Trang Chủ  | Văn  | Thơ   | Thơ Anh Ngữ   | Tác Phẩm  | Tiểu Sử  | Nhận Xét  | Âm Thanh  | Truyện Dịch

 


 

MẸ VÀ QUÊ HƯƠNG
Giới Thiệu Thơ Trần Trung Ðạo

Trần Ý Vân

 

Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

Ðó là hai câu thơ trong bài thơ, và cũng là tên thi tập, "Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười," của anh Trần Trung Ðạo. Ngoại trừ một số bằng hữu và trên một vài diễn đàn nho nhỏ, có lẽ ít người biết đến Trần Trung Ðạo và những bài thơ của anh. Tôi muốn gọi anh là thi sĩ, thi sĩ theo đúng cái nghĩa chân chính của nó, nhưng tôi ngại nhiều bạn đọc sẽ cho rằng tôi vội vã. Vì vậy, tôi đành để các bạn đọc xong thi tập của anh rồi tự quyết định. Tôi chỉ có cái tham vọng nhỏ nhoi là hy vọng rằng bài viết này sẽ đến với bạn đọc như một nhịp cầu nối liền tâm hồn của hai người yêu thơ -- bạn và Trần Trung Ðạo

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Tôi đọc rất nhiều lần những bài thơ viết về Mẹ của anh, và mỗi lần thì tôi vẫn bị xúc động như lần đầu tiên mới được đọc. Mẹ trong thơ của anh là Mẹ với tất cả ý nghĩa lớn lao của nó, không riêng gì Phụ Nữ Việt Nam, mà là Ba, là Em, là những người phải gánh chịu sự đau thương của cả dân tộc. Thơ của anh, ngoài là những bài nhạc, còn là một tấm gương phản chiếu những biến động của cuộc đời:

Chuyện cha mẹ gặp nhau không cưới hỏi
Buổi giao thời xiêu lạc cả bà con
Rượu tân-hôn cha thay bằng nước vối
Dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng
(Chuyện Ðời Mẹ)

Thời điểm mà anh đang nói là hồi chín năm kháng chiến chống Pháp. Hãy tưởng tượng ở đâu đó chỉ có hai người, ngày tân hôn chẳng có ai đến dự được vì chiến tranh và di tản. Không gian yên lặng. Thỉnh thoảng tiếng hàng tre sau nhà kêu kút kít hòa vào nhịp đập con tim của tân lang và tân giai nhân. Nhưng, rủi thay, không bao lâu tình yêu của họ bị chiến tranh vùi dập:

Ngày mẹ chết con chưa tròn một tháng
Cha tảo tần sớm nắng với chiều mưa

để rồi:

Thiếu sữa mẹ đời con thành đại hạn
Thiếu lời ru con lớn với lọc lừa
(đã dẫn)

và anh kể lại quãng đời thơ ấu, tuy lời thơ giản dị, mộc mạc, nhưng gợi hình, gợi cảm:

Ngày Bà Nội mất Ba chưa đầy một tháng
Ông Nội gánh Ba đi lưu lạc khắp mọi miền
Vượt sông Thu Bồn
Băng núi Quế Sơn...

(Con Sinh Ra Trên Ðất Mỹ) Lớn lên trong khói lửa, anh và các bạn theo tiếng gọi của Tổ Quốc lên đường:

Con đi quét lá trăm miền
Mẹ ngồi dệt sợi ưu phiền quanh năm
(Lụa Duy Xuyên)

Nhưng không bao lâu thì thảm kịch 30/4/1975 xảy ra. Nền "hòa bình" gượng ép trở lại trên quê hương. Những sự cơ cực không vì thế mà giảm xuống; trái lại ngày càng tăng lên. Bây giờ, không chỉ có mình anh cơ cực mà cả nước Việt Nam cũng phải bần hàn. Anh viết về một "Bà Mẹ Ðiên" đứng trên đường Ðồng Khởi hát nghêu ngao... và anh hỏi:

Lần này là lần thứ mấy
Bà bán máu nuôi con?

Câu hỏi tuy đơn giản, nhẹ nhàng nhưng đau nhói trong tim người đọc. Và rồi bà mẹ bị kiệt sức, ngã lịm trên đường về. Ðứa con nhỏ của bà chờ sữa không có nên đã chết. Những cảnh thương tâm trở thành những cơn ác mộng dằn vặt người chứng kiến; anh mơ thấy mình "Ðứng trên đường Ðồng Khởi / Và hát như người điên." Mẹ chết để lại những đứa trẻ mồ côi:

Nuôi thân em một cô gái ăn mày
Mười bốn tuổi đời đen hơn ánh tóc
(Ðừng Trở Lại)

cho nên em lang thang, không cửa, không nhà:

Hàng me cũ đã bao mùa thay lá
Nơi em từng che mát chuỗi ngày quên
Mùa đông qua thổi lạnh đến bên thềm
Vẫn khổ cực như từng cơn nắng hạ
(Góc Phố Xưa Nơi Mẹ Vẫn Ngồi)

Vâng, tôi vẫn biết chuyện thương tâm mọi người chúng ta ai ai cũng đã từng trải qua, từng chứng kiến, hoặc ít ra cũng đã từng nghe kể. Nhưng đọc những lời thơ như nỉ non, như thì thào, như trăn trối của Trần Trung Ðạo về cuộc sống của ba, mẹ, các em, và đồng bào thì mới thật là thấm thía:

Em có mẹ già một nắng hai sương
Ðan nỗi nhớ với năm cùng tháng tận
Mẹ tôi cũng suốt đời lận đận
Ðã bao mùa tóc rụng trắng đôi vai
(Người Con Gái Tôi Quen)

Có thể nói rằng chủ đề lớn nhất trong thơ Trần Trung Ðạo là Quê Hương. Thơ anh viết về quê hương trầm, bỗng như những bài nhạc nức nở; có bài bi thương, có bài như là tự thán; lại có nhiều bài cao ngất khí thế anh hùng. Quê hương, dưới ngọn bút của anh, là một bức tranh diễm tuyệt với những

Con đường thế hệ chúng tôi qua
Xương trắng nhiều hơn tóc mẹ già
Một nhánh sông buồn trong ánh mắt
Chở nghìn tâm sự chửa phôi pha
(Con Ðường Thế Hệ Chúng Tôi Qua)

Ðọc thơ anh, hai chữ Quê Hương mang lại cho người đọc một cảm xúc vừa mạnh, vừa thiết tha nhưng lại có một chút gì đó xa xôi. Xa xôi? Vâng, đó là một thực tế nghiệt ngã của những người Việt Nam hôm nay:

Mười bảy năm trời như vó câu
Người đi biền biệt kẻ giang đầu
(Mười Bảy Năm Rồi Sao)

bởi vì:

Ôi! Tổ quốc hận thù xa cách mãi
Ôi! Ðàn anh phản bội chấn ngang đường
(Khóc Ði Em Yêu Dấu)
Quân xâm lược vẫn ngày đêm cướp nước
Bọn nội thù bất lực đứng khoanh tay
(Ðường Chúng Ta Ði Hôm Nay)

Nhưng sự xa cách ấy chỉ là sự xa cách về địa lý; không ai cưỡng bức được những người ly hương chúng ta phải xa cách Việt Nam trong tâm tư, trong nguyện vọng, chẳng hạn:

Mười bảy năm rồi em nhớ anh
Như mây nhớ núi lá mơ cành
(Mười Bảy Năm Rồi Sao?)

hay là:

Em ngồi giặt lụa bến sông Thu
Lòng buông theo nước chảy xa mù
Tôi đứng bên này nghe kỷ niệm
Gọi về từ cõi mộng hoang vu
(Ðộc Hành)

Những kỹ niệm yêu thương không bao giờ chết được bởi vì hình ảnh quê hương vẫn còn sống da diết trong lòng của chúng ta:

Ai đứng đó bên kia bờ Giao Thủy
Khăn lụa vàng còn chít ở ngang vai
Nghiệp tằm tơ khuya sớm vẫn đeo hoài
Nghề canh cửi chắc còn nhiều khổ cực
(Bao Giờ Nhỉ Tôi Về Thăm Xứ Quảng)

Và nhiều đoạn anh viết trong sự bi thương cùng cực:

Thơ của tôi là máu chảy trăm đường
Là u uất đã chìm sâu trong đất
(Những Người Bạn Tôi Chưa Hề Quen)

Con viết mãi một giọng buồn thương tiếc
Khóc quê hương đau nhức chảy thành sông
(Lời Trối Trăn Trên Biển)

Quảng Nam ơi khúc ruột đã chia lìa
Chiều viễn xứ ngậm ngùi cho non nước
(Bao Giờ Nhỉ Tôi Về Thăm Xứ Quảng)

Qua khỏi những cảm giác bi thương, anh đưa chúng ta về với những lời kêu gọi hào hùng:

Máu của chúng ta chảy về Chi Lăng
Xương của chúng ta là cọc Bạch Ðằng
Ôi tổ quốc ôi hồn thiêng sông núi
Trái tim này xin gửi đến Việt Nam
(Ðường Chúng Ta Ði Hôm Nay)

Và có khi lại mỉa mai:

Nơi nào nhỉ ngày xưa Trần Bình Trọng
Chịu bêu đầu để làm quỷ nước Nam
Ngàn năm sau lưu lạc bốn phương ngàn
Bầy con cháu sợ làm người nước Việt
(Nơi Nào Nhỉ)

Ðể cho bài viết được hoàn chỉnh, thiết nghĩ tôi cũng nên đề cập sơ qua về hình thức của thi tập. "Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười," dày hơn 150 trang, là một thi phẩm thực hiện rất công phu; trình bày trang nhã. Thi tập được chia ra làm bốn phần: "Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười", "Con Ðường Thế Hệ Chúng Tôi Qua", "Tôi Ði Góp Lá Ngàn Phương Lại", và "Ôi Lịch Sử Một Vầng Trăng Diễm Tuyệt."

Trần Trung Ðạo xử dụng đủ các thể tho+. Theo tôi, dầu khuôn khổ bài này không phải là bài phê bình, thể thơ mà anh viết đạt nhất là thể tự do. Có lẽ "Bài Thơ Tháng Tư" và "Con Sinh Ra Trên Ðất Mỹ" là hai bài tiêu biểu nhất. Tuy là tự do, âm vận của những bài thơ đó không làm cho người đọc cảm thấy rời rạc. Trái lại, thơ tự do của anh về hình thức thì mang nhiều nhạc tính; về nội dung thì có một bố cục rất chặt chẽ. Tôi thiết nghĩ nó đạt được cái khả năng kể chuyện mà các thể thơ khuôn khổ khó có thể thành công. Bởi vậy, tôi tin rằng độc giả sẽ có cảm giác như là đang nghe một câu chuyện kể do ai đó thì thào bên tai; hoặc là nghe như chính mình đang tự kể lại cuộc đời của mình qua những bài thơ tự do của anh. Ngôn ngữ trong thơ Trần Trung Ðạo rất là giản dị, chẳng hạn:

Anh đi bộ đội bao lâu
- Từ khi mười bảy tuổi
Thế anh bỏ học sao?
- Họ bảo đã có người khác lo việc đấy
Bổn phận tôi là giải phóng miền Nam
Tôi thật tình chẳng hiểu tại sao
Nhưng không thể làm gì hơn được !

Các chủ đề anh viết cũng đơn giản như ngôn ngữ của anh dùng. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, độc giả sẽ khám phá ra nhiều câu rất ư là bóng bẩy, lãng mạng; nhờ vậy, những u uất không làm cho bài thơ nặng nề, ví dụ như:

Người đi xa tít bờ sông vắng
Ðể ánh thu buồn trong mắt trong

hay là:

Tôi ga nhỏ muôn đời xin đứng lại
Em con tàu biền biệt dấu chân mơ

hoặc:

Trong hiu quạnh giữa chợ đời gian dối
Ít ra còn một kẻ để anh tin.

Ðôi khi chúng ta thường hay gọi tất cả những người làm thơ là thi sĩ, tôi cho rằng đó là điều ngộ nhận. Thi sĩ, theo đúng nghĩa trong văn chương, ngoài khả năng làm được một vài bài thơ, còn phải có một phong cách thi ca riêng biệt, một sự sáng tạo nguyên thủy, và, đối với những người chưa có thi nghiệp, sáng tác đều đặn là một yếu tố quan trọng. Với những ý nghĩ đó, tôi vẫn giữ đúng lời hứa của mình và không gọi Trần Trung Ðạo là thi sĩ trong bài này. Nhưng, khi đọc đến đây, chắc các bạn đã đồng ý rằng Trần Trung Ðạo là một con người của thơ ca. Anh có cách vận dụng ngôn ngữ, ý tưởng khá độc đáo ("Nước sâu còn có khi ròng / Mà sao nước Việt vẫn long đong hoài"). Thêm vào đó, anh vẫn sáng tác đều đặn. Riêng tôi, tôi ước mong được trích dẫn một vài đoạn trong hai bài "Bài Thơ Tháng Tư" và "Con Sinh Ra Trên Ðất Mỹ" để các bạn có thể thấy được cái thi tài của anh. Tiếc thay, vì khuôn khổ chật hẹp của một bài báo, nên đành để các bạn tự đọc khi "Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười" đến tay các bạn vậy! Các bạn yêu thơ có thể  gởi email to trantrungdao@aol.com để có được thi tập.

Bây giờ trời đã về khuya. Sương đang bắt đầu xuống bên kia cửa sổ. Ðọc lại tập thơ "Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười" tôi cảm thấy thấm thía hơn bao giờ hết. Cảm ơn cụ Nguyễn Du đã viết "Trải qua một cuộc bểđâu / những điều trông thấy mà đau đớn lòng." Trong bóng đêm chập chùng tôi dường như thấy được sông Thu Bồn, cầu Vĩnh Ðiện; tôi dường như thấy được Ðà Nẵng, đường Hùng Vương, trường Nữ trung học với một quãng đời ngắn ngủi của mình trên quê hương; tôi dường như thấy được Sài Gòn với trường Luật, với bệnh viện Chợ Rẫy - những nơi mà tôi chưa một lần đến; tôi dường như thấy được những oan hồn lãng vãng đó đây trong bi thương, trong phẫn uất, trong thơ ca của Trần Trung Ðạo. Hai câu thơ của anh bất chợt vang văng vẳng trong tôi,

Tôi đi góp lá ngàn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương...
 

Trần Ý Vân