau 40 ngày chuẩn bị, ngày 1 tháng Tư, 3 đại đội gia
nhập “Đề án 142”. Họ bắn vài loạt đạn về phía Việt Nam và rút ngay, để buộc
phía Việt Nam trả đủa, và qua đó, để lộ vị trí.
Chúng tôi dùng đại pháo để áp đảo địch. Ngày
26 tháng Tư, mọi việc đã được chuẩn bị sẵn sàng và Lực Lượng Đặc Nhiệm Pháo
Binh 119 được thành lập.
Để chiếm một căn cứ hỏa lực, chúng tôi tiến quân
vào ban đêm. Không ai được phép gây tiếng động. Chúng tôi tháo gỡ các bộ
phận súng 85 ly và chỉ lắp ráp lại sau khi đến căn cứ. Tầm hỏa lực chỉ cách
địch quân 500 mét. Để thấy đường đi, chúng tôi dùng các tấm vải trải giường
trắng. Chúng tôi bố trí súng đọc phía bên phải của một căn nhà hoang. Trung
đội 4 thám thính tiến quá sát với địch quân, chỉ cách địch 400 mét và trong
tầm bắn thẳng.
Ngày 28 tháng 4, lúc 5 giờ 50 sáng, pháo binh
bắt đầu khai hỏa. Sau 34 phút pháo kích, mặt đất như bắt đầu rung chuyển.
Lúc 6 giờ 24 phút sáng, khi trận pháo kích vừa ngưng, bộ binh mở cuộc tấn
công. Quân đội Việt Nam phản ứng trong vòng 2 phút. Và ngay trong những viên
đạn đầu tiên họ đã bắn hạ một trung đội trưởng của chúng tôi. Anh ta là đồng
chí đầu tiên hy sinh tại Lão Sơn. Chúng tôi bắn yểm trợ cho bộ binh. Bộ
binh tiếng bằng cách nhảy từ miệng hố đạn này sang hố đạn khác. Sau 9 phút,
chúng tôi chiếm được điểm cao 662.6, và 54 phút sau, núi Lão Sơn hoàn toàn
lọt vào tay chúng tôi. Đến 3 giờ 30 chiều, khoảng 20 điểm cao phía đông
điểm cao 662.6 cũng lọt vào tay chúng tôi. Chúng tôi cũng triệt hạ một xe
tăng địch bằng 5 phát pháo trực xạ.
Ngày 11 tháng 6, lúc 3 giờ sáng, một viên pháo
sáng được bắn lên. Chúng tôi tự hỏi chuyện gì đang xảy ra. Trong suốt 30
phút, chúng tôi không liên lạc được với các đơn vị khác bằng điện thoại.
Tiểu đoàn 2 thám thính cũng bị gián đoạn liên lạc. Duy nhất một trung đội
trưởng liên lạc được với chúng tôi và yêu cầu chúng tôi khai hỏa. Chúng tôi
từ chối với lý do các đơn vị bạn cũng ở ngay trong vị trí đó. Chúng tôi yêu
cầu 5 lính thám thính của tiểu đoàn 2 đến mặt trận, nhưng họ bị hỏa lực của
địch ngăn chận. Trời sáng, viên chỉ huy toán thám thính với cả đại đội thám
thính cũng bị đẩy lui. Tại điểm này chúng tôi biết các vị trí tiền phương
của chúng tôi đã bị địch quân tràn ngập. Vào 5 giờ 30 sáng, với sự yểm trợ
của tiểu đoàn pháo, chúng tôi mở cuộc phản công. Trong vòng 30 phút, chúng
tôi chiếm lại các vị trí đã mất. Lúc 6 giờ, địch quân mở cuộc tấn công mới.
Các đơn vị bộ binh của chúng tôi gọi pháo binh bắn yểm trợ. Khoảng 500 đến
600 địch quân tấn công vào phòng tuyến của chúng tôi giữa lúc các giàn tên
lửa của chúng tôi cũng bắt đầu khai hỏa.
Chúng tôi giữ được vị trí và bắn hạ khoảng 100
quân địch. Tiểu đoàn pháo thứ hai của chúng tôi cũng vừa gia nhập mặt trận
và tuôn đại pháo vào quân thù. Đến 3 giờ chiều, quân địch không thể nào đạt
đến vị trí phòng thủ của chúng tôi. Lực lượng tiếp viện của địch đang cố
gắng vượt qua sông và tấn công vào phía cạnh sườn của chúng tôi. Tư lịnh sư
đoàn ra lịnh chúng tôi khai hỏa. Trước hết chúng tôi hướng nòng pháo vào 10
độ phía bên trái và rồi 10 độ phía bên phải. Cả đại đội địch quân đã không
thể rút về vị trí của chúng.
Ngày 12 tháng 7, địch quân phản kích.
Sau 11 tháng 6, chúng tôi đã học được bài học.
Các ống phóng tên lửa do tôi chỉ huy. Pháo 82 ly do các tiểu đoàn chỉ huy.
Đơn vị pháo 100 mm được đào sâu vào và đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của
tôi. 12 trung đội đại pháo, bao gồm 4 trung đội xe tăng được phân phối cho
mỗi đơn vị. Các hỏa lực tăng cường sẽ được hướng dẫn để bắn thẳng vào
những con đường mà quân địch chắn chắn sẽ dùng để tiến. Những con đường đó
được chia ra. Mỗi đơn vị thám thính được chọn một hướng. Hai trung đội pháo
sẽ bắn vào con đường chính với mục đích làm chậm chân quân địch. Ba trung
đội tên lửa đóng trên cao điểm 152. Một trong số đó do Li Hai-Ren chỉ huy.
Mật ngữ để tấn công là Heo Rừng.
Ngày 12 tháng 7, chúng tôi biết được danh sách
các đơn vị địch quân. Theo sự ước tính của chúng tôi, địch quân gồm hai
trung đoàn thuộc sư đoàn 356, một trung đoàn thuộc sư đoàn 316, va 6 trung
đoàn độc lập sẽ tham gia trận đánh.
Chúng tôi quả quyết địch quân sẽ tấn công lúc 5
giờ sáng. Lúc nửa khuya, chúng tôi có 2.5 lần số đạn bình thường sẳn sàng
cho các khẩu pháo. Lúc 3 giờ sáng, tổng hành dinh thông báo 3 vị trí của
địch quân và ra lịnh khai hỏa vào các vị trí đó.
Sau tràng pháo thứ nhất, tôi nói chuyện với
trung đoàn trưởng Chang Yo-Hop. Tôi hỏi ông ta nếu ông ta là chỉ huy địch
quân, khu vực nào chắc chắn nhất ông sẽ tấn công. Viên trung đoàn trưởng
trả lời là khoảng rộng 300 mét phía bắc của dòng sông.
Tôi đồng ý với ông và chỉ thị cho 6 trung đội
trọng pháo tập trung hỏa lực vào mục tiêu 1000 mét chung quanh khu vực đó.
Tôi báo cáo quyết định đến bộ chỉ huy. Tư lịnh phó sư đoàn chấp thuận. Tôi
ra lịnh pháo binh bắn từng loạt cách nhau 10 phút. Sau loạt pháo thứ hai,
không có gì xảy ra (gạch bỏ phần chửi tục bằng tiếng Tàu). Tôi chỉ thị bắn
hỏa châu soi sáng khu vực và kết quả cũng không có gì. Thật phí đạn. Bộ tư
lịnh chỉ thị chúng tôi ngưng bắn. Lúc đó khoảng 3 giờ sáng. Nhiều binh sỉ
của chúng tôi lăn ra ngủ ngay.
Ngay lúc đó chúng tôi mới khám phá ra rằng lực
lượng tấn công của địch chỉ cách phòng tuyến chúng tôi 500 mét. Hai tiểu
đoàn trưởng của địch bị giết tại chỗ. Mặc dù không có chỉ huy, địch quân đã
không từ bỏ vị trí của chúng. Những lính bị thương cũng không rên rĩ. Họ di
chuyển thương binh ra khỏi khu vực sau khi hỏa châu vừa tắt. Kỹ luật của
quân địch thật không thể nào tin được.
Lúc 5 giờ sáng, cả địa ngục rung rinh. Trận đánh
bùng nỗ tại mọi phía. Chúng tôi bắt được tù binh đầu tiên và tại điểm này
chúng tôi đã gây thương vong trầm trọng cho địch quân. Qua các tù binh,
chúng tôi biết những gì đã xảy ra trước đó. Địch quân quả thật kỹ luật đến
nỗi họ tung ra cuộc tấn công ngay cả khi chỉ huy trưởng của họ đã tử trận.
Địch quân cũng rất giỏi dấu tung tích. Họ ngay cả không dùng một phương tiện
truyền tin vô tuyến nào trước khi tấn công.
Ngay khi địch quân tấn công, các đơn vị bộ binh
chúng tôi gọi pháo yểm trợ. Tôi lo lắng sẽ bắn nhầm quân bạn. Bộ chỉ huy ra
lịnh tôi khóa phòng tuyến bằng cách bắn vào làn sóng tấn công thứ hai. Làn
sóng tấn công thứ nhất thường là các đơn vị thám thính, nơi phía sau có thể
có cả trung đoàn đang yểm trợ. Các giàn tên lửa của chúng tôi nhả 13 tràng
liên tu.c. Ngoài ra các khẩu pháo 85 ly, 100 ly, 152 ly cũng tham gia phản
kích.
Chúng tôi bắn 200 mét về phía trước tại 6 điểm.
Từ bên trái đến bên phải và từ phía sau đến bên trái lần nữa. Hỏa lực pháo
chúng tôi dựng lên một bức tường lửa chung quanh các đơn vị của chúng tôi.
Chúng tôi giết rất nhiều địch quân, và nhiều ống phóng tên lửa của chúng tôi
nóng đỏ rực. Trong ngày đó, trung đoàn chúng tôi bắn trên 10 ngàn viên pháo.
Đến trưa, chúng tôi hết đạn. Khi tin này này
được báo lên tư lịnh trung đoàn Chang Yo-Hop, ông ta thật không vui. Không
có hỏa lực pháo yểm trợ, thật không có cách gì ngăn chận được sức tấn công
của 6 trung đoàn địch. Tôi đã gọi tăng viện đạn dược ngay khi viên pháo đầu
tiên được bắn đi.
Lúc 1 giờ chiều thì 470 xe tải chở đạn cũng vừa
tới. Quân đội Việt Nam đã chiếm lại được cao điểm 164. Một trong những tiểu
đoàn của họ chỉ còn 6 người sống sót nhưng họ vẫn tiến. Lực lượng bộ binh
của chúng tôi bắt đầu khai hỏa phản công ngay. Cuộc pháo kích nặng nề cày
nát điểm cao đó. Trong vòng 15 phút chúng tôi chiếm lại được cao điểm 164.
Quân Việt Nam từ chối rút lui. Làn sóng này sang làn sóng người khác tiếp
tục tiến lên giành lại ngọn đồi. Khi cuộc chiến tàn, chúng tôi đếm được
3700 địch quân địch bỏ thây trên mặt trận. Tư lịnh sư đoàn chúng tôi, cựu
chiến binh từ thời nội chiến, cũng phải nói rằng ông ta chưa bao giờ thấy
nhiều xác chết như thế. Chúng tôi tịch thu vũ khí và thắt lưng trên xác Việt
Nam và phân phát cho lính trong trung đoàn chúng tôi. Đêm đó, bảy chúng tôi
trong bộ chỉ huy trung đoàn với tư lịnh trung đoàn Chang Yo-Ho hút 4 bao
thuốc. Chúng tôi không thể ăn, uống sạch cả bốn thùng rượu.
Ngày 14 tháng 7, chúng tôi ra tín hiệu cho phép
phía Việt Nam để thu hồi xác chết. Chúng tôi chỉ thị cho họ mang cờ Hồng
Thập Tự, mỗi toán không được quá 50 người và không được mang theo vũ khí.
Một toán khoảng 60 đến 70 lính Việt Nam đến không có cờ. Khi biết chúng
không tuân theo chỉ thị vì đeo theo đúng, chúng tôi khai hỏa.
Chúng tôi không quan tâm gì sinh mạng của chúng.
Không một người nào trong nhóm lính này sống sót. Việt Nam chẳng còn đến thu
hồi xác chết nữa. Trời đang là mùa hè. Nắng rồi mưa. Không ai có thể chịu
được mùi xác chết. Chúng tôi buộc phải gởi các đơn vị chống hóa chất đến để
đốt tất cả xác chết bằng những ống phun lửa.
Trần
Trung Đạo