Thành thật mà nói, ngay
trước 1975 ở miền Nam, tôi đã thích đọc các tác phẩm của Marx, Engels cũng
như những tác phẩm phê bình họ, một phần vì thích tìm hiểu những hệ thống
tư tưởng mới nhưng quan trọng hơn vì một nửa dân tộc tôi bên kia sông Bến
Hải đang bị chi phối bởi hệ ý thức đó. Mỗi lần nhìn lên tấm bản đồ thế
giới là tôi tự hỏi, chủ nghĩa Marx là gì mà chỉ trong một thời gian ngắn,
gần một nửa dân số và một nửa đất đai trên thế giới đã rơi vào quỹ đạo
kiểm soát của ý thức hệ này.
Thế nhưng, muốn là một chuyện mà có để đọc hay không là chuyện khác. Sách
của Karl Marx không được dịch và phát hành công khai tại miền Nam. Các tác
phẩm của Marx, Lenin bằng ngoại ngữ, nếu có cũng chỉ là tài liệu nghiên
cứu riêng của các cơ quan chính quyền chuyên môn hay của các giáo sư đại
học chứ không được bày bán ngoài công chúng. Có một cuốn sách của giáo sư
Trần Văn Toàn, Tìm hiểu triết học Karl Max, nhưng dùng nhiều thuật
ngữ triết học và quá khó hiểu so với trình độ học sinh trung học như tôi.
Các sách giáo khoa cấp đại học đều trình bày rất tổng quát và dè dặt về
chủ nghĩa Marx ngay cả trong khi phê bình ý thức hệ này. Tôi vẫn nhớ thầy
Vũ Quốc Thông khi dạy môn Luật hiến pháp cho sinh viên năm thứ nhất chúng
tôi, đã dùng chữ “chủ nghĩa tập sản” thay cho “chủ nghĩa cộng sản” và thầy
Trần Văn Tuyên dạy môn Chính trị học quốc nội thì kể kinh nghiệm đấu tranh
vừa chống thực dân vừa đương đầu với cộng sản của thầy cũng như các đảng
phái quốc gia khác, nhiều hơn là phân tích chủ nghĩa Marx. Dù sao, những
kinh nghiệm sống của các thầy và các tác phẩm của Hoàng Văn Chí, Nghiêm
Xuân Hồng, Trần Văn Toàn và một số tác phẩm bằng tiếng Anh khác, đã cho
tôi những hiểu biết căn bản về chế độ cộng sản, một chế độ độc tài tuyệt
đối không chỉ trong chính trị mà trong tất cả các lãnh vực của đời sống xã
hội, cai trị đất nước bằng các phương tiện sắt máu, xóa bỏ mọi quyền tư
hữu, tiêu diệt không khoan nhượng các thành phần chống đối để cuối cùng
đạt tới mục tiêu xây dựng một xã hội cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Tôi bắt đầu thực sự đọc Marx sau 30 tháng 4 năm 1975 và tác phẩm đầu tiên
là Tuyên ngôn đảng cộng sản. Cuốn sách khá mỏng, khoảng 100 trang,
in chữ nhỏ trên giấy rất xấu, từ miền Bắc gởi vào. Ngôn ngữ trong tác phẩm
đúng như tên gọi tuyên ngôn nên rất khẳng định, đanh thép, câu nào cũng
mang tính khẩu hiệu và mệnh lệnh. Có lẽ ngoài các tác phẩm kinh điển tôn
giáo, không có một tác phẩm nào có nhiều ảnh hưởng, về mọi phương diện,
đối với loài người hơn là Tuyên ngôn đảng cộng sản. Tác phẩm được
dịch ra gần như tất cả thứ tiếng trên thế giới. Đối với các đảng viên đảng
cộng sản, hẳn nhiên Tuyên ngôn đảng cộng sản là cuốn sách gối đầu
giường, nhưng những người muốn biết chủ nghĩa cộng sản, hay chống cộng sản
cũng phải đọc tác phẩm này bởi lẽ không thể nói hiểu chủ nghĩa Marx mà
không đọc Tuyên ngôn đảng cộng sản.
Những năm sau đó, tôi có dịp đọc khá nhiều tác phẩm trong tuyển tập
Marx-Engels, các tác phẩm về nhà nước và cách mạng, Bút ký triết học
của Lenin, phương pháp lý luận về mâu thuẫn của Mao và một phần
Marx-Engels toàn tập được in trên giấy trắng đẹp bìa dày do Liên Xô tặng.
Tôi có cơ hội đọc về chủ nghĩa cộng sản một cách nghiêm túc từ những người
đã khai sinh ra nó, và qua đó, hiểu được thế nào là thời kỳ quá độ, chuyên
chính vô sản, đấu tranh giai cấp, giá trị thặng dư, quy luật lượng chất,
các hình thái kinh tế, duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, từ nhà nước
chuyên chính của giai cấp vô sản đến nhà nước tự tiêu vong, bản chất của
hàng hóa, lao động sống, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, bạo lực
và cách mạng, làm theo năng lực hưởng theo lao động, làm theo năng lực
hưởng theo nhu cầu và rất nhiều, rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác mà
tôi không có cơ hội đọc trước 1975.
Tôi còn nhớ trong một giờ triết học Marx-Lenin dành cho sinh viên từ các
đại học Sài Gòn chuyển sang đại học kinh tế sau 1975, khi được sinh viên
yêu cầu phác họa con đường phát triển xã hội để dẫn đến chế độ cộng sản
hiện đại, cán bộ giảng dạy môn kinh tế chính trị vẽ trên bảng hình một
chiến nón lá với những đường kim chỉ vòng quanh và mô tả tiến trình của xã
hội, từ chế độ cộng sản nguyên thủy đến cộng sản hiện đại, đã, đang và sẽ
diễn ra theo dạng vòng xoáy trôn ốc từ thấp đến cao và cao vô tận. Hình
thái sản xuất cộng sản khoa học là hình thái cao nhất và cuối cùng của
loài người. Thoạt nhìn hình vẽ, tôi có cảm tưởng đó là một ngọn núi cao
đầy đá nhọn và dân tộc Việt Nam còm cõi đang từ chân núi bò lên đỉnh cao
hút mắt. Xã hội cộng sản khoa học hiện đại trong lý luận của Marx sẽ gồm
toàn những bậc Bồ tát tu luyện đến trình độ hoàn toàn tự giác và những bậc
thánh nhân bác ái vị tha làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Dù có đến
được cũng phải đổi bằng hy sinh gian khổ của bao nhiêu thế hệ Việt Nam,
đừng nói chi chỉ là một xã hội được Marx phát họa từ việc quan sát các
biến động của nền kinh tế Đức, một nền kinh tế mà theo Marx, mức độ xã hội
hóa của nó cao đến mức được xem như là “đêm trước của cách mạng” vô sản.
Thật ra, so với sự phát triển kinh tế toàn cầu ngày nay, “đại tư sản Đức”
như Marx gọi, chỉ là giai đoạn đầu của kinh tế tư bản.
Con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản quả chẳng khác gì đường lên trời.
Nhận xét về chủ nghĩa Marx thì vô số. Một số người cho rằng học thuyết
Marx bắt nguồn từ lý tưởng rất nhân đạo nhằm giải phóng con người ra khỏi
các hình thức người bóc lột người để hướng tới một xã hội không giai cấp,
ở đó con người thật sự làm chủ cá nhân và xã hội một cách tự giác, tiếc
thay lý tưởng đó đã bị những tên độc tài lợi dụng.
Hẳn nhiên cũng rất nhiều tác phẩm phê bình quan điểm Marx, đặc biệt trong
lãnh vực triết học và kinh tế học, cũng như các phương pháp luận ông đã
dùng để giải thích thế giới.
Trong bài viết ngắn này, tôi không có ý định tóm tắt quan điểm ủng hộ hay
phê bình Marx, vì đơn giản sẽ quá dài và quá nhiều. Tôi chỉ nhắc đến một
điều không thể chối cãi, rằng học thuyết của Marx đã giúp cho Lenin,
Stalin, Mao, Kim Nhật Thành, Pol Pot, Hồ Chí Minh, Nicolae Ceausescu,
Erich Honecker v.v… những cơ sở lý luận, những phương tiện tư tưởng cần
thiết để xây dựng các chế độ độc tài tàn bạo tại các quốc gia họ.
Người đời có thói quen kết án Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot đã gây ra
tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, nhân dân Trung Quốc, dân tộc
Khmer. Chuyện đó không có gì mới lạ. Tội ác của họ bỏ xa mức độ dã man
được mô tả trong các tội trạng cấp đại hình. Tuy nhiên, làm thế nào một
nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao
lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc?
Khác với Mao nghèo nàn, Pol Pot là con của một điền chủ giàu có, được gởi
sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và
được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng
sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những
cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ.
Không cần phải nghiên cứu tâm lý xã hội sâu xa và phức tạp, phần kết luận
của Tuyên ngôn đảng cộng sản do Marx viết 1847, sẽ trả lời các thắc
mắc nêu trên: “Họ (những người cộng sản) công khai tuyên bố rằng mục đích
của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự
xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc
Cách mạng Cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản
chẳng mất gì hết, ngoài xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế
giới”.
Câu kết luận đó cũng xác nhận rằng tại Trung Quốc nếu không có Mao này thì
rồi cũng có Mao khác, ở Liên Xô không có Stalin này thì rồi cũng có Stalin
khác mà thôi, và Pol Pot ra lịnh giết người bằng búa không phải là một Pol
Pot nhã nhặn, lịch sự mà bạn học còn nhớ, mà là một Pol Pot đã nghiên cứu
tư tưởng Marx-Lenin trong thời gian học ở Pháp. Tôi có thể trích dẫn hàng
trăm câu Marx cổ võ cho sự tiêu diệt không khoan nhượng bằng bạo lực các
giai cấp đối nghịch với quyền lợi của giai cấp vô sản trong các tác phẩm
khác của Marx. Nhưng trong điều kiện Internet ngày nay, việc làm đó có thể
không còn cần thiết.
Bàn thêm về nhân đạo. Đối với chủ nghĩa Marx, tình yêu không điều kiện
được nhấn mạnh trong kinh điển các tôn giáo chỉ là những lời lừa gạt, ru
ngủ, là những giọt nước cá sấu của giai cấp tư sản. Tình yêu trong quan
điểm Marx phải gắn liền với tình yêu giai cấp. Người cộng sản không thể có
tình yêu sâu đậm dành cho giai cấp bị bóc lột nếu không có lòng căm thù
sâu hơn đối với giai cấp bóc lột. Hành động giết người, vì thế, không chỉ
thể hiện lòng căm thù giai cấp mà còn thể hiện tình yêu và lòng trung
thành đối với giai cấp vô sản. Điều đó giải thích cho chúng ta hiểu tại
sao Pol Pot không hề có một chút xót thương cho đồng bào cùng máu mủ của
mình, cũng như theo ông Nguyễn Minh Cần, lúc đó là Thường vụ Thành ủy Hà
Nội, viết trong bài “Xin đừng quên nửa thế kỷ trước”: “Trong suốt thời
gian Cải cách ruộng đất, ông Hồ, với tư cách là Chủ tịch nước, chưa hề ký
một lệnh ân xá nào cho một ai bị án tử hình.”
Nếu đồng ý với Ignazio Silone “Cách mạng giống như cây, phải được phán xét
từ trái của nó”, thì ai cho rằng chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa nhân đạo
chẳng khác gì chỉ chê cái quả thối mà không trách cây hư.
Những con số và tài liệu được ghi lại trong tác phẩm dày 858 trang, The
Black Book of Communism (Sách Đen về chủ nghĩa cộng sản) của sáu sử
gia quốc tế, bản tiếng Anh do Harvard University Press phát hành tại Mỹ,
cũng như trong nhiều tác phẩm phê bình chủ nghĩa Marx khác, cho chúng ta
thấy rằng để nhận xét một hệ thống tư tưởng là nhân đạo hay phi nhân,
không phải chỉ dựa vào những lời rao giảng, từ mục đích do những người
sáng lập phác họa ra, mà từ những phương tiện mà ý thức hệ đó cổ võ và hậu
quả do ý thức hệ đó gây ra.
Câu nói của Marx trong Tuyên ngôn đảng cộng sản: “Công nhân không
có tổ quốc” một thời gây tranh luận giữa những người cho rằng người cộng
sản là vô tổ quốc và những người cộng sản đang phát động các cuộc chiến
tranh dưới chiêu bài “giải phóng dân tộc”. Dù họ có tổ quốc đi nữa thì tổ
quốc cũng chỉ là bàn đạp, là đầu cầu chứ không phải là mục đích. Dân tộc
không phải là một khái niệm chỉ những người cùng huyết thống, cùng chia sẻ
một dòng của lịch sử và cùng nỗ lực cho một tương lai tươi đẹp cho các thế
hệ con cháu mai sau, mà đơn giản chỉ là chính quyền như Marx viết trong
Tuyên ngôn đảng cộng sản: “Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải
giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự
mình giành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp
tư sản hiểu.”
Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức
tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc
gia đã bị giết.
Cả một hệ thống cai trị được xây dựng trên hệ tư tưởng của Marx, một thời
tưởng như không có một hệ thống nào kiên cố hơn đã sụp đổ trong một thời
gian ngắn. Quả thật như một chân lý hiển nhiên và đơn giản, không bạo lực
nào có thể tồn tại mãi mãi.
Câu “bóng ma chủ nghĩa cộng sản” mà Marx đã dùng để thách thức quyền lực
của các nhà nước tư sản giữa thế kỷ 19, đã trở thành bóng ma của quá khứ.
Một trăm năm chục năm sau ngày công bố Tuyên ngôn đảng cộng sản,
nơi yên nghỉ của Marx tại nghĩa địa High Gates ở ngọai ô London cũng đã
nhiều lần được chọn để làm ngoại cảnh cho những cuốn phim ma. Nhắc đến mộ
của Marx, tôi chợt nhớ, cách đây không lâu, tình cờ đọc một bản tin ngắn
gởi đi từ Anh nhân ngày sinh nhật của Karl Marx, 5 tháng 5. Bản tin không
nhằm tường thuật buổi lễ mừng sinh nhật của ông tổ cộng sản vốn thường
được tổ chức tưng bừng tại các quốc gia cộng sản mà từ ông quản lý nghĩa
địa High Gates, nơi có ngôi mộ của triết gia cộng sản này. Trong bản tin,
người quản lý nghĩa địa High Gates than phiền rằng ông không có một ngân
khoản nào để mướn người cắt cỏ hoang trong nghĩa trang rộng 36 mẫu. Bản
tin cũng nhắc lại, trong sinh nhật đầu tiên sau khi Liên Xô tan rã, trên
mộ của Marx chỉ có một vòng hoa rất đơn sơ của một nhóm đảng viên cộng sản
Anh với hàng chữ viết trên mảnh vải vắt ngang: “Chúng tôi vẫn giữ vững
niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản”. Nhưng rồi, những năm sau đó thì không
còn ai đến nữa kể cả những người vừa thề thốt “Giữ vững niềm tin”. Từ sau
khi Liên Xô và hệ thống cộng sản thế giới sụp đổ không còn ai buồn thăm
viếng mộ Marx, và đương nhiên cũng không còn ai đóng góp tiền bạc để chăm
sóc mộ Marx.
Thế nhưng, còn có một nơi, bóng ma theo nghĩa bóng mà Marx ám chỉ trong
Tuyên ngôn đảng cộng sản lại là một bóng ma thật và còn đang ám ảnh
trong nhiều lãnh vực của đời sống xã hội. Nơi đó là Việt Nam.
Những phó sản của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam còn đầy dẫy: cơ chế
chính trị độc tài, nền kinh tế lạc hậu, xã hội sa đọa, đạo đức suy đồi,
hiện tượng sùng bái cá nhân, thói quen suy tôn lãnh tụ, lừa dối nhân dân,
bưng bít có chủ trương, đổ thừa có hệ thống.
Vì giới hạn của bài, tôi chỉ muốn nói đến một phó sản mà tôi cho là quan
trọng nhất, đó là sự lừa dối nhân dân trên đất nước chúng ta. Tôi tin nếu
một ngày những sự bưng bít và lừa dối nhân dân Việt Nam không còn nữa, các
thế hệ Việt Nam được quyền sống như những con người tự do, không còn sợ
hãi, thấy được sự thật thì độc tài, lạc hậu sẽ tức khắc bị loại bỏ.
Vì tác giả Đông La dùng tựa bài “Các Mác – Một tình yêu bao la”, dựa theo
tên bài hát “Bác Hồ, Tình yêu bao la” của Thuận Yến nên tôi cũng dùng tựa
bài hát “Bác Hồ, Tình yêu bao la” để phân tích vài điểm về tính lừa dối có
chủ trương và hệ thống đang tồn tại tại Việt Nam.
Tôi biết rất đông người Việt trong nước vẫn còn tin rằng “Bác Hồ” của họ
có một “tình yêu bao la” dành cho dân tộc Việt Nam, tương tự như Marx đã
có một “tình yêu bao la” dành cho nhân lọai. Tin hay không tin là quyền
của mỗi người, điều đó không có gì phải bàn, tuy nhiên tôi thắc mắc làm
thế nào để biết ông Hồ có “tình yêu bao la” trong khi tất cả những gì đại
đa số người Việt đang sùng bái ông Hồbiết về ông ta đều chỉ qua những dữ
kiện, tài liệu do Đảng bào chế, gạn lọc và giảng dạy?
Bộ máy tuyên truyền của Đảng bắt 80 triệu người dân Việt, từ một em bé vừa
tập nói cho đến cụ già đang mất dần trí nhớ, phải học thuộc, phải tin,
phải lặp đi lặp lại những khẩu hiệu, những lời sùng bái, ca tụng ông Hồ
cho đến khi chúng được ghi sâu vào ý thức của con người, trở thành một
phần thiêng liêng trong đời sống đạo đức và tình cảm của con người.
Là con người, dù người Mông Cổ, người Anh hay người Ý, cũng đều có cha mẹ,
ông bà, nội ngoại nhưng người Việt Nam khác với người Mông Cổ, người Anh,
người Ý một điểm, ngoài các tôn ti trật tự trong gia đình mà ai cũng có,
người Việt lại còn có thêm một “Bác” nữa. Tôi cam đoan nếu một đề thi
tuyển đại học hỏi về “Tình yêu bao la” của ông Hồ, tất cả bài trả lời của
học sinh trung học tại Việt Nam đều sẽ giống hệt nhau. Những tài liệu,
những khám phá khác, dù chưa hẳn xấu, đều bị ngăn cấm xuất bản, tịch thu
và tác giả của tài liệu đó bị trù dập đến nỗi không ngóc đầu lên được.
Một sinh viên năm đầu cũng biết phương pháp căn bản của mọi nghiên cứu
khoa học là hoài nghi, đặt vấn đề, phản đề, đối chiếu, phân tích và tổng
hợp. Nếu đồng ý như thế thì bao nhiêu người Việt Nam hiện nay, có quyền
hoài nghi một cách công khai về cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ, có quyền
so sánh những gì họ học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa với những công
trình nghiên cứu độc lập khác, có quyền nói lên điều họ không đồng ý?
Trước ngày 25 tháng 12 năm 1989, ngày mà Nicolae Ceausescu và vợ là Ela
Ceausescu bị chính quyền cách mạng quyết định đem ra xử bắn về tội diệt
chủng, bỏ đói đến chết hàng ngàn trẻ em, tàn phá tài sản đất nước v.v…,
tuyệt đại đa số nhân dân Romania vẫn tin ông ta chính là thiên tài của tất
cả dân tộc vùng Trung và Đông Á (Genius of the Carpathians) và hẳn cũng có
nhiều người dân Romania đã tin Nicolae Ceausescu có một “tình yêu bao la”
sâu đậm dành cho dân tộc Romania như được mô tả trong bức hình vợ chồng
Nicolae Ceausescu đứng giữa đám trẻ em bụ bẫm có đôi cánh thiên thần đang
bay về phía bình minh cộng sản được trịnh trọng trưng bày trên khắp các
công viên lớn.
Giống như Nicolae Ceausescu, hình ảnh Mao Trạch Đông vẫn còn được xem như
một người có “tình yêu bao la” dành cho nhân dân Trung Quốc. Qua bộ máy
tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao biểu tượng cho đức tính
khiêm cung, đơn giản, là tấm gương đạo đức xã hội chủ nghĩa mà hàng tỉ dân
Trung Quốc phải soi. Những tấm ảnh của Mao chụp chung với đám nhi đồng
choàng khăn đỏ, được trưng bày trong viện bảo tàng đều là hình ảnh của một
nông dân chất phát, hiền hòa, luôn có một nụ cười nhân hậu. Nhưng qua hồi
ký của bác sĩ Li Zhisui, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông, Mao là một kẻ
hoang dâm vô độ, làm tình không những với các cô gái trong các đoàn văn
công quân đội mà còn mò mẫm ngay cả các cậu cận vệ trẻ tuổi đẹp trai phục
vụ cho Mao: “Tình dục của Mao không chỉ thể hiện với nữ giới mà thôi.
Những thanh niên phục vụ cho Mao cũng phải đẹp trai và mạnh khỏe và một
trong những nhiệm vụ của họ là đấm bóp cho Mao hàng đêm như một cách giúp
cho Mao dễ ngủ. Trong việc nắn bóp, Mao đòi hỏi cả háng của y cũng phải
được nắn bóp. Vào năm 1960, một thanh niên phục vụ Mao không chịu làm công
việc nầy và xin chuyển công tác. Trước khi đi y thổ lộ với tôi "Ðó là công
việc của đàn bà chứ không phải đàn ông." Sau đó, tôi cũng đã chứng kiến
một dịp khác xảy ra trên xe lửa vào năm 1964, trong lúc một nam phục dịch
chuẩn bị chỗ ngủ cho Mao thì Mao vồ lấy anh thanh niên để mò mẫm và ráng
kéo anh ta vào giường ngủ của y.” (The Private Life of Chairman Mao
của Dr. Li Zhisui, trang 358-359).
Tưởng cần nhắc lại, bác sĩ Li là một bác sĩ chuyên nghiệp, vào Đảng Cộng
sản sau khi lục địa Trung Quốc bị nhuộm đỏ, không quan tâm đến chính trị,
được trọng vọng trong suốt thời kỳ Mao cai trị, không hề bị thất sủng,
không bị bắt bớ, giam cầm hay hành hạ trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa.
Trở lại với Việt Nam. Tôi đọc khá nhiều bài viết về “cách mạng tư duy” hay
cổ võ cho “tinh thần Thánh Gióng” của nhiều người trong nước, đặc biệt
những người trẻ đang sinh họat trong guồng máy của Đảng. Tuy nhiên cho đến
nay, ngoại trừ các nhà phản kháng nằm ngoài hệ thống Đảng, chưa ai dám
thách thức vai trò chủ đạo của Đảng Cộng sản trong tiến trình cách mạng tư
duy đó. Trong lúc tôi thông cảm với các tác giả, những người vừa mang khát
vọng phục hưng đất nước lại vừa khó có thể từ bỏ ân huệ bổng lộc của chế
độ ban cho, tôi vẫn tin sự can đảm là đức tính cần phải có của một người
trí thức.
Đặc tính của mọi cuộc cách mạng là triệt để và cách mạng tư duy cũng không
thoát khỏi quy luật đó. Nếu không, đó chỉ là những cải cách nửa vời, vá
víu, sáo rỗng. Chống tham nhũng không phải là một hình thức cách mạng tư
duy vì tham nhũng sẽ không bao giờ bị tận diệt nếu các điều kiện tạo ra
tham nhũng còn tồn tại. Làm thế nào để trong sạch hóa chính quyền khi các
cơ quan nhà nước (hành pháp, lập pháp và tư pháp) không có sự phân quyền,
độc lập và kiểm soát lẫn nhau? Làm thế nào để trong sạch hóa xã hội khi
sinh mạng của hơn 80 triệu người tập trung trong tay của một nhóm vài chục
người?
Trong lúc ở một phần lớn thế giới, chủ nghĩa cộng sản đã là bóng ma của
quá khứ, học thuyết Marx chỉ còn trong thư viện nghiên cứu, hàng triệu học
sinh, sinh viên Việt Nam vẫn phải tụng một cách từ chương mỗi ngày những
khái niệm, những định nghĩa, những giá trị đã lỗi thời. Con đường dân tộc
đang đi, tuy không còn nghe tiếng bom rơi, đạn hú nhưng có nhiều tiếng
xiềng xích khua vang, tiếng người rên siết. Đất nước Việt Nam tuy không
còn những đại lộ kinh hoàng, những cánh đồng nhuộm máu, nhưng đã mọc lên
thêm rất nhiều nhà tù và sân bắn, các thế hệ Việt Nam măng non của hai
miền vẫn tiếp tục lớn lên trong hận thù và nghi kỵ lẫn nhau.
Cuộc chiến tranh bằng súng đạn gắn liền và phục vụ cho quyền lợi của các
đế quốc Mỹ, Liên Xô, Trung Cộng trên quê hương Việt Nam đã chấm dứt hơn 30
năm, nhưng một cuộc chiến tranh mới, khó khăn, gian nan và làm tiêu mòn
sinh lực dân tộc hơn nhiều cũng bắt đầu ngay từ hôm đó. Cuộc chiến mới
không phải riêng của nhân dân miền Nam hay nhân dân miền Bắc, không phải
riêng của người Việt trong nước hay người Việt hải ngọai, không phải của
những người từng bị chế độ cầm tù hay những người một thời chiến đấu trong
hàng ngũ Việt Minh. Cuộc chiến mới là của dân tộc Việt Nam chống lại ý
thức hệ ngọai lai xâm lược.
Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Marx vào Việt Nam, chúng ta sẽ thấy
cuộc chiến đấu mới sẽ rất khó khăn, bởi vì kẻ thù của một người Việt Nam
trong cuộc chiến mới không phải mắt xanh, mũi cao, da trắng, không phải ai
xa lạ mà nhiều khi lại là quá khứ của chính người đó. Từ bỏ thói quen
cà-phê, thuốc lá đã là khó đừng nói chi từ bỏ cả một phần đời đầy kỷ niệm
có tất cả những đau thương và hạnh phúc, có vui và buồn, có những phút
vinh quang và có cả những vết thương còn hằn sâu trên thân thể, không phải
là chuyện dễ dàng.
Tôi thường nói vui với bạn bè, quyết định ẵm cô gái đẹp xuống ghe thì dễ
nhưng để cô ta lại trên bờ bên kia và ra đi trong an nhiên tự tại mới là
chuyện khó. Bao nhiêu người trong số hàng trăm ngàn người Việt chiến đấu
trong hàng ngũ Việt Minh để giải phóng dân tộc trước 1954 thấy được sự
khác nhau giữa chiếc ghe cộng sản giúp cho họ qua sông và chiếc ách cộng
sản đã và đang nhiễm trùng sâu xa trong cổ họng của dân tộc mình. Rất ít.
Và cho dù thấy được cũng chưa bao nhiêu người dám bỏ ra đi, đừng nói chi
là chống lại. Có lẽ ngoại trừ ông Trần Xuân Bách, người duy nhất nhắc đến
khái niệm dân chủ hóa, dù để cứu Đảng, trong khi ông còn là một Ủy viên Bộ
Chính trị, hầu hết các nhà phản kháng thuộc thế hệ 1945 chỉ nói đến dân
chủ tự do khi trong tay không còn một tấc sắt.
Nói như thế không có nghĩa là tôi không kính trọng các nhà phản kháng cao
niên trong nước hiện nay. Tôi kính trọng họ vô cùng. Các chú các bác đã
dám nói lên những điều mà ít ai dám nói. Yêu nước không bao giờ sớm và
cũng chẳng bao giờ trễ. Nói lên một tiếng nói yêu nước, dù trong lúc tàn
hơi, trong tuổi về già vẫn còn hơn những người khác, trẻ hơn, có học hơn
mà chỉ chỉ biết ngậm miệng ăn tiền, nhắm mắt làm ngơ trước nỗi bất hạnh
của dân tộc mình.
Cách đây năm tháng, tôi đến đại học Harvard để nghe cụ Hoàng Minh Chính
nói chuyện. Ngồi nhìn cụ già 80 tuổi, mái tóc bạc phơ, thân thể ốm o,
khuôn mặt xương xẩu, mang bịnh nặng trong người mà vẫn cố gióng lên khát
vọng tự do dân chủ cho dân tộc mình, tôi rất xúc động và cũng tự cảm thấy
hổ thẹn vì tôi còn trẻ hơn ông rất nhiều. Dù sao, tôi đã đến. Tôi đến
không phải để nghe cụ Hoàng Minh Chính nói về Tuyên ngôn đảng cộng sản
hay bàn về Phê phán cương lĩnh Gotha của Marx, mà đến để cám ơn cụ
và qua cụ cám ơn những nhà phản kháng khác trong nước. Cụ có thể không làm
mới hơn trong tôi những lý luận, kiến thức về chủ nghĩa Marx nhưng chắc
chắn cụ đã làm ấm hơn trong lòng tôi niềm tin vào tương lai dân tộc.
Rồi mai đây nước non ngàn dặm, cát bụi vô thường, cụ Hoàng Minh Chính sẽ
ra đi và tôi cũng sẽ ra đi nhưng có một điều tôi tin, dân tộc Việt Nam có
những bô lão như cụ Hoàng Minh Chính, cụ Hà Sĩ Phu, bác sĩ Nguyễn Đan Quế
và những người trẻ hơn như các anh Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn
Vũ Bình, Đỗ Nam Hải v.v.. dân tộc Việt sẽ sớm phục hưng.
Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, bốn ngàn năm đã chảy qua bao nhiêu
thăng trầm ghềnh thác nhưng phải tiếp tục chảy, chảy cho ngày mai, chảy
cho các thế hệ Việt Nam mới, được lớn lên trong thương yêu đoàn kết, dù
phải vượt qua nhiều thác ghềnh đang đợi chờ phía trước.
© 2006 talawas