Trang Chủ  | Văn  | Thơ   | Thơ Anh Ngữ   | Tác Phẩm  | Tiểu Sử  | Nhận Xét  | Âm Thanh  | Truyện Dịch

 

 

Lá Phiếu Ismail Darramy

 Trần Trung Đạo

                                                                  Viết tặng mạng lưới Viet-Vote Boston

Anh ta không phải là Nelson Mandela nổi tiếng của Nam Phi và cũng không phải là Martin Luther King, Jr anh hùng của nước Mỹ.  Không ai trao cho anh giải Nobel Hòa Bình hay vinh danh anh là tù nhân lương tâm. Trước ngày 14 tháng 5 năm 2002 không bao nhiêu người biết đến tên anh. Nhưng anh đã trở thành niềm thôi thúc, tấm gương sáng những người yêu dân chủ khắp năm châu.

Anh là ai? Anh là Ismail Darramy, người con trai của xứ Sierra Leone và là một chiến sĩ dân chủ can trường bất chấp súng đạn của độc tài quân phiệt. Ngày 14 tháng 5 năm 2002 là ngày đẹp nhất trong đời anh. Trước hết, bởi vì hôm đó là ngày anh đi bỏ phiếu để bầu nên một chính phủ dân chủ đầu tiên cho quê hương anh sau một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài suốt 9 năm.Thứ hai, đó cũng là ngày lý tưởng dân chủ của riêng anh, cuối cùng đã chiến thắng trước súng đạn của quân phản loạn được mệnh danh là Mặt Trận Đoàn Kết Cách Mạng Sierra Leone (RUF). Không có chiến thắng nào mà không phải hy sinh. Đúng thế. Anh Ismail Darramy đã hy sinh cả hai bàn tay, không phải ngoài mặt trận mà trong phòng bỏ phiếu. Trong cuộc bầu phiếu cưỡng bách và gian lận lần trước, anh đã nhất định không bỏ phiếu cho quân phiến loạn RUF. Chúng đã trả thù bằng cách chặt đứt cả hai bàn tay bỏ phiếu của anh. Hình phạt bất nhân đó đã làm anh trở thành tàn phế nhưng không giết chết được lý tưởng dân chủ của anh.

Dân chủ là bản hùng ca tuyệt vời nhưng cũng nhiều khi vô cùng bi tráng. Tiếng gọi của dân chủ tự do mạnh đến nổi bao nhiêu triệu người đã hy sinh mạng sống cho hai tiếng thiêng liêng đó. “Hãy cho tôi tự do hay cho tôi được chết” (Give Me Liberty Or Give Me Death), Patrick Henry đã từng gào lên như thế.

Thế kỷ hai mươi là thế kỷ của nhiều thảm họa nhân loại nhưng đồng thời cũng là thế kỷ đánh dấu khả năng của con người có thể vượt qua thảm họa bằng con đường dân chủ. Năm 1974, chỉ có 41 nước trong số 150 quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ, phần lớn là các quốc gia kỹ nghệ tân tiến Châu Âu. Năm 1990, ba phần năm tổng số quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Từ anh chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ cho đến người thợ mỏ Nam Phi đều đã có quyền chọn lựa người lãnh đạo của mình. Dân chủ đã trở thành một hiện tượng toàn cầu (a global phenomenon) như Giáo Sư Larry Diamond của Viện Hoover nhấn mạnh. Ngoại trừ một vài quốc gia đang cố bám vào  ý thức hệ Cộng Sản lạc hậu lỗi thời như Bắc Hàn, Việt Nam, Trung Cộng, Cuba, đa số quốc gia đều có ít nhất hai chính đảng hoạt động và đóng vai trò đối lập, kiểm soát lẫn nhau trong việc điều hành đất nước.

Dân chủ là một kỳ quan tinh thần của nhân loại, và kỳ quan đó không phải được xây nên trong một sáng một chiều. Căn nhà dân chủ của Hoa Kỳ, đất nước mà chúng ta đang sống,  cũng đã đánh dấu bằng những nổ lực, những đấu tranh không ngừng nghĩ để kiện toàn. Người Mỹ da đen, trên danh nghĩa, được tự do sau chiến tranh nội chiến, nhưng mãi đến những năm đầu thập niên 60, quyền ứng cử và bầu cử của họ vẫn chưa được hoàn toàn tôn trọng. Trên thềm đài kỷ niệm Lincoln ngày 28 tháng 8 năm 1963, Mục Sư Martin Luther King, Jr. vẫn còn nhắc đến quyền bình đẳng của con người như một ước mơ: “Tôi mơ một ngày, trên đồi Georgia, con cháu của những người nô lệ cũ, và con cháu của những chủ nô cũ, ngồi lại với chung một bàn trong tình huynh đệ...Tôi mơ một ngày, bốn người con của tôi sẽ được sống trong một đất nước, nơi đó, chúng sẽ không bị phán xét do màu da mà chính bằng tư cách riêng của chúng.” Những người phụ nữ Mỹ phải tốn cả trăm năm tranh đấu cho quyền bầu cử của họ và mãi cho đến năm 1920 quyền này mới chính thức được công nhận. Những bài viết, những cuộc vận động của các bà Elizabeth Cady Stanton, Lucy Stone và Susan B. Anthony đã thay đổi khuôn mặt của nền dân chủ Hoa Kỳ. Quyền bầu cử là phương tiện căn bản và quan trọng nhất để thể hiện tinh thần dân chủ, thể hiện quyền của cá nhân trong việc tạo thành các quyết định có tính cách tập thể. Không có quyền đó, tất cả quyền còn lại của một công dân chỉ là những chiếc bánh vẽ treo trên bức tường dân chủ mà thôi.  Và từ đó đến nay, căn nhà dân chủ Hoa Kỳ đã mỗi ngày thêm kiện toàn, thêm khởi sắc để trở thành mẫu mực cho trào lưu dân chủ của thế giới ngày nay.

Trước làn sóng sinh hoạt dân chủ sinh động, đa dạng và thay đổi nhanh chóng trong đời sống chính trị Hoa Kỳ, với một cộng đồng 1,156,000 người Mỹ gốc Việt, theo thống kê chính thức của chính phủ Mỹ năm 2000 ( con số thực chắc chắn cao hơn nhiều), đang định cư khắp 50 tiểu bang Mỹ, và với những gương thành công vượt bực trong giáo dục, trong kinh tế mà cộng đồng người Việt đang đem lại cho quốc gia này, chúng ta hẳn nhiên cũng có lần tự hỏi, liệu có một chỗ đứng nào dành cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt  trong đời sống chính trị nước Mỹ hay không? Liệu những đóng góp về kinh tế, thành công trong giáo dục của cộng đồng người Mỹ gốc Việt có gây nên một ảnh hưởng nào trong đời sống chính trị của nước Mỹ hay không? Trước khi đi tìm những câu trả lời thích hợp cho những câu hỏi vừa nêu, chúng ta cũng nên tìm hiểu các đặc điểm hình thành của cộng đồng người Mỹ gốc Việt so sánh với sự hình thành của cộng đồng các sắc dân khác.

Các cộng đồng người Mỹ gốc Ý, người Mỹ gốc Đức, người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, khi rời xa tổ quốc của họ, họ đã  thật sự chặt chiếc cầu với quá khứ. Sự ra đi của họ đúng nghĩa  đi là hết, đi không hẹn ngày về. Họ chỉ còn tương lai. Không phải  tương lai của con cháu họ mà cả tương lai của chính họ. Họ không dừng lại lâu ở những cộng đồng mang bản sắc địa phương, nhưng hội nhập nhanh chóng vào sinh hoạt chính trị của nước Mỹ. Họ tức khắc, nếu không ứng cử thì cũng ủng hộ các ứng cử viên có cùng gốc gác, cùng chủ trương như họ. Họ cạnh tranh triệt để không những trong lãnh vực kinh tế thương mại mà cả trong lãnh vực công quyền để bảo vệ quyền lợi và thế đứng chính trị của sắc dân họ.

Cộng đồng Việt Nam chúng ta thì khác. Khi xa quê hương, mỗi người Việt Nam, dù ra đi bằng đường biển, đường bộ hay ra đi theo diện HO, đều mang trên vai cả một hành trang quá khứ đầy u uất. Thậm chí có người trong chúng ta khi bước lên ghe, lên máy bay còn quay lại nhìn sông núi mà thề hẹn một ngày về quang phục quê hương khỏi xích xiềng Cộng Sản. Trong niềm vui được cất cánh bay về hướng mặt trời rực rỡ, chúng ta không quên được phía sau lưng mình là một đất nước đang chìm trong đêm dài tăm tối. Trong nụ cười hân hoan được làm người tự do, chúng ta không dấu được nỗi đau khi nghĩ đến một tự do khác chúng ta chưa tìm lại được, đó là tự do của đồng bào mình, tự do của quê hương mình. Tâm trạng của kẻ viết bài này khi đứng trên bực thềm Faneuil Hall trong buổi sáng ngày vô quốc tịch cũng tương tự nhhư thế:

Mặt mày hớn hở vui tươi
Sao lòng nghe thẹn làm người tự do
Của này là của trời cho
Của ta đánh mất không lo đi tìm.

(Thơ Trần Trung Đạo)

Khi nhắc đến những cụm từ nặng cảm tính như “my country” (nước tôi), “my hometown” (quê tôi),  chúng ta tự nhiên hiểu đó là đất nước Việt Nam, là nơi chôn nhau cắt rốn của mình ở Việt Nam, chứ không phải đang nói đến America, đến Boston, cho dù khi chúng ta đã nhập quốc tịch Mỹ, và thậm chí trong lúc đang trao đổi bằng tiếng Anh với một người bạn Mỹ.

Chúng ta ra đi mang theo nỗi đau của cha mẹ, bà con, anh em, bè bạn đang chịu đựng trong xiềng xích độc tài. Nước Mỹ, trong ý nghĩa đó chỉ là một trại tỵ nạn dài hạn chứ không phải là quê hương thứ hai, hay là quốc gia mà mỗi chúng ta được vinh dự làm một công dân. Câu nói nỗi tiếng của cố Tổng Thống Kennedy “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn đã đóng góp được gì cho đất nước” (Ask not what your country can do for you; ask what you can do for your country) đối với chúng ta không có ý nghĩa gì cả. Nước Mỹ không phải là “country” của chúng ta.  Đi làm thì phải trả thuế nhưng đó không thể gọi là đóng góp cho đất nước. Đóng góp hàm ý nghĩa hy sinh, thiêng liêng, tự nguyện trong lúc trả thuế là một điều luật pháp bắt buộc chúng ta phải làm nhằm trang trải cho các khoản chi dùng công cộng.

Thế hệ người Mỹ gốc Việt đầu tiên, ngoài đôi gánh Việt Nam nặng trĩu trong lòng, còn phải đối phó với những khó khăn khách quan khác của đời sống mới. Chúng ta phải chịu đựng những tệ nạn phân biệt chủng tộc, rẻ khinh của thiểu số cực  đoan.

Chúng ta đã không đến đây từ Rome, từ Frankfurt của Châu Âu vốn dễ dàng làm quen với môi trường và đời sống Mỹ Châu, nhưng từ một nước Đông Phương xa xôi và khác biệt về văn hóa, phong tục và tập quán. Chúng ta đến đây từ những thôn làng, những thành phố chưa tan mùi súng đạn, từ những lễ nghi cung cách Á Đông, từ một hành trình đầy nguy hiểm vẫn còn chập chờn trong giấc ngủ. Nhiều bà con quá nặng lòng tự trọng còn phải chịu đựng tâm lý mặc cảm sống nhờ, ở đậu. Nhiều bà con lớn tuổi phải đối diện với hàng rào ngôn ngữ khó có thể vượt qua vì đã khá lâu xa cách với bàn ghế học đường. Thế hệ thứ nhất, với tất cả những lý do đó, đã làm cho chúng ta hết sức khó khăn để hội nhập vào đời sống mới. Và kết quả, trong một giai đoạn đầu khá lâu, chúng ta gần như sống co lại với nhau trong những khu nhà mướn, bàng quang nhìn đời sống chính trị Hoa Kỳ và dửng dưng trước những thay đổi chung quanh mình.

Theo dòng thời gian trôi qua trong quãng đời tỵ nạn, cộng đồng người Việt, ngoài thế hệ thứ nhất vừa được giới thiệu, đã hình thành nên hai thế hệ người Mỹ gốc Việt khác. Thế hệ, mà tôi xin tạm gọi, một rưỡi và thế hệ thứ hai.

Thế hệ  một rưỡi gồm những em đã được sinh ra và lớn lên ngay trong giai đoạn cực kỳ khó khăn của đất nước Việt Nam. Các em cất tiếng khóc đầu tiên ngay giữa mùa bão lửa của quê hương. Các em là những người đã chào đời trên những chiến hạm đang lênh đênh trên biển cả, trong những chiếc ghe nhỏ bềnh bồng giữa biển khơi, chào đời trong các trại tỵ nạn khắp vùng Đông Nam Á, chào đời trên đất Mỹ khi gia đình các em còn phải sống nhờ vào những phiếu mua thực phẩm (foodstamp) chứa đầy ơn nghĩa và mặc cảm. Các em bé tuổi lên năm lên ba trước và sau cuộc chiến đó, dể dàng hội nhập vào đời sống mới. Phần đời thơ ấu mà các em đã trải qua chỉ là những ký ức mơ hồ. Âm vang của tiếng súng, tiếng sóng, tiếng khóc không còn dội lại trong lòng các em. Dù khó khăn vất vả mà gia đình em phải đang đối phó, các em vẫn lớn lên, có cơ hội theo học và trưởng thành trên đất Mỹ.

Sau thế hệ một rưỡi, một thế hệ thứ hai người Mỹ gốc Việt cũng đã ra đời. Đây là thế hệ hoàn toàn sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ. Các em không mang theo nhiều dấu vết của quá khứ. Các em là người Mỹ với tất cả quyền và trách nhiệm, kể cả quyền để trở nên một tổng thống Hoa Kỳ. Thách thức của thế hệ các em, không phải làm thế nào để hội nhập vào nước Mỹ, mà để tìm về với nguồn gốc tổ tiên Việt Nam của các em.

Thế hệ một rưỡi và thế hệ thứ hai của người Mỹ gốc Việt  nói trên, được trau dồi trong môi trường giáo dục thực tiễn, hiện đại nhưng đồng thời vẫn may mắn thừa hưởng được ý chí vươn lên và quyết tâm thay đổi hoàn cảnh mà cha mẹ các em đã mang theo trên những con đường biên giới ngập mìn, hay những chiếc ghe nhỏ mong manh ngày xưa.

Không giống như các thế sau của những người di dân Ý, Đức, Ái Nhĩ Lan, nhiều lắm chỉ còn giữ được cái họ, cái tên, thế hệ thứ hai của người Mỹ gốc Việt  vẫn còn gắn bó đậm đà với văn hóa Việt Nam. Mối dây thiêng liêng nối các em với dân tộc Việt Nam, không phải qua sách vở trong trường học, nhưng qua đời sống gia đình, qua những mẫu chuyện của cha mẹ thường hay kể, qua những bài hát ru con cho dù các em không hiểu hết, qua các trường Việt Ngữ, qua những món ăn mặn mà, qua không khí Việt Nam vẫn còn bàng bạc trong n~y giỗ kỵ, trong ngày Tết, trong lời kinh tối mỗi đêm, trong tiếng chuông chùa nhẹ đưa vào mỗi ngày lễ Phật. Tất cả đã là những chất men kích thích cho hạt mầm Việt Nam trong tâm thức các em nẩy sinh, thúc giục cho ước muốn tìm về văn hóa Việt được nhanh chóng đâm chồi, và bồi dưỡng cho hoài bảo được đóng góp vào tương lai của cộng đồng người Mỹ gốc Việt  mà các em đang sinh hoạt và cả về tương lai của quê mẹ, quê cha mà các em thương mến, được có cơ hội đơm hoa kết trái.

Vai trò của hai thế hệ Việt Nam trẻ trong đời sống của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, nhờ đó, đã mỗi ngày thêm quan trọng và tích cực. Nếu trước đây, các em chỉ là những nhóm nhỏ trong các trường đại học, trong các trại hè rải rác đó đây, thì ngày nay, phần lớn các tổ chức xã hội, giáo dục phục vụ người Mỹ gốc Việt đều do các em trẻ điều hành. Nếu trước đây các công việc cộng đồng là công việc của các chú, các bác, thì ngày nay công việc điều hành các đề án lớn của cộng đồng đều do các nhóm trẻ thực hiện. Các em không còn là chậu kiểng trong hội trường mà là người điều hợp những buổi thảo luận sôi nỗi về tất cả những vấn đề mà một người Mỹ gốc Việt phải quan tâm. Hai thế hệ trẻ Việt Nam, từ việc hoạt động riêng tư có tính cách thân hữu, dần dần dẫn đến các hoạt động có tầm vóc hơn, và ngày nay đã bước đến giai đoạn hoạt động nỗi bật và có tính chủ đạo trong hướng đi của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Hai thế hệ đó đã tạo nên những người Mỹ gốc Việt thành công xuất sắc trong nhiều lãnh vực tại Hoa Kỳ như Đinh Việt, Nguyễn Tuệ,  Dương Việt Quốc và rất đông tên tuổi khác.

Bên cạnh đó, sau 28 năm ổn định, học hỏi và trưởng thành trên nước Mỹ, thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ nhất cũng không còn là những người tỵ nạn với nguồn lợi tức chính là quỹ trợ cấp xã hội của chính phủ, nhưng đã ổn định và từng bước đi lên. Chúng ta đã vượt qua ngọn Everett đầy thử thách của cuộc sống mới. Chúng ta đã tồn tại trong một xã hội phức tạp, rất bao dung nhưng cũng nhiều kỳ thị. Không ít những người Việt tỵ nạn ngày xưa đã trở thành những kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, thương gia thành công. Có người còn nhớ thuở hàn vi và không ít kẻ đã quên đi thời khốn khổ, nhưng nói chung, đời sống của đa số bà con đã dần dần ổn định. Phần đông đều có công ăn việc làm, có xe cộ, nhà cửa thâm chí còn sang hơn, đẹp hơn nhà cửa xe cộ của những người Mỹ trung bình khác. Không giống như các cộng đồng người Hoa, phần lớn tập trung khai thác kỹ nghệ thực phẩm, nhà hàng, quán ăn, cộng đồng người Việt chúng ta đa dạng và phong phú hơn nhiều. Chúng ta có mặt trong hầu hết các ngành nghề quan trọng của nền kinh tế Mỹ, đặc biệt trong kỹ thuật cao cấp (high technology). Quá khứ đau buồn có thể vẫn chưa nguôi ngoai hết, hình ảnh của chiếc ghe bằng gỗ chiều dài chỉ hơn mười mét ngày xưa thỉnh thoảng vẫn trở về trong những đêm mưa bão, nhưng đa số bà con đã nhìn lại đời mình bằng một nụ cười nhẹ nhàng thỏa mãn hơn là bằng những giọt nước mắt nuối tiếc cho một sự nghiệp dở dang. 

Và với sự thành công của hai thế hệ Việt Nam trẻ và một chặng đường đã vượt qua của  thế hệ tỵ nạn đầu tiên như tôi vừa trình bày, đây là thời điểm để chúng ta tiến thêm một bước quan trọng, đó là sự  thể hiện sức mạnh tổng hợp của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong đời sống chính trị Hoa Kỳ.

Chúng ta thường hiểu sức mạnh và tình đoàn kết cộng đồng được thể hiện qua những buổi hội hè đông vui, những cuộc biểu tình có hàng ngàn người tham dự. Điều đó không sai nhưng chỉ đúng một nửa. Sức mạnh của cộng đồng người Mỹ gốc Việt không chỉ  thể hiện trong những ngày hôi chợ Tết chật kín hội trường, trong những buổi ca nhạc với hàng ngàn quan khách, và ngay cả không phải chỉ thể hiện trong những buổi mít-tinh hay biểu tình đông đảo. Nhưng sức mạnh của cộng đồng còn được tính bằng ảnh hưởng của chúng ta trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ, cụ thể nhất là bằng tổng số lá phiếu mà chúng ta đã bầu trong các mùa bầu cử các cấp công quyền.

Cộng đồng người Mỹ gốc Việt có được một Đinh Việt, 33 tuổi, đã từng làm đến chức Thứ Trưởng Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ, một John Dương, 28 tuổi, từng là Giám Đốc Dân Sự Vụ Á Châu và Thái Bình Dương của chính phủ liên bang, một Nguyễn Tuệ, 25 tuổi, đậu 7 văn bằng của Học Viện Kỹ Thuật MIT. Vâng, đó là những cây lành sinh trái quý trong cộng đồng Việt Nam, xứng đáng cho chúng ta vui mừng và kính trọng. Tuy nhiên, họ chỉ là những cá nhân xuất sắc mà cộng đồng nào, sắc dân nào cũng có thể có, chứ không thể gọi đó là biểu tượng cho sức mạnh của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Chúng ta sẽ hãnh diện biết bao nếu có thật nhiều Dân Biểu Liên Bang là người Mỹ gốc Việt, Dân Biểu Tiểu Bang là người Mỹ gốc Việt, Nghị Sĩ Tiểu Bang là người Mỹ gốc Việt, Nghị Viên Hội Đồng Thành Phố là người Mỹ gốc Việt. Chính những vị đó, nếu có được,  mới thật sự là những biểu tượng của sức mạnh của cộng đồng người Mỹ gốc Việt vì họ đại diện cho nỗ lực của cả tập thể qua trung gian những lá phiếu mà chúng ta và những cử tri khác tín nhiệm họ, bầu lên.

Cố tổng thống Abraham Lincoln từng nói “Lá phiếu mạnh hơn viên đạn”. Tuy nhiên để nói một cách bình dân và dễ hiểu hơn, lá phiếu là chiếc đèn thần đáp ứng cùng lúc nhiều nhu cầu xã hội của chúng ta. Chúng ta cần duy trì chương trình song ngữ? Bỏ phiếu. Chúng ta cần sửa lại con đường đầy ổ gà trước mặt nhà? Bỏ phiếu. Chúng ta cần giảm thuế lợi tức hàng năm? Bỏ phiếu. Chúng ta cần gia tăng tiền trợ cấp cao niên? Bỏ phiếu. Chúng ta cần trợ cấp y tế, sức khỏe? Bỏ phiếu. Chúng ta cần tăng cường an ninh khu phố? Bỏ phiếu. Và thậm chí, chúng ta cần đẩy mạnh công cuộc vận động tự do dân chủ tại Việt Nam? Bỏ phiếu. Trong 28 năm qua, bao nhiêu đạo luật, nghị định, từ chương trình song ngữ cho đến đạo luật nhân quyền, đi ngược lại quyền lợi và ý nguyện của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, chúng ta đều biết, chúng ta đều ấm ức nhưng không làm gì được, đơn giản bởi vì tỉ lệ ghi danh bỏ phiếu của cộng đồng người Mỹ gốc Việt quá thấp.

Điều quan trọng, chúng ta, những cử tri trong xã hội dân chủ nên biết, rằng các quyết định của các đại diện dân cử không chỉ dựa vào sự phán đoán của cá nhân họ nhưng dựa trên ước muốn của những người đã bầu họ lên. Nếu đi ngược lại ý nguyện của cử tri, họ chắc chắn sẽ bị thất cử trong nhiệm kỳ sau.

Việc công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ đã và đang trở thành một phong trào lan rộng trong các thành phố Hoa Kỳ là một bằng chứng hùng hồn. Tôi thành thật không nghĩ các ông bà nghị viên thành phố hiểu ý nghĩa, nguồn gốc lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của tự do và truyền thống Việt Nam trong cùng một cách hiểu như những người Việt Quốc Gia. Tuy nhiên họ đã không ngần ngại biểu quyết công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của tự do và di sản văn hóa Việt Nam là đại diện chính thức của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong thành phố họ. Họ làm như vậy, bởi vì, bênh cạnh việc kính trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ qua hình ảnh đáng kính của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, qua uy tín của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, qua sự đóng góp của cộng đồng người Mỹ gốc Việt vào sinh hoạt kinh tế chính trị của thành phố, qua mối quan hệ tốt giữa họ và cộng đồng người Mỹ gốc Việt, qua lòng cảm phục họ dành cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong các nỗ lực đấu tranh vì nhân quyền và dân chủ của quê hương Việt Nam, họ còn kỳ vọng vào những lá phiếu ủng hộ của khối cử tri người Mỹ gốc Việt.

Nhiều bà con biện luận rằng, vì số phiếu của chúng ta, một cộng đồng còn quá nhỏ so với người da trắng, hay so với cộng đồng khác, việc thêm hay thiếu đi vài ngàn lá phiếu của chúng ta cũng không làm tăng hay giảm vị trí vốn đã khiêm nhường của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Những biện luận như vậy đã không đúng. Trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, vài ngàn phiếu của cộng đồng người Mỹ gốc Cuba đã làm thay đổi toàn bộ đời sống chính trị của Mỹ. Người Mỹ gốc Cuba tại Florida đã tập trung phiếu vào George W. Bush thay vì Phó Tổng Thống đương nhiệm Albert Gore, Jr. bởi vì chánh quyền Clinton đã không hành xử đúng với ý muốn của cộng đồng người Mỹ gốc Cuba qua cách giải quyết trường hợp em Elian Gonzalez. Chưa bao giờ câu châm ngôn “lỗ nhỏ làm lủng thuyền” của Việt Nam lại thích hợp hơn để giải thích câu chuyện những cây kim người Mỹ gốc Cuba đâm thủng con tàu của đảng Dân Chủ trong mùa bầu cử Tổng Thống năm 2000.

Ngoài ra, chúng ta cũng nên lưu ý, các cấp công quyền càng thấp bao nhiêu thì lá phiếu của cử tri càng có hiệu quả bấy nhiêu. Một nghị viên hội đồng thành phố trung bình chỉ cần khoảng 6 đến 7 ngàn phiếu là có thể thắng trong cuộc bầu cử chứ không phải con số hàng trăm ngàn, hàng triệu phiếu như chúng ta thường nghĩ. Trong khi đó, các quyền lợi thiết thực của người dân như một lớp học cần chỉnh trang, một ống nước cần thay thế, một ổ gà sâu trên con đường trước nhà cần phải đắp, một bãi đậu xe công cộng cho dân chúng, việc tăng cường thêm cảnh sát đi tuần đêm trong khu phố v.v.. là những nhu cầu gần gũi, thiết thực, xảy ra hằng ngày và gắn liền với đời sống chúng ta hơn là các chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế liên bang. Với một cộng đồng vững mạnh và có khuynh hướng sống tập trung như cộng đồng Việt Nam tại các thành phố lớn, chúng ta có khả năng chọn lựa bất cứ một nghị viên nào chúng ta muốn, có khả năng ảnh hưởng một cách quyết định đến bất cứ một chương trình kinh tế an sinh xã hội địa phương nào chúng ta muốn. Để đạt được mục đích đó, điều duy nhất và hết sức đơn giản mà mỗi chúng ta cần phải làm là ghi danh bỏ phiếu.

Trong thời gian qua, rất nhiều tổ chức đoàn thể Việt Nam cũng đã ý thức vai trò và sức mạnh của lá phiếu. Trong các tiểu bang, các thành phố đông người Việt cư ngụ, các đoàn thể trẻ rất tích cực trong việc vận động cử tri tham gia ghi danh bỏ phiếu. Chúng ta có các ban chấp hành Cộng Đồng, có Ủy Ban Vận Động Chính Trị Người Mỹ gốc Việt (VPAC), có Liên Đoàn Cử Tri Người Mỹ GốcViệt, có các Phân Hội Chuyên Gia, các cơ quan xã hội thiện nguyện cũng luôn có các bộ phận đặc trách về việc giúp đồng hương ghi danh bỏ phiếu. Thủ tục ghi danh và phương pháp bầu phiếu khá đơn giản và được các tổ chức nêu trên chỉ dẫn tận tình, không đến nổi nhiêu khê như nhiều bà con chúng ta thường e ngại. 

Anh Ismail Darramy đã phải hy sinh hai bàn tay để được quyền bỏ phiếu. Anh đã chịu mất đi phần thân thể để thắp sáng lên một chân lý, rằng mọi con người sinh ra đều bình đẳng, nhân quyền là quyền thiêng liêng và bất khả nhượng. Và vì thế, anh tiếp tục đấu tranh, nhiều lúc trong cô đơn, âm thầm, cho nền dân chủ trên quê hương đầy thảm họa của anh. Nụ cười chiến thắng của anh Ismail Darramy trong tấm hình, khi anh phải dùng hai ngón chân để kẹp lá phiếu bỏ vào thùng, đã làm rung động trái tim của hàng triệu người yêu chuộng dân chủ trên thế giới. Chúng ta bỏ phiếu không khó nhọc như anh. Lá phiếu mà chúng ta cầm không nặng vì nhuộm bằng máu và nước mắt như lá phiếu của anh. Nhưng anh Ismail Darramy làm được, còn chúng ta, chúng ta có cơ hội để thực thi quyền bỏ phiếu, thì tại sao chúng ta lại không làm?

Trần Trung Đạo


Tên:
Địa chỉ Email:
Nhận xét về bài viết: