|
|
| Trang Chủ | Văn | Thơ | Thơ Anh Ngữ | Tác Phẩm | Tiểu Sử | Nhận Xét | Âm Thanh | Truyện Dịch |
|
hai gánh quê hương
tâm
bút Trần Trung Ðạ
Trong trí nhớ của tôi vẫn còn in
đậm hình ảnh chiếc Boeing của hãng Northeast bay ngược chiều kim đồng hồ đưa
chúng tôi từ Manila đến phi trường Chicago vào một ngày cuối tháng 11 năm
1981. Giọng người nữ tiếp viên hàng không êm ái cất lên lời tạm biệt. Tôi
không hiểu hết nhưng đại khái biết rằng cô ta vừa chào mừng chúng tôi sắp đặt
chân lên đất Mỹ. Tôi tự nhủ, "quãng đời lưu vong thật sự sắp bắt đầu". Bên
ngoài trời đẹp nhưng xa lạ. Quang cảnh ấm áp. Những tia nắng vàng dội vào
khung cửa kính phi trường. Vài cụm mây trắng bay lang thang trên nền trời xanh
nhạt.
Như lời bà hướng dẫn viên người
Phi dặn dò trước khi lên máy bay, chúng tôi, tay cầm chặt chiếc túi đựng hồ sơ
tỵ nạn có chữ ICM thật lớn, sắp một hàng dài dọc theo hành lang phòng đợi để
khỏi bị lạc. Người đầu tiên ra đón chúng tôi ở phi trường Chicago là một cô
gái Việt trẻ đẹp, có lẽ còn là sinh viên và đang làm việc cho cơ quan thiện
nguyện. Một ông Mỹ già đẩy đến cho cô ta một thùng áo quần và lặng lẽ bỏ đi.
Theo lịch trình đã được ấn định trước, tại Chicago chúng tôi sẽ được cấp phát
áo ấm mùa đông trước khi chuyển máy bay về địa điểm định cư cuối cùng trong
hành trình tỵ nạn. Trạm cuối của tôi là Boston.
Tôi biết và kính trọng thành phố
Boston văn hóa lịch sử, qua nhiều môn học, nhưng chưa bao giờ nghĩ có một ngày
sẽ là nơi tôi gửi gấm phần đời còn lại của mình. Người con gái đẹp mà tôi
không dám hỏi tên, phát cho mỗi người trong đoàn chúng tôi một chiếc áo ấm.
Tất cả đều cùng một cỡ như nhau. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn chiếc áo ấm dày cộm
rộng thùng thình hoàn toàn tương phản với bầu trời nắng chang chang bên ngoài.
Hiểu ý, với giọng Huế nhẹ nhàng, người đẹp dạy cho chúng tôi, những lưu dân
đến từ vùng nhiệt đới, bài học đầu tiên về thời tiết nước Mỹ: "Ngó vậy mà
không phải vậy đâu. Trời gạt mấy anh đấy. Ra ngoài không áo ấm vài phút là
chết cóng". Ngừng một chút, nàng cười tinh nghịch: "Ai không tin bước ra thử
thì biết". Nghe cô ta nói vui vui, tôi cũng định đáp lại bằng vài lời tán tỉnh
nhưng chợt nhớ ra đây không phải là quán cà-phê trên đường Duy Tân bóng mát mà
là thân phận hẩm hiu của một người tỵ nạn chân vừa chạm đất quê người, nên
đành im lặng.
Đúng như lời cô gái Việt ở Chicago
cảnh cáo, Boston chào đón tôi bằng những cơn bão tuyết triền miên suốt mùa
đông dài rét buốt. Đêm giao thừa của ngày Tết Việt Nam đầu tiên trên nước Mỹ,
không có bánh chưng xanh, không có rượu nồng pháo nổ, không một lời chúc tụng
ngoại trừ âm hưởng của những bông tuyết trắng bị gió đùa vào cửa sổ. Người anh
lớn tuổi nhất trong nhà đang cặm cụi sửa soạn một bàn thờ nhỏ trong phòng
khách để cúng ông bà. Bàn thờ đơn giản, chỉ một lon hương, hai cây đèn, một
nải chuối và một bình hoa. Tôi và những người ở cùng nhà ra khỏi phòng, nghiêm
trang đứng sau lưng anh. Anh khấn vái xong, chúng tôi, những kẻ không họ hàng,
thân thuộc gì với nhau, cũng lần lượt mỗi người thắp một cây hương, cúi đầu
vái ba vái. Không biết vái về đâu và cũng không biết từ phương Đông xa xôi, tổ
tiên ông bà có nghe được lời cầu nguyện của những đứa con đang lạc loài trên
đất khách hay không. Không có tiếng khóc trong đêm giao thừa đầu tiên nhưng
lòng ai cũng ngậm ngùi nặng trĩu. Cúng xong, chúng tôi không ai muốn đi ngủ
lại. Không nói ra, nhưng hình như người nào cũng sợ phải đối diện với nỗi cô
đơn, lạc lõng và thất vọng trong đêm giao thừa. Chúng tôi ngồi quây quần nhau
chung quanh chiếc bàn dài. Vài đĩa cánh gà chiên. Vài lon bia. Một bình trà.
Những bầu tâm sự. Những câu chuyện vượt biên. Mẹ già. Người yêu. Bạn bè. Em
gái. Và như thế, tôi đón cái Tết đầu tiên với những người xa lạ nhưng vô cùng
cần thiết trong đời sống mới, những người đã gọi nhau là đồng hương và tôi
cũng được hưởng thêm một tình cảm mới mà chúng tôi gọi là tình đồng hương.
Cảm giác lo sợ, bất an đó, trùm kín lòng tôi trong đêm giao
thừa đầu tiên ngồi nhìn tuyết rơi trắng xóa ngoài cửa sổ. Tất cả đều xa lạ. Từ
con người đến cảnh vật mùa đông, không ai và không có một ngoại cảnh nào có
thể gọi là cảm thông, chia xẻ dùm tôi. Trên vai tôi, một gánh quê hương và gia
đình nặng trĩu bên kia bờ đại dương. Gánh quê hương và tương lai của đời tôi,
hòa nhập vào nhau thành một. Tôi biết mình đang đứng ngọn núi cuộc đời đầy
chông gai thử thách. Nếu tôi vượt không qua được, đời tôi sẽ coi như bỏ đi.
Những tâm sự tôi mang theo trong lòng mỗi ngày một lớn hơn thêm và trở thành
một mối ám ảnh triền miên, đeo đuổi tôi trong suốt những năm đầu trên đất Mỹ.
Khi ngồi đăm chiêu trên bàn viết, bàn học, bận bịu trong sở làm, lúc lái xe
trên xa lộ và ngay cả khi chập chờn trong giấc ngủ, tôi vẫn nghĩ về Việt Nam
cùng với những vấn nạn mà quê hương tôi đang chịu đựng. Tôi
không khoe khoang lòng yêu nước. Lòng yêu nước vốn là một tình cảm tự nhiên,
chẳng có gì để gọi là khoe khoang hay cường điệu. Dải đất hình chữ S mà Chế
Lan Viên ví như "một con tàu xẻ sóng", đã chịu đựng quá nhiều đau thương bất
hạnh trong suốt hàng thế kỷ chiến tranh. Với tôi, dải đất hình chữ S kia là
hình ảnh của một giọt nước mắt chảy dài trong đêm tối, là bóng dáng co ro của
mẹ Việt Nam đang chờ những đứa con đi xa, xa tít bên kia bờ biển rộng. Tôi
nghe lòng đau nhói khi được tin quê nhà bị lũ lụt và xốn xang khi thêm một
người bị bắt giam. Bao nhiêu người đã và đang chết, trong thiên tai, trong
nghèo đói và trong ngục tù. Đọc bảng tổng kết kinh tế thế giới hàng năm của
Liên Hiệp Quốc mà tủi thẹn là một người Việt Nam. Viet Nam, Uganda, Etheopia,
New Guinea và nhiều quốc gia Phi Châu còn sống trong thời kỳ bộ lạc khác, được
sắp ngang hàng nhau về kinh tế. Bốn ngàn năm văn hiến, hào khí Đông A, truyền
thống Diên Hồng đang ẩn khuất ở nơi đâu?
Tôi thường gọi đất Mỹ nầy là đất tạm dung, trạm dừng chân của
tôi và hàng triệu đồng bào tôi, trên quãng đường dài lưu lạc. Tôi đi học vì đó
là chọn lựa duy nhất để có thể tồn tại và vươn lên trong xã hội Hoa Kỳ. Giống
như truyền thống Quảng Nam chúng tôi ngày trước, sự chọn lựa giữa đi học và
không đi học quan trọng không khác gì chọn lựa giữa sự sống và cái chết. Tôi
không kế thừa được hết truyền thống của tổ tiên xứ Quảng. Tôi đi học chỉ đủ để
đi làm và tôi đi làm chỉ để sống, để nuôi vợ nuôi con. Tôi trả thuế cho nước
Mỹ căn cứ vào những lợi tức mà tôi thu nhập được. Đó không phải là một nghĩa
vụ thiêng liêng theo kiểu "Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn đã
đóng góp được gì cho đất nước" (Ask not what your country can do for you; ask
what you can do for your country) của cố TT Kenedy. Nước Mỹ không phải là
"country" của tôi. Tôi trả thuế nhưng đó không thể gọi là đóng góp. Đóng góp
hàm ý nghĩa thiêng liêng, tự nguyện trong lúc trả thuế là một điều luật pháp
bắt buộc tôi phải làm nhằm trang trải cho các khoản chi dùng công cộng.
Ngày xưa tôi say mê kính mến Thomas Paine, Thomas Jefferson,
John Adams, những người cha tư tưởng của cách mạng Mỹ. Các tác phẩm, các diễn
văn của họ từng là niềm thôi thúc của thế hệ trẻ Việt Nam chúng tôi trên đường
mưu tìm một giải pháp hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ thật sự về cho dân tộc
Việt Nam. Những chiều nằm nghe bụng đói cào trong cư xá hay giữa bữa cơm xã
hội rẻ tiền ở góc đường Triệu Đà, chúng tôi vẫn cùng nhau mơ về một đất nước
Việt Nam tự do, ấm no, dân chủ. Dù đang đi giữa mùa bão lửa của quê hương,
chúng tôi vẫn cố nuôi hy vọng sẽ có một Thomas Paine, một Thomas Jefferson,
một John Adams Việt Nam xuất hiện. Nhưng khi đến đây và trở thành người Mỹ tôi
lại cảm thấy xa cách với họ hơn khi còn ở Việt Nam. Trong suốt gần mười năm
đầu sống trên đất Mỹ, tôi cảm thấy mình là người khách lạ tạm dừng chân, dửng
dưng với những biến cố lớn nhỏ quanh đời sống.
Tôi có cảm tưởng một ngày không xa, tôi sẽ từ giã nơi đây mà
không một chút gì lưu luyến. Tôi vẫn nghĩ một ngày không xa, tôi sẽ mang khăn
gói về lại với rừng núi Quế Sơn, nơi tôi đã cất lên tiếng khóc chào đời. Tôi
sẽ sống những ngày còn lại của đời mình dưới rặng tre già Nghi Hạ, nơi cha mẹ
tôi đã gặp nhau trong một đêm huyền diệu. Ở đó, những chén nước vối Quảng Nam
đã được dùng để thay cho chén rượu tân hôn của đôi trai gái thời loạn lạc.
Tôi có cảm tưởng một ngày không xa tôi sẽ ôm đàn về lại sân
trường cũ, nơi tôi đã từng say sưa đứng hát trong những chiều Chủ Nhật của một
thời tuổi trẻ xôn xao và nhiệt tình còn nóng bỏng. Ngày xưa, mỗi lần cất tiếng
hát "sống với quê hương tôi, chết với quê hương tôi" của nhạc sĩ Bùi Công
Thuấn, là mỗi lần tôi rưng rưng nước mắt. Đêm nằm nghe tiếng súng xa xa vọng
về, tôi xót thương cho số phận một dân tộc hiền hòa phải bị chìm đắm trong
chiến tranh, hận thù, tang tóc.
Ngày tôi đưa tay tuyên thệ làm một người Mỹ vừa được công dân hóa sau năm năm
thường trú, tôi cảm thấy buồn nhiều hơn vui, tủi thẹn nhiều hơn tự hào. Một
tên Mỹ da vàng không quê hương, không tổ quốc, ngơ ngơ ngác ngác giữa quê
người, có gì đáng để mừng vui. Viên thư ký sở nhập tịch hỏi tôi theo thủ tục,
có muốn thay cái tên cúng cơm của tôi bằng tên Mỹ. Tôi lắc đầu. Nhiều người đã
chọn đổi tên. Một số người làm như thế chỉ để dễ kiếm công ăn việc làm, nhưng
cũng một số khác để chứng tỏ mình biết hội nhập vào đời sống Mỹ. Việt Nam, với
nhóm người sau, đã đồng nghĩa với một thời quá vãng.
Tự do không bao giờ đủ nghĩa nếu
đó không phải là tự do trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Hạnh phúc
không bao giờ trọn vẹn nếu đó không phải là một niềm hạnh phúc chung, cùng
chia ngọt xẻ bùi với đồng bào ruột thịt của mình. Dân tộc tôi chưa có tự do,
đồng bào tôi chưa có hạnh phúc, thì tự do và hạnh phúc của cá nhân tôi chỉ là
một thứ tự do hạnh phúc riêng tư và ích kỷ. Có người sẽ cho rằng tôi là kẻ đạo
đức giả, cường điệu, khoe khoang. Không, tôi có thể không làm được hết những
điều tôi mơ ước, có thể tôi không đủ can đảm theo đuổi đến cùng những điều tôi
cho là đúng, nhưng tôi yêu đất nước và thao thức về đất nước từ tận đáy lòng.
Tôi có cảm tưởng tự do mà tôi có
trên đất nước tạm dung nầy chỉ là thứ tự do được người ta bố thí. Ngồi trên
thềm tòa nhà lịch sử Fanueil Hall ở Boston sau giờ tuyên thệ tôi làm bốn câu
thơ lục bát để kỷ niệm Ngày Vô Quốc Tịch:
Mặt mày hớn hở vui tươi
Boston,
thành phố nơi tôi ở, chiếc nôi của cách mạng Hoa Kỳ, được dân Hoa Kỳ xem gần
như là thánh địa. Nơi đây, từ bốn trăm năm trước đã có những di dân đầu tiên
trên chiếc tàu Mayflower giong buồm tiến vào vịnh Provincetown, Cape Cod. Nơi
đây, mỗi con đường, mỗi khu phố, mỗi căn nhà gạch ngói rêu phong là một di
tích lịch sử. Tên tuổi và địa danh của những quận như Concord, Lexington,
Bunker Hill đã đi vào lịch sử vẻ vang của cuộc chiến tranh giành độc lập từ
tay đế quốc Anh.
Người Mỹ không có một lịch sử dài
cả mấy nghìn năm như Việt Nam và nhiều quốc gia khác nên họ rất trân quý những
gì họ có. Cách nhà tôi vài con đường có một căn nhà gỗ rất sơ sài, cũ kỹ được
xây từ lâu lắm. Căn nhà không có gì đặc biệt. Nếu ở Việt Nam, chắc người ta đã
xô sập xuống làm củi chụm từ lâu nhưng ở Mỹ đó là tài sản quý. Căn nhà được
chính phủ bỏ tiền bảo trì và săn sóc chu đáo. Mỗi năm hàng triệu người Mỹ từ
khắp nơi đổ về Boston chỉ để được đi dọc theo con đường vào ngày 18 tháng 4
năm 1775, ông Paul Revere đã từng cỡi ngựa đi qua từ Charlestown Neck đến
Concord, Lincoln, Lexington để báo động "Quân Anh đang đến. Quân Anh đang
đến!" hay được đi dọc theo Freedom Trail, nối liền những di tích lịch sử của
thành phố Boston cách mạng. Với tôi, những con đường đó cũng chẳng khác gì
hàng trăm con đường chật chội khác ở Boston. Những con đường đó không thể nào
so sánh được với con đường Duy Tân có hai hàng me xanh tình tự ở Sài Gòn hay
đường Bạch Đằng đầy hoa phượng đỏ bên bờ sông Hàn Đà Nẵng.
Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ,
tôi mới sực nhớ ra rằng, tôi chưa bao giờ nói một tiếng cảm ơn những thủy thủ
đã cứu vớt tôi trong đêm hãi hùng trên biển Đông năm ấy. Lẽ ra, ít nhất mỗi
năm một lần, tôi nên gởi một tấm thiệp Giáng Sinh kèm theo lời cảm ơn về địa
chỉ của chiến hạm USS White Plains ở bộ Hải Quân Mỹ. Tôi tệ đến nỗi một việc
làm đơn giản như thế mà 20 năm qua tôi vẫn chưa làm được.
Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ,
tôi nhớ đến bà già Mỹ ở phi trường Chicago. Bà cụ cho tôi và vài người bạn tỵ
nạn đang đứng sắp hàng chờ máy bay, mỗi người một đô-la. Đồng bạc màu xanh là
vốn liếng đầu tiên của tôi trên đất nước nầy. Chúng tôi ấp úng mãi mới nói
được một tiếng "thank you" vụng về. Một người bạn đi cùng chuyến dùng đồng
đô-la đó để mua gói thuốc lá. Chúng tôi chia nhau hút. Bà cụ nhìn chúng tôi có
vẻ không vui. Tôi nhìn theo bóng bà cụ khuất dưới hành lang phi trường và cúi
nhìn tờ giấy bạc như không thể nào tin trên đời nầy có một người rộng lòng như
thế. Đối với cụ, vài đô-la có lẽ không quá lớn và có lẽ cụ đã cho những kẻ khó
khăn khác nhiều lần hơn thế. Nhưng với những người tỵ nạn hai bàn tay trắng,
đi sang Mỹ bằng đôi dép như tôi, đồng bạc đầu tiên có ý nghĩa vô cùng. Tôi
biết ơn cụ. Từ nhiều năm nay, tôi không giàu có để có thể làm những việc từ
thiện lớn, nhưng mỗi khi bước vào tiệm cà-phê, tiệm ăn có hộp lạc quyên của
các cơ sở từ thiện, tôi thường bỏ vào đó một đô-la như một cách riêng để cảm
ơn và tưởng nhớ đến cụ. Tôi kể lại câu chuyện nầy với các con tôi và dặn
chúng, mỗi khi có dịp, cũng nên làm như thế.
Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ,
tôi nghĩ về cả con đường Dorchester mà tôi mỗi ngày mấy bận đi qua. Giống như
đường Santa Clara ở San Jose, Bolsa ở Nam California, Colonial ở Orlando,
đường Dorchester là xương sống của xóm Dorchester chúng tôi. Bao nhiêu người
đã ăn nên làm ra cũng nhờ vào con đường nầy, mặc dù không phải ai cũng biết ơn
nó, không phải ai cũng nhớ tới nguồn gốc của chính mình, không phải ai cũng
nhớ đến những ngày đầu tiên đi sắp hàng mua từng vỉ cánh gà, từng gói mì ăn
liền bằng Food Stamps trong cái rét căm căm của miền Đông Bắc.
Trên con đường đó tôi đã gặp và
làm quen với một bác HO già. Bác thường hay đứng trước cổng nhà tôi để đón xe
đi làm tiền mặt. Chủ đưa bác đi đâu thì bác đi đó. Một hai tuần đi làm cho
hãng giấy, dăm ba tuần đi làm hãng nhựa. Bác vất vả nhưng tôi chưa hề nghe bác
than van. Năm nay, bác đã trên 60 tuổi. Mái tóc đã bạc phơ và bao nhiêu vết
nhăn đã hằn trên khuôn mặt già nua, kết quả của những năm dài lo âu và tù tội.
Tôi chợt nhớ bài thơ Người Lính Già ở San Jose tôi viết cách đây mấy năm khi
chương trình HO đang trong cao điểm. Có lần tôi hỏi bác mơ ước gì nhất bây
giờ, bác trả lời rất gọn: "Về nhà", nhưng rồi bác lại nói: "Dĩ nhiên khi đất
nước tự do". Tôi tin rằng đại đa số người Việt đều nghĩ và mong muốn như bác.
Tôi cũng tin rằng chúng ta dù có hàng trăm điều khác nhau, mâu thuẫn nhau,
không đồng ý với nhau, thậm chí còn cằn cựa lẫn nhau nhưng trong tận đáy lòng
của mỗi người Việt Nam tỵ nạn cũng đã chia xẻ một mẫu số chung quan trọng đó.
Khác với nhiều người khác, bác
không thích nói về chuyện riêng đời mình. Khi hỏi bác về chức vụ, bác cười:
"Tôi cũng như người lính già trong thơ anh thôi".
Trong diễn văn nổi tiếng đọc trước
quốc hội Hoa Kỳ, danh tướng Douglas McArthur đã kết luận bằng một câu danh
ngôn: "Người lính không bao giờ chết họ chỉ tan dần đi mà thôi". Người lính
già ở Boston đang tan dần vào lịch sử Việt Nam trong những cách khác nhau như
thế đó. Năm, mười năm sau, một trăm năm sau, hai trăm năm sau, các nhà sử học
Việt Nam biết đâu lại chẳng đến con đường Dorchester đầy bụi bặm để tìm lại
dấu vết của những người lính già VNCH đã tan đi như thế nào trên đất khách.
Trên con đường đó mỗi buổi sáng
tôi đã gặp hàng trăm em bé Việt Nam sắp hàng ở góc đường chờ xe bus đưa đến
trường. Những chiếc xe bus màu vàng nối đuôi nhau đưa các em đến tương lai huy
hoàng của nước Mỹ. Nói như cựu tổng thống Bill Clinton, các em là chiếc cầu
của tương lai hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Các em may mắn quá. May mắn lớn nhất
không phải chỉ vì các em được làm công dân của một cường quốc nhưng quan trọng
hơn, các em không phải sống trong những ngày cháo rau khoai sắn như hàng triệu
đứa trẻ cùng thế hệ các em bên kia bờ trái đất. Các em sẽ không bao giờ hiểu
thế nào về những cụm từ "kinh tế mới", "trại cải tạo", "kế hoạch nhỏ", "trồng
cây, trồng người". Các em sẽ lớn tự nhiên như cỏ dại, hoa rừng, vươn lên trong
cuộc đời một cách hiên ngang, không sợ hãi. Các em đâu biết rằng giờ nầy,
trong cơn mưa nầy, giữa mùa đông rét mướt nầy, ở An Giang, Mộc Hóa, Cần Thơ,
Rạch Giá, hàng ngàn đứa bé như các em không có một chiếc quần đùi để mặc. Các
em sẽ không bao giờ thấy hình ảnh một bà mẹ dang đôi tay ốm yếu che ấm cho bốn
đứa con không quần áo trong một chòi tranh ngập nước ở miền Tây. Các em sẽ
không bao giờ thấy hình ảnh những bà mẹ sắp hàng chờ bán máu để kiếm tiền mua
sữa nuôi con ở các ngân hàng máu Sài Gòn, Đà Nẵng.
Các em sẽ cố gắng học để trở nên
những Eugene Trịnh, những David Ho, những thiên tài gốc Á Châu đã làm rạng
danh nước Mỹ. Tôi chỉ muốn nói với các em một điều mà cách đây không lâu, một
nữ học sinh đã nói trong một hội nghị về nhân quyền ở Châu Âu: "Em không bao
giờ quên rằng em là người Việt Nam". Chừng đó đủ rồi, và chừng đó cũng can đảm
lắm rồi. Biết bao nhiêu người không nói lên được ngay cả những lời đơn giản
đó.
Ngày tổ tiên chúng ta vượt sông
Dương Tử cho đến bây giờ đã hơn bốn ngàn năm rồi. Em có biết rằng thân hình
nhỏ nhoi, mái tóc đen, chiếc mũi tẹt, màu da vàng mà em đang có là sự tích lũy
của bao nhiêu máu xương, mồ hôi, nước mắt trong suốt bốn ngàn năm di truyền
của giòng giống Lạc Long. Thế hệ của tôi, của cha mẹ các em, và nhiều trong số
các em, đã không chỉ vượt qua sông mà còn vượt qua cả một Thái Bình Dương bao
la sóng gió để tìm đất sống. Nhưng chúng ta cũng sẽ trở về với sông Dương Tử,
về với quê hương Việt Nam thân yêu các em ạ. Đất nước ta dù còn đang bị che
khuất bởi đám mây đen nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ đen như thế mãi.
Chúng ta hãy cùng hy vọng một ngày
không xa những giòng sông quê hương sẽ không còn bị những cặn bã rẽ chia, hận
thù làm vẩn đục. Các thế hệ trẻ Việt Nam như các em sẽ được lớn lên trong tự
do, no ấm, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau. Truyền thống của dân tộc
Việt Nam là "nhiễu điều phủ lấy giá gương", là "lá lành đùm lá rách", là "một
giọt máu đào hơn ao nước lã" chứ không phải độc tài hay thù hận.
Trên con đường Dorchester, tôi đã
gặp những quán ăn thanh lịch, những tiệm quán dễ thương, những cơ sở thương
mại tiện nghi và đa dụng. Nhưng quan trọng nhất Dorchester vẫn là nơi gặp gỡ
của những người quen thân đầy ắp chân tình. Buổi sáng đi ra đường là nghe
tiếng nói Việt Nam, nghe tiếng cười Việt Nam, tiếng chào hỏi Việt Nam vang lên
ríu rít. Nụ cười đâu mất tiền mua nhưng tặng nhau nụ cười là món quà tinh thần
quý giá nhất, làm ấm lòng nhau trong những mùa đông nơi đất khách như thế nầy.
Trong những chiếc áo còn dính đầy sơn, những chiếc quần còn đóng bụi, các chị
các anh đã quây quần, quấn quít lấy nhau. Cần gì phải biết tên, biết họ. Trên
thế giới nầy người ta có thể giả mạo nhiều thứ, tiền bạc, máy móc, dung mạo
nhưng tôi tin không ai có thể giả mạo được tiếng cười và tiếng khóc Việt Nam.
Cái đẹp và chiều sâu của thành phố Boston, của con đường Dorchester không thể
hiện ở chỗ nguy nga, tráng lệ, sang trọng nhưng là ở những tấm lòng của mỗi
người Việt Nam đang định cư trên thành phố nhỏ nầy.
Nhà văn Trần Hoài Thư, một trong
những nhà văn nổi tiếng trong sinh hoạt văn học Việt Nam trước và sau 1975
cũng đã yêu mến một cách say mê con đường Dorchester như chính tôi đã và đang
yêu mến. Anh chị Trần Hoài Thư nhiều lần đã ghé đến đây, đã yêu và đã viết về
con đường mà chúng tôi đang sống: "Mãi đến bây giờ, tôi vẫn chưa làm xong bài
thơ nói về một thành phố đã cho tôi những cơn say rất ngọt và những đêm thức
trắng trong mỗi lần tôi ghé lại. Bởi tôi đã bất lực trong việc diễn tả nỗi kỳ
diệu này. Những bạn hữu đã quen rất lâu hay những người mới gặp một lần. Những
tấm lòng tri âm và tri kỷ, v.v...Không phải ở Boston có MIT hay Harvard. Chúng
dành cho người bản xứ, từng một thời là nơi dành riêng cho giai cấp giàu có và
địa vị của Mỹ. Không phải Boston có thư viện rất nổi tiếng nằm bên bờ Đại Tây
Dương, với lối kiến trúc rất tân kỳ. Cũng không phải Boston có một mùa thu
tuyệt vời ở những cánh rừng ngoại ô. Cũng không phải Boston có một truyền
thống văn hóa rất đặc thù từ những người tiền phong theo chiếc tàu Mayflower.
Đó là chuyện của người bản xứ. Còn đối với người Việt xa xứ này, nó cũng vẫn
như mọi thành phố khác. Con đường Dorchester qua những tiệm ăn, tạp hóa Việt
Nam. Và một khu Việt. Và những gương mặt da vàng. Và những lời trao đổi bằng
tiếng mẹ đẻ vang trên bãi đậu xe. Đời sống vẫn bận rộn. Cõi lòng vẫn quay
quắt. Nhớ nhung vẫn bão bùng. Bạn hữu mấy thằng trôi thất tán. Mấy thằng đợi
một chuyến đò ngang...Cái mẫu số chung ấy là mẫu số của bất cứ người tị nạn
nào trong chúng ta...Cám ơn Boston với những con tim kỳ diệu. Nếu không có
những con tim này, tôi nghĩ, chắc chắn sẽ không có Trần Trung Đạo".
Đêm cuối trong căn nhà cũ, tôi
biết rằng mình không chỉ gánh trên vai một gánh quê hương.
Trần Trung Đạo
|