Trang Chủ  | Văn  | Thơ   | Thơ Anh Ngữ   | Tác Phẩm  | Tiểu Sử  | Nhận Xét  | Âm Thanh  | Truyện Dịch

 


 

Giờ đã điểm rồi.. .
Trần Trung Đạo, Nhà thơ chiêu hồi ?


Tuệ Chương

 

Có rất nhiều người đã phê bình thơ Trần Trung Đạo nên tôi không có ý định viết một bài nhận định về thơ ông, mặc dù trước đây, nhiều lần đọc thơ ông đăng rải rác trên vài tạp chí, tôi có một nhận xét chung là thơ Trần Trung Đạo hay. Lần đầu tiên, gặp ông ở một Đêm Thơ Nhạc tổ chức tại Boston, tôi có hỏi là ông kém tôi một thế hệ - thế hệ lớn lên trong chiến tranh, đi trong chiến tranh và tù tội sau chiến tranh - Ông không ở trong thế hệ đó, nhờ đâu mà ông cảm nhận được những nỗi đau của những người như chúng tôi, ở cả miền Nam cũng như miền Bắc. Trước 75, ông chưa cầm súng bao giờ, có chăng cũng chỉ là những buổi học Quân sự học đường, thấm vào đâu với mồ hôi, nước mắt và máu xương của cả một thế hệ trước, hơn 90 phần trăm không ai tránh khỏi.

Ông cười, nói là nhờ ông có một tấm lòng, biết đau cái đau của người khác, biết khổ cái khổ của người khác, biết buồn cái buồn của người khác .. . Những người khác đó, không phải chỉ là những người trong bà con thân tộc ông, có thể là cha chú cậu bác của ông đã cầm súng tham gia cuộc chiến, trong công cuộc được gọi là *Bảo vệ Miền Nam Tự dơ mà tất cả những người khác, những người Việt Nam ở cả hai miền. Tấm lòng là nói nôm na, nói đúng chữ nghĩa sách vở là Nhân Bản. Nhân bản chính là nền tảng căn bản nhất của một người làm văn học nghệ thuật. Thiếu nhân bản thì văn học nghệ thuật trở thành những thứ phù phiếm, một món .. . đồ chơi, trong lúc trà dư tửu hậu mà thôi.

Ngày nay, người làm văn học nghệ thuật khác với đời trước vì ngày ấy, văn chương là một nghề chơi, đẻo từng chữ, gọt từng lời, những tưởng như là người xưa chơi hoa thủy tiên vậy, mặc dù *nghề chơi cũng lắm công phự Ngay cả như Nguyễn Du, khi viết truyện Kiều, gởi gắm vào đó tất cả tâm sự, chí hướng, ước vọng của ông, nỗi thăng trầm của đời ông trong một hoàn cảnh lịch sử nhiễu nhương, thay bậc đổi ngôi sâu sắc trong tầng lớp thống trị cũ thì ông cũng phải khiêm tốn mà viết: Mua vui cũng được một vài trống canh. 

Lối văn chương phù phiếm ấy ngày nay đã hết thật rồi và ngòi bút đã trở thành một vũ khí chiến đấu không phải để bảo vệ cho một chủ nghĩa, một chế độ, mà để bảo vệ con Người trước nhiều sức tấn công mãnh liệt, của chủ nghĩa Phong kiến quan liêu, lạc hậu, của chủ nghĩa Tư bản bóc lột, của chủ nghĩa Cọng sản máy móc và không tưởng, hạ giá trị con người ngang bằng với sinh vật bình thường, với một cái máy không còn có tên mà chỉ có một hàng chữ số.

Tiếc một điều, cuộc nội chiến 30 năm trên đất nước chúng ta, ngoài những nỗi khốn khổ của dân tộc ta ở cả hai miền, còn có những nổi khốn khổ của những người lính Đồng minh với chúng ta trên cùng một chiến tuyến nữa chứ. Khi họ trả súng, rồi trở về đây, họ cũng quá nhiều đau khổ đấy chứ, sao không thấy Trần Trung Đạo nhắc tới. Ông không gặp họ, ông không thấy họ, hay ông gặp mà ông không thấy họ chăng? Nếu dân tộc chúng ta là nạn nhân của một cuộc tranh giành giữa các siêu cường trên thế giới thì ngay họ cũng là nạn nhân của chính siêu cường nước họ, của những thế lực mạnh mẽ ngay tại nước ho.. Cái khổ là khổ chung, cái đau là đau chung, kẻ nhiều người ít mà thôi, của những con người không làm chủ được thân phận mình, thân phận làm người nhỏ nhoi trước những thế lực vĩ đại quốc tế, mà ngay cả một dân tộc như dân tộc chúng ta với nhiều kỳ tích đấu tranh mà cả thế giới đều lạ lùng, khâm phục, cũng không vùng vẫy thoát ra được, nói chi tới từng con người lẻ loi, cô đơn, yếu đuối.

Đối với chúng ta, chiến tranh Việt Nam là phi lý, phi nhân bản vì mục đích đích thực, cuối cùng của cuộc chiến tranh đó, không phải vì dân tộc Việt Nam, ở cả miền Bắc cũng như miền Nam cho dù mỗi bên đều giương lên những biểu ngữ thật to, thật hay, thật đẹp. Vì vậy, cuối cùng, kẻ chiến thắng cũng là kẻ chiến ba.i. Người lính, người dân ở cả hai phía đều đau khổ như nhau, chán nãn, não nề như nhau. Khi tất cả những biểu ngữ hoa mỹ đã hạ xuống thì hiện ra rõ ràng những con người đau khổ.

Về nỗi đau khổ ấy, Trần Trung Đạo viết:

Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Hà nội mưa phùn lạnh kẻ xương
Chiếc nạng gỗ khua từng tiếng nấc
Gõ nhịp thương đau xuống mặt đường

Như trụ đèn đêm không biết nói
Anh âm thầm đi giữa mùa xuân
Đã cháy mộng vàng theo khói thuốc
Thời hoa niên xếp ở ven rừng

Những chiếc tượng đồng loang lổ máu
Khẩu hiệu mờ dấu vết thi đua:
Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước
Anh cười nước mắt chảy theo mưa

Tổ quốc bao năm rồi thống nhất
Anh về, đi giữa phố không quen
Hà nội mang nỗi buồn chiến thắng
Thừa huy chương nhưng thiếu miếng ăn

Chiếc lá cuối mùa không chỗ rụng
Anh một đời thiếu chỗ dừng chân
Gánh nợ non sông đành gởi lại
Về đâu bốn phía gió mưa giăng

Dăm trẻ ăn mày ngơ ngác đứng
Tìm gì trong khoảng trống hôm nay
Hỡi em, cô gái quàng khăn đỏ
Lại gần anh nhận diện tương lai

Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Mang niềm thương nỗi nhớ khôn nguôi
Máu và tim của hồn tổ quốc
Bốn ngàn năm chảy một giòng thôi

Quê anh đó phố phường Hà nội
Lạnh lùng trong gió rét lê thê
Nhỏ nước mắt chào anh trở lại
Khóc một người con lạc lối về.
(Nỗi buồn chiến thắng- Thao thức- trang 19)


Với Cọng sản Việt Nam, Hà nội hai lần chiến thắng. Lần thứ nhất, họ *tiếp thư Hà nội sau chiến thắng Điện biện phủ. Tả cảnh Hà nội sau lần chiến thắng thứ nhất ấy, Trần Dần, trong bài thơ Nhất định thắng viết:

Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc,
Tôi bước đi
Không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ .. .

Bài thơ này nổi tiếng một thời bởi hình ảnh *mưa sa trên màu cờ đỏ* Mưa hay nước mắt? Màu đỏ chiến thắng hay màu máu người dân vô tội ? Cũng trời ấy, đất ấy, hơn một phần tư thế kỷ sau, ở lần chiến thắng thứ hai của Hà nội Cọng sản, sau khi chiếm trọn miền Nam, Trần Trung Đạo viết :

Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Hà nội mưa phùn lạnh kẻ xương
và 
Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Mang niềm thương nỗi nhớ khôn nguôi

Với Trần Dần thì mưa sa trên màu cờ đỏ, với Trần Trung Đạo thì Mưa phùn lạnh kẻ xương. Mưa trên màu cờ đỏ là mưa chung cho cả Hà Nội, lạnh kẻ xương là chỉ lạnh cho những người nghèo nàn, bần cùng, kẻ bị thống trị trong một xã hội mệnh danh là không có giai cấp ???!!!
Trong thơ Trần Trung Đạo không có màu cờ đỏ nhưng rõ ràng có máu:

Những chiếc tượng đồng loang lổ máu
Khẩu hiệu mờ dấu vết thi đua

Máu trên những bức tượng đồng. Những bức tượng đó, dứới chế độ Hà Nội, chắc chắn không phải là tượng của những ông tây thực dân thời trước, tượng vua Bảo Đại, hay xưa hơn nữa, Quang Trung, Lê Lợi mà chính là tượng Các Mác, Lênin, Hồ chí Minh, Mao Trạch Đông (?) hay các tay trùm đỏ khát máu khác.
Những chiếc tượng đồng loang lỗ máu
Máu này ở đâu ra? Do sự loang lổ màu đồng mà tác giả tưởng tượng nó là máu? Do người nào đó dấy máu lên để tỏ lòng thù hận? Hay đúng hơn, bất cứ tên lãnh tụ Cọng sản nào cũng chỉ là những tên khát máu, nên mỗi khi nhìn vào tượng chúng, hình chúng, người ta lại thấy máu?!

Một thời dân Bắc bị mê hoặc bởi sự tuyên truyền xảo trá của Cọng sản Hà nội: Chống Mỹ cứu nước hay văn hoa hơn Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước. Cứu nước ? Nước nào ? Nước Việt nam hay nước Liên xô ? Cứu nước Việt nam là chủ nghĩa dân tộc, nhưng Cọng sản Hà nội dùng chủ nghĩa dân tộc như một chiêu bài để thực hiện chủ nghĩa Cọng sản, chủ nghĩa quốc tế vô sản. Vậy nước đó là nước Liên xô, là khối Cọng sản. Dù sao, ngày nay người ta cũng đã thấy rõ bộ mặt thật của Cọng sản rồi, lối tuyên truyền giả trá ấy cũng đã xưa lắm rồi, *khẩu hiệu mờ rồi.*. Một thời, Anh ( người thương binh Cọng sản trong bài thơ của TTĐ ) đã bị mê hoặc, đã tin theo, những tưởng anh sẽ thực hiện được cơn mộng vinh quang ấy, nào ngờ *cháy mộng vàng theo khói thuốc*. Anh đã hy sinh đời trai trẻ của mình cho Tổ quốc, nào ngờ thời hoa niên ấy*xếp lại ở ven rừng ( Trường sơn ). Ngày trở về, nhìn câu khẩu hiệu hay ho hấp dẫn văn chương bóng bẫy cũ *Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước*. Anh cười, dĩ nhiên không phải là cười vui mà mai mỉa, đời thật đáng mai mỉa đấy chứ anh và anh khóc với cái cười ấy, nước mắt anh hòa với giọt mưa phùn tái tê ấy. Anh cười, nước mắt chảy theo mưa. Hà nội giải phóng rồi ( 1954 ) và Hà nội chiến thắng rồi (1975 ) nhưng bao giờ Hà nội vẫn thế. *Lạnh lùng trong gió rét lê thê* Anh đã khóc khi anh trở về Hà nội, quê anh đó, quen mà thành lạ *Anh về, đi giữa phố không quen*. Và chính Hà nội cũng khóc cho anh, Hà nội cũng *Nhỏ nước mắt chào anh trở la.i.* Ngày anh đi, đất nước còn chiến tranh, ngày anh về *Tổ quốc bao năm rồi thống nhất* nhưng người đi thì đã đi quá xa, hết nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam đến *Nghĩa vụ quốc tế* ở Campuchia. Anh hy sinh quá nhiều, mất mát quá nhiều, Cọng sản lấy của anh quá nhiều, bao nhiêu người ở Hà nội giàu có thêm, sang trọng thêm, quyền lực thêm v.v.. và v.v. . . thì anh chẳng có gì hết, chẳng còn gì hết. Anh trở lại quê cũ như lạc vào xứ lạ, chỗ đó, quê hương đó, không còn chỗ cho anh về :

Chiếc lá cuối mùa không chỗ rụng
Anh một đời thiếu chỗ dừng dân
Gánh nợ non sông đành gởi lại
Về đâu bốn phía gió mưa giăng

Để cuối cùng, Hà Nội khóc cho anh :
Nhỏ nước mắt chào anh trở lại
Khóc một người con lạc lối về 

Ai cũng có một quê hương, nơi mình sinh ra, lớn lên, học hành vui chơi cùng bè bạn. Người ta sợ đời vong quốc vì xa quê hương. Anh thì không xa, anh trở về quê hương, chân bước ngay trên quê hương ấy, anh đứng, ngồi ngay trên quê hương ấy, nhưng nó không là của anh nữa. Anh là người MẤT QUÊ HƯƠNG. Mất quê hương ngay chính trên quê hương mình, điều đó còn đau đớn hơn cả những người XA QUÊ HƯƠNG.

Tại sao ? Trong cuộc sống tranh giành phi nhân, *trâu chậm uống nước đục* ,anh bị lừa phỉnh nên đã đi quá xa, như chiếc lá cuối mùa, càng ở trên cành lâu nên*không chỗ rụng*. Mặt đất đã kín hết, người khác đã giành hết. Anh tưởng là anh đi gánh nợ non sông, khi anh tỉnh ra, bỏ gánh xuống, gởi lại thì anh đành *thiếu chỗ dừng chân.* Đời anh bốn phía mịt mù, anh còn biết về đâu ??? Vì vậy, khi trở về quê hương anh trở nên người xa la... .
Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Mang niềm thương nỗi nhớ khôn nguôi

Anh thương đời anh bị phỉnh lừa, bị bạc đãi, thương mình ngu ngốc. Đi, cứ đi đi, đi giải phóng Miền Nam, đi làm Nghĩa vụ Quốc tế ở nước bạn. Anh đã hy sinh bao nhiêu mồ hôi nước mắt và cả một phần thân thể anh để ngày hôm nay anh được gì? Một tờ giấy khen, một tấm huy chương không làm anh được no, không làm anh đủ ấm:
Hà nội mang nỗi buồn chiến thắng
Thừa huy chương nhưng thiếu miếng ăn. 

Anh thương anh một đời trôi giạt, hy sinh vô nghĩa, anh tiếc nhớ *thời hoa niên xếp lại ở ven rừng*. Tiếng nạng gỗ của anh gỏ xuống mặt đường đêm như tiếng nấc từ cõi lòng đau đớn vô cùng của anh, như tiếng nói đau thương gỏ xuống mặt đường đêm. Trong cõi đêm thanh vắng, ta có thể nghe rõ từng tiếng động nào đó, tiếng một chiếc xe chạy qua, tiếng rao hàng lẻ loi của người bán phở, chè cháo. Trong tất cả những âm thanh đó, không có tiếng động nào ghê rợn và đau xót lạ lùng như tiếng nạng gỗ gỏ xuống mặt đường. TTĐ có một cái tai rất thính trời cho, có trí tưởng phong phú trời cho, và nhất là phải có một tấm lòng nhân ái bao la, xót xa thương người hoạn nạn như ông mới có thể nghe được tiếng nạng gỗ như tiếng nấc đau đớn gỏ xuống mặt đường đêm.
Anh thương binh trở về, thấy Hà nội nhiều ăn mày, thấy Hà nội chỉ là một khoảng trống vô nghĩa, một đời vô nghĩa, ngày hôm nay vô nghĩa, ngày mai, tương lai gần, tương lai xa đều vô nghĩa:
Dăm trẻ ăn mày nhơ ngác đứng
Tìm gì trong khoảng trống hôm nay
Hỡi em, cô gái quàng khăn đỏ
Lại gần đây nhận diện tương lai

Tương lai của em gái quàng khăn đỏ, mầm non của đất nước,tương lai của dân tộc sẽ là anh thương binh què quặt hôm nay, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, cô đơn trên quảng đường khuya ngay chính trên quê hương mình, cũng một thời quàng khăn đỏ như em đó chăng ?!
TTĐ nghe được tiếng nấc đau thương ấy, thấy được cái buồn thương, nhớ tiếc của người khác, dù một kẻ thù, chính là nhờ ông có một tấm lòng nhân hậu, một tấm lòng, một tâm hồn. Có người sẽ nói :*Đáng kiếp cho tên Cọng sản xâm lược, đem đau khổ cho người Miền Nam, mắc mớ gì TTĐ tỏ lòng thương xót.* Để trả lời, tôi xin thuật lại một câu chuyện của Pháp, trong cuốn Grammaire của Claude Augé tôi đã đọc từ rất lâu : *Sau một trận chiến, người chết và thương binh nằm la liệt trên mặt đất, một vị tướng bèn đi quan sát chiến trường. Bất thần, một tiếng súng nổ, một viên đạn xẹt qua người ông. Ông quay lại, thì ra một thương binh địch đã giương súng bắn vào ông. Mấy mgười cận vệ của ông xông lại tính giết tên lính ấy thì ông xua đi, bảo khiêng tên lính bị thương ấy đi chăm sóc vết thương cho nó, giống những thương binh của ông vây.*

Trước 1975, có cả một Bộ Chiêu hồi với ngân sách đồ sộ, cả viện trợ Mỹ, với bao nhiêu kế hoạch này nọ, nhưng có gì thấm sâu vào lòng người Cọng sản như bài thơ này của TTĐ, cũng chỉ bởi, ông có một tấm lòng nhân hậu, mặc dầu ông không khoa trương om sòm *Lấy tình thương xóa bỏ hận thù.*như hồi ấy. Tôi nói với một người bạn: TTĐ quả thật là một nhà thơ chiêu hồi, không phải ông ra hồi chánh như Xuân Vũ, Đoàn Chỉnh mà chính thơ ông là một lời kêu gọi chiêu hồi chân thật và tha thiết, một chính nghĩa chân thật, chính nghĩa đó là Nhân Bản, đầy lòng nhân ái, từ bi và hỉ xã vâ.y.

Và chính chúng ta:
Người lính già vừa chết đêm qua
( Thao Thức - trang 15 )

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San José bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
Đến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt


Người lính già Việt Nam
Như con thú hoang lạc loài
Trên freeway nhộn nhịp
Một tiếng rên thảng thốt chảy trong mưa
Một chiếc lá cuốn đi theo cơn gió cuối mùa
Một tiếng nấc rã rời trong đêm vắng
Vợ anh đâu?
Sao không về đây vuốt mắt
Con anh đâu?
Sao không đến vấn khăn tang
Anh ra đi như anh đến
Rất vội vàng
Chẳng còn ai trên đời để khóc

Nhân loại văn minh có nhiều cách sống
Nhưng đồng bào tôi có những kiểu chết
rất lạ đời 
Người vợ mang thai
Ôm lấy chồng cùng nhảy xuống biển khơi
Để khỏi rơi vào tay giặc Thái
Cho sóng biển đông ngàn năm còn ru mãi
Một bài ca chung thủy vọng về Nam
Để mỗi sớm mỗi chiều khi thủy triều dâng
Tổ quốc sẽ được bồi thêm
Bằng máu anh thịt chị

Có những bà mẹ nửa đêm thức dậy
Đi bán máu mình mua gạo nuôi con
Đường về chưa tới đầu thôn
Bà gục chết không kịp nhìn con lần cuối
Đứa con út cũng chết dần trong cơn đói
Miệng còn thì thào hai tiếng Mẹ ơi!
Những giọt máu tươi đã giết chết hai người
Sẽ đọng lại trong nghìn trang lịch sử
Cho nước sông Hồng bao giờ cũng đỏ
Như màu máu Mẹ Việt Nam

Đêm qua thêm một đứa con
Vừa mới chết trên đường phố San José 
nhộn nhịp 
Anh không chết ở Hạ Lào, Bìng Long, 
Cửa Việt
Anh không chết ở Hàm Tân, Suối Máu,
Hoàng Liên Sơn
Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn
Trên mộ bia anh thêm một dòng chữ Mỹ.

Đọc mục tin vặt trên một tờ báo nào đó, xuất bản ở một nơi nào đó, chẳng mấy ai chú ý tin một người lính già Việt Nam đã chết ở một nơi nào đó, vào một thời điểm nào đó, vì một nguyên nhân nào đó. Trên xứ Mỹ mênh mông này, hai trăm năm chục triệu người đang sống tất bật, chạy đua với thời gian để giành cho mình những gì muốn có, trong một hoàn cảnh xã hội xô bồ mà phương tiện vật chất đã trở thành mục đích của sống, thì một người lính già Việt Nam nơi tha hương, chết vì một tai nạn xe cộ, vì bệnh tật, vì sức yếu tuổi già, có gì mà người ta phải lưu ý tới. Người Mỹ đã chẳng lưu ý tới, mà người Việt Nam, những kẻ được gọi bằng một từ ngữ gần gủi, trìu mến, đồng hương - cùng một quê hương, *đồng bàơ - cùng một bo.c-ruột-ruột thịt- mà sinh ra- chắc chi có ai thở dài thương xót, tội nghiệp. Thậm chí có người đến đây đã lâu, đã giàu có, sang trọng, văn minh, không muốn nhìn lại người đến sau, nghèo khó, lếch thếch, già nua, ốm đau làm xấu mặt mình, chắc chi không trề môi, chê người *nhà quê* ấy đến đây mà chi, lớ ngớ không rành luật lệ giao thông, để bị xe cán. . . Sự đói khổ làm cho con người phải giành giật mà sống nên trở thành tàn nhẫn, vô lương tâm; nhưng sự giàu có, kênh kiệu cũng làm cho con người trở nên ích kỷ, tàn nhẫn không ít.

 

TTĐ thì không!!! Lòng nhân đạo, biết thương xót trước sự nghèo khổ của người khác, biết buồn, biết đau cái buồn, cái đau của người khác đã làm cho ông xúc động xót xa trước những nỗi bất hạnh của ngườI khác, dù là một người xa lạ, một người lính già mà ông chưa từng gặp mặt, quen biết. Chỉ qua một cái tin nhỏ đăng trên báo cũng làm ông xúc động xót xa.
Ông nhìn số phận của người lính già ấy qua số phận của hàng triệu người đã cầm súng chiến đấu chống lại Cọng sản từ phía Bắc xâm lược. Có người đã hy sinh, trong chiến đấu, trên những chiến trường đã được ghi lại qua báo chí, sách vở, truyền thanh, truyền hình, hay âm thầm ở một góc núi, chân rừng, bờ ruộng, suối khe không tên nào đó. Bao nhiêu xương máu đã đổ xuống, mồ hôi nước mắt đã tuông ra. Số phận đó cũng là số phận của dân tộc chúng ta, thậm chí ít ai lưu tâm tới. Trong khi đó thì người ngoại quốc đến Việt Nam, họ thấy thương cho người Việt Nam bị kìm kẹp giữa những thế lực siêu cường :

*Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ! Họ có thừa khả năng xây dựng đất nước nhưng Quyền làm chủ quê hương của họ đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt.* ( Việt Nam và Tôi - Hồi ký của Merillon, nguyên đại sứ Pháp tại Saigon trước năm 1975 )
Đại tướng Mc Arthur nói : *NgườI lính già không chết, người ta chỉ mờ đi thôi.* Nói như thế không đúng với thân phận người lính già Việt Nam bởi vì người lính già Việt Nam nay đang sống đời vong quốc, lưu lạc nơi xứ người. Quê hương xa vời lắm, Tổ quốc đã không còn, họ :

Như con thú hoang lạc loài
Trên freeway nhộn nhịp

Thân phận của họ là thân phận cô đơn: 

Không cả một người thân
Không ai nói vớI anh một lời tiễn biệt

Sống, cũng cô đơn. Đau đớn, rên xiết, cũng chỉ có một mình. Và Chết, cũng cô đơn.
Một tiếng rên thảng thốt chảy trong mưa
Một chiếc lá cuốn đi theo cơn gió cuối
mùa
Một tiếng nấc rã rời trong đêm vắng
. . . . . . . . . 
Anh ra đi như anh đến
Rất vội vàng
Chẳng còn ai trên đời để khóc

Trước 1975, có lẽ không có nhiều người tin lắm vào câu
biểu ngữ được giăng trên đường phố Saigon * .. .. Tổ
quốc mất, mất tất cả*. Điều đó không đúng với số
phận người lính già hôm nay đó chăng ? *Chẳng còn ai
trên đời để khóc*. Anh mất nhà, mất cửa, điều đó
đã đành khi anh rời bỏ quê hương. Nhưng
Vợ anh đâu ?
Sao không về đây vuốt mắt
Con anh đâu ?
Sao không đến vấn khăn tang.

Khi còn chiến tranh, người ta lo cho số phận người lính chiến đấu ngoài sa trường nhiều hơn. Người ta lo sợ người lính sẽ không về. *Cổ lai chinh chiến địa, kỷ kiến hữu nhân hồi.* Hoặc có về thì cũng *trên chiếc trực thăng sơn màu tang trắng.* Hết chiến tranh rồi, không riêng gì người lính mà ngay cả người dân vô tội, cuộc sống bỗng bấp bênh hơn, cái chết kề cận hơn. Biết bao nhiều người đã nằm xuống trong trại tập trung, ở vùng Kinh tế mới, ở Nông trường, Công trường, hay trên đường vượt biên, trốn chạy Cọng sản. Vợ con anh ? Có ai đã sống chết trong những bi kịch đó của cuộc đời sau khi Cọng sản thống trị miền Nam.
Chiến thắng vinh quang là niềm ước mơ của người lính, niềm hy vọng ngày sau sử sách còn ghi những chiến công của họ ở Đămbe, Charlie, Bình Long, Quảng tri.. Ít ra, khi nằm xuống, trên quan tài họ còn được phủ lá cờ Tổ quốc, còn được những phát súng chào đưa tiễn, một điếu văn liệt ghi công trạng, hay dù trong trại tù Hoàng Liên sơn, Làokai, Cao bằng, Hàm tân, Suối máu, cũng có vài bạn tù đưa tiễn và thương tiếc. Không như

Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn
Trên mộ bia anh thêm một dòng chữ Mỹ .

 

Trước chiến tranh, Vũ Hoàng Chương viết *Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ* . VHC nói như thế là không đúng với thực tế xã hội hồi đó lắm đâu. Chẳng qua ông chịu ảnh hưởng một thứ văn chương lãng mạn Pháp mà nhìn đời bằng con mắt chán chường bởi cuốc sống dư thừa đó thôi, mượn một ý tiêu cực để tô vẽ màu mè cho một thứ văn chương cá nhân chủ nghĩa.

Ngày nay thì khác. Chúng ta lớn lên trong một thời kỳ tranh giành quyền lợi kịch liệt một mất một còn giữa hai khối Cọng sản và Tư bản. Trong cuộc chiến tranh lạnh sau thời kỳ Thế giới chiến tranh thứ hai, cả hai phía đều rắp tâm biến Việt Nam thành một điểm Nóng cho cuộc chiến tranh Lạnh mà dân tộc Việt Nam ở cả hai Miền đều là những con vật hy sinh để giải quyết mâu thuẫn giữa hai khối ấy. Phải chi chúng ta sinh ra vào thời kỳ nhà Trần chống quân Mông cổ, thời Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh, thế nước còn độc lập, quốc tế chưa đủ mạnh để vạch ra những quỹ đạo buộc các nước nhỏ phải tuân theo. Vào thời kỳ đó, dù phải hy sinh cho vua thì cũng là hy sinh cho dân tộc và đất nước. Còn ngày này, hy sinh? ai hưởng thụ công ơn ấy, mặc dù người ta ghi lên bia mộ Tổ quốc ghi công hay Tổ quốc ghi ơn thì đâu phải cho đồng bào chúng ta, cho Tổ quốc chúng ta ?

Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
Và chết cũng nhằm nơi.

Thân phận đó, có riêng gì cho

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San José bụi bặm

mà cho tất cả chúng ta, những người đã cầm súng, đã chiến đấu, đã đổ mồ hôi, nước mắt và máu và có khi cả một phần thân thể bỏ lại trên quê hương mình rồi nay đành sống kiếp người tha hương vâ.y.

Tôi yêu thơ TTĐ bởi ông có tấm lòng, tôi trân trọng tình yêu quê hương của ông bởi đó là tình yêu cao thượng, một tình yêu rộng lớn, từ nơi làng quê bé nhỏ của ông cho tới núi đồi trùng điệp, biển đông xanh thẳm, hải đảo xa xôi nghìn dặm, cả những người thân sơ, bè bạn v.v. .. Ông yêu những cái gì chung cho mọi người, cho đồng bào ông. Bởi thế, có người nói là ông ít làm thơ tình, có nghĩa là thơ của hai người yêu nhau, lấy nhau, bỏ nhau v.v. . Dù tình yêu là đề tài muôn nơi và muôn thuở nhưng xem ra vẫn là những gì riêng tư giữa hai người với nhau. Tôi yêu ông bởi ông muốn sống có ích cho đời, không chịu được những cái tầm thường nhỏ nhặt, những cái làm cho con người trở nên tầm thường ích kỹ, ông muốn gióng lên một hồi chuông gọi kêu tuổi trẻ ý thức trách nhiệm của mình với đồng bào, quê hương, đừng để uổng công thầy cô, áo cơm cha mẹ :

Hai mươi năm lê bước lưu đày
Sáng chiều cơm áo nặng đôi vai
Hai mươi năm nữa đời như thế
Sống chỉ thêm thừa một kiếp trai. 

Có vậy chứ. Xã hội Âu Mỹ ngày nay bị vây chặt bởi những thứ văn minh vật chất: Xe cộ, nhà cửa, quần áo, dép giày là những phương tiện sống đã biến thành mục đích của cuộc sống. Người ta mong cầu đến Mỹ để có nhà sang, có xe xịn v.v.. . Ý nghĩa cuộc sống chỉ vậy thôi sao ???!!! Vậy thì con người sao được gọi như người xưa là tối linh ư vạn vật.??? TTĐ không muốn thế, bởi vì ông đã sống như thế, *Sớm chiều cơm áo nặng đôi vai.* Ông hơn người ở chỗ ông biết sống như thế là Sống thừa, Sống mòn, cuộc sống mà ông gọi là *thừa một kiếp trai.* Một kiếp trai mà người xưa gọi là Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan.
Biết như thế mà chúng ta đành ngồi chờ sao ??? Chờ tới bao giờ ??? Ai đem sức chiến đấu lại cho ta ? Ai đem hơi thở lại cho ta ? Ai đem vũ khí lại cho ta ? Vũ khí lợi hại nhất chính là thứ vũ khí trong tâm hồn mình, là thứ vũ khí có được khi chúng ta nghe lời kêu gọi của hồn Tổ quốc. Thơ TTĐ cũng là tiếng chuông réo gọi:

Giờ đã điểm rồi hỡi tuổi xanh
Có nghe nét chữ réo tung hoành
Có nghe dòng mực sôi trang giấy
Giờ đã điểm rồi hỡi tuổi xanh
( Vũ Hoàng Chương )

Chỉ còn 3 năm nữa thôi là nhân loại bước vào một thiên niên kỷ mới. Mọi nước quanh địa cầu đã và đang chuẩn bị cho một thời đại mới, còn quê hương chúng ta, đồng bào chúng ta đang

Ở một nơi không có mùa xuân
Chim chóc cũng chẳng buồn về đậu

Và chúng ta khoanh tay ngồi đợi đến bao giờ, hỡi những người còn trẻ trung yêu dấu ?