Trang Chủ  | Văn  | Thơ   | Thơ Anh Ngữ   | Tác Phẩm  | Tiểu Sử  | Nhận Xét  | Âm Thanh  | Truyện Dịch

 

 

Trần Trung Đạo và Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác
Nam Dao (VNN - TNT)

 

Mạn đàm với nhà thơ Trần Trung Đạo do Nam Dao thực hiện, được truyền đi trên làn sóng của đài phát thanh Tiếng Nước Tôi, trong tiết mục ‘Câu Chuyện Chúng Ta’.

Tuổi thơ tôi gắn liền với màu áo lam hiền hoà của Gia Đình Phật Tử, với những bài hát dễ thương, những cái gút, những tiếng còi, tiếng ve, những trò chơi lớn, những đêm lửa trại và cả tiếng chuông chiều, kinh tối của Ba Phong, trung tâm sinh hoạt tinh thần cho cả làng

 

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi thương đau
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn

Những lời tâm bút mộc mạc ở trên và những câu thơ rủ lá vàng trên một cuộc đời nối tiếp chuyện đau buồn hẳn sẽ không xa lạ gì đối với những ai thích đi tìm đọc những áng thơ hay những câu văn chân thật đượm nhân bản tính và tình con ngườị. Tác giả của những câu thơ nói trên không ai khác hơn là thi sĩ Trần Trung Đạo hiện đang cư ngụ tại tiểu bang Massachusett. Sau khi đọc qua hai tập thơ Thao Thức và Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười cũng như 22 bài tâm bút trong tác phẩm mới nhất ‘Giấc mơ VN’ cuả Trần Trung Đạo, ND bỗng xúc động và cảm nhận nhiều hơn tâm tư của một cậu bé mồ côi mỗi buổi sáng một mình ôm chổi ‘quét lá vàng như quét nỗi cô đơn’.

Điều gì đã khiến cho một kỹ sư điện toán tên Trần Trung Đạo phải dùng cái nghiệp tay trái thơ văn của ông để trang trải lòng mình? Ngoài nỗi cô đơn thiếu mẹ, còn nỗi trăn trở nào khác đã nhuộm vàng cuc sống an nhàn khiến cho tác giả vẫn còn thốt lên :

Lá vẫn rụng khi mỗi muà thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn

Những sự tiếp nối đau buồn gói ghém trong thơ văn có khiến cho Trần Trung Đạo phó thác đời mình bỏ mặc cho con tạo xoay vần hay không ? Hay là qua chính những khổ đau cuả kiếp sống trầm luân đó Trần Trung Đạo đã trưởng thành vươn lên tìm ra được cho mình một hướng đi mới, một hướng đi nhân bản bàng bạc trong thơ văn của ông.

***

Nam Dao (ND): Thưa anh cái tên Trần Trung Đạo có mang 1 ý nghiã nào đặc biệt với riêng anh khiến anh đã chọn nó làm bút hiệu cho thơ văn mình?

Trần Trung Đạo (TTĐ): Trước hết, xin kính chào quý vị thính giả. Cám ơn chị Nam Dao đã dành cho tôi, cho thơ văn của tôi sự quan tâm và nhiều cảm mến. Tôi nghe nhạc anh Phan Văn Hưng và chị Nam Dao nhiều năm nay nhưng chỉ hân hạnh được làm quen mới đây, và hôm nay là lần đầu tiên được nói chuyện với chị qua hệ thống phát thanh này. Tuy chưa biết nhiều, tôi tin rằng, những tâm hồn Việt Nam cùng một cảm xúc, một ước mơ, dù ở chân trời hay góc bể, dù cách nhau cả một đại dương, vẫn cảm thấy gần nhau. Trở lại với cái tên Trần Trung Đạo. Tôi nghĩ đến bút hiệu Trần Trung Đạo khi tôi còn nhỏ và hiểu trong một ý nghĩa rất đơn giản. Trung Đạo là một con đường trung hòa, bao dung, không cực đoan, không quá khích. Những ngày lớn hơn, tìm hiểu về Bát Chánh Đạo, tôi hiểu thêm về Trung Đạo là một phương pháp tu học mà chính đức Phật cũng đã đi qua trên đường đạt đến giác ngộ, sau khi ngài đã thực nghiệm bằng bản thân qua nhiều phương pháp tu học khác nhau. Lớn lên trong đất nước điêu linh, một dân tộc bị cuốn vào vòng tranh chấp của hai khối quyền lực cực đoan, chỉ nhằm tiêu diệt lẫn nhau, tôi cảm nhận rằng đất nước của chúng ta cũng cần có một thái độ Trung Đạo để có thể tồn tại trong chiến tranh, vượt qua các tranh chấp và thăng tiến được trong tương lai. Con đường Trung Đạo, không nên hiểu đơn giản như trung lập, như thỏa hiệp theo kiểu chính trị hay việc chọn ra những cái tốt của hai bên, nhưng chính là sự trở về với các tinh thần độc lập, nhân bản, dung hợp và khai phóng của dân tộc Việt Nam, đã nhiều lần chứng nghiệm qua hơn 4 ngàn năm lịch sử. Khi ký tên Trần Trung Đạo lần đầu tiên trong bài thơ ‘Những Ngày Ở Lại Sài Gòn’, bút hiệu đó, với tôi, còn là mang một ý nghĩa riêng tư như là cách để tự nhắc nhở mình, hãy giữ lấy và cố gắng sống trọn với những ước mơ tươi đẹp mà chính tôi đã xây nên từ thuở thiếu thời, đã đi được một đoạn đường khá dài, nên cố gắng tiếp tục mà đi, tiếp tục để vươn lên làm một người có ích cho gia đình, cho quê hương, cho xã hội con người .

ND: Thưa anh, sau khi đọc những tác phẩm của anh ND cảm thấy ba yếu tố quan trọng đã xoáy vào tâm tư anh đó là những kỷ niệm buồn của một thời thơ ấu kém may mắn, Nỗi đau VN và giấc mơ Việt Nam.

Khi nói về tuổi thơ của một cậu bé còn nằm trong nôi, vô tình buông tiếng khóc cho đời mình cút côi, bài thơ làm ND xúc động nhất là bài ‘Nhớ cây đa chuà Viên Giác’. Có lẽ cây đa chuà Viên Giác đã giữ một chỗ đứng quan trọng trong trái tim thơ ngây của cậu bé TTĐạo cho nên anh đã viết:

Đa làm mẹ vỗ về tôi giấc ngủ
Đa làm cha che mát những trưa hè
Đa làm bạn quây quần khi rảnh rỗi
Đa làm người chơn thật chẳng khen chê

Thưa anh Đạo, tại sao anh lại chọn cây đa là người bạn tri kỷ để tâm sự mà không tìm một người thân thích nào khác để chia sẻ cùng anh những nỗi buồn thầm kín của tuổi thơ.

TTĐ: Tôi không chỉ chọn cây đa làm tri kỷ nhưng đúng hơn tôi, dù muốn, tôi cũng không còn ai khác ở chung quanh trong thời thơ ấu để mà chọn lựa. Thầy trụ trì bận rộn, các chú tiểu quá hồn nhiên, không ai hiểu tôi và thân thiết với tôi. Trong những ngày ở chùa Viên Giác, tôi nhỏ nhất nên được thầy trụ trì chia làm công việc nhẹ. Tôi không phải gánh nước tưới rau. Buổi sáng tôi thức dậy sớm để quét lá đa, buổi trưa ngồi học bài dưới gốc đa, và buổi tối nằm nghe đa hát ru tôi ngủ. Hình ảnh thân thương và gần gũi nhất của tôi vì thế không phải là con người mà là bóng đa già. Những đêm mưa lạnh không ngủ được, tôi nằm tưởng tượng bóng đa kia là bàn tay của mẹ tôi đang vỗ về tôi, và tôi thiếp đi trong bàn tay dịu dàng đó. Khi tôi ngồi học bài trên bệ đá trong sân chùa những buổi trưa, tôi tưởng tượng bóng đa cúi xuống che mát cho tôi bóng cha tôi mỗi khi coi lại bài vở của tôi hồi nhỏ. Khi rảnh rỗi tôi vẫn thường ra ngồi nghe đa hát bài đồng dao muôn thuở, xôn xao khi tôi vui, ray rức khi tôi buồn.

ND: Khi mà anh viết 4 câu thơ trên. Điều này cho thấy chú bé TTĐạo đã không có ai bên mình để tâm sự. Trong sự tột cùng cô đơn và nhất bị bao vây bởi đói nghèo và không có người thân thích để nương tựa, vậy thì lúc đó cậu bé Trần Trung đạo phải vịn vào yêú tố nào để chiến đấu hầu có thể tồn tại trước bao nhiêu bất hạnh của thế gian đang đè lên đôi vai bé nhỏ của cậu ?

TTĐ: Thỉnh thoảng chị hay bắt gặp những bông hoa dại nhỏ mọc giữa hai kẽ đá phải không? Nếu chúng ta hỏi bông hoa kia vịn vào đâu. Không vịn vào đâu cả. Bờ tường đá rắn chắc, không phân bón, không bàn tay chăm sóc. Nhưng cây hoa nhỏ kia vẫn cố sống, vươn lên, nở hoa làm đẹp cuộc đờ. Hồi nhỏ, tôi chấp nhận hoàn cảnh một cách hồn nhiên như bông hoa dại đó vậy. Tôi sống trong âm thầm và cô đơn nhưng rất mạnh về tinh thần. Nhờ aỉ Tôi không biết vì lúc đó tôi chỉ 13,14 tuổi, hiểu biết về Phật Giáo còn rất là non nớt. Nhưng tôi không coi những bất hạnh của mình là định mệnh an bài hay số phận rủi ro, để rồi phó thác cho dòng đời trôi nổi về đâu mặc về đâu. Trái lại, ngay trong những ngày đầu tiên rời làng Mã Châu ra đi, còn tạm trú trên căn gác của một trại cây ở Đà Nẵng tháng 2 năm 1968, tôi đã quyết chí thay đổi nó. Khổ phải than, buồn phải khóc nhưng tôi biết than khóc không làm vơi hết sự khổ đau, thay vào đó, tôi phải cố gắng vươn lên, bằng tự tin, bằng sức sống của chính mình.

ND: Trước sự thật phũ phàng :

Tôi khổ cực từ khi cha mất sớm
Nên bà con thân thuộc cũng xa dần

Thưa anh ở thời điểm đó cậu bé TTĐ nghĩ gì về thế thái nhân tình ? Anh có nhìn cuộc đời dưới con mắt tiêu cực hay không ?

TTĐ: Với một đứa bé mồ côi, dĩ nhiên không phải bao giờ cuộc đời của nó cũng là một màu xanh. Có nhiều lúc tôi ngồi nghe từng cơn đau chạy vào buồng tim nhỏ của mình. Nhiều khi sáng thức dậy thấy chiếc gối còn đẩm ướt. Nhưng nỗi đau của tôi là của riêng tôi. Tôi không thích kể lể với ai. Tôi không thích nghe ai hỏi về chuyện đời tôi. Ra đường bao giờ tôi cũng cười nói, vui tươi. Tôi dấu nỗi khổ đau trong đáy mắt và ngậm kín nỗi buồn mà đi. Tuy nhiên, tôi không đau khổ đến mức tuyệt vọng, đến mức phải bỏ đi bụi đời như hàng trăm đứa trẻ tuổi tôi ở Đà Nẵng thời đó. Bà con họ hàng tôi, có người thương tôi và cũng có kẻ ruồng bỏ tôi, nhưng tôi chẳng ghét ai. Nếu họ không thể đón nhận tôi chỉ vì hoặc họ có hoàn cảnh riêng hoặc vì họ quá nghèo, không lo đủ cho họ thì làm sao có thể dung dưỡng được tôi. Trong một số bài viết, tôi có kể vài mẫu chuyện với một chút cay đắng, phũ phàng bởi vì đó chi tiết thật chứ không phải để trách họ. Sau này vô Sài Gòn, mỗi khi có dịp tôi vẫn về thăm bà con tôi. Trước ngày vượt biên năm 1981, tôi cũng về Đà Nẵng thăm cô tôi và những bà con khác. Trong một bài thơ tôi viết:

Ta vẫn đi trên quãng đường trần
Thương từng hạt bụi vướng đôi chân
Đời xô ta gục buồn không trách
Vẫn đứng lên cười với thế nhân.

ND: Trong trạng thái bơ vơ lạc lõng anh lại tìm về cây đa thủ thỉ với người bạn tri kỷ:

Khi tôi khóc đa đau từng cuống lá
Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân

Thưa anh Đạo, người ta vẫn thường nói thời gian và thiên nhiên là những liều thuốc nhiệm màu giúp hàn gắn được những khổ đau mất mát trong đời người. Vậy thì cậu bé TTĐ đã tìm thấy nơi cây đa chuà Viên Giác điều gì nhiệm mầu xoa dịu được nỗi buồn lẫn đem lại niềm vui cho cậu bé ?

TTĐ: Có chứ chị. Biết bao đêm tâm hồn tôi hòa trong tiếng lá ru như hòa trong điệu kinh khuya. Tôi tìm trong đó sự bình an. Tôi cảm thấy được che chở, được vỗ về. Tôi biết ơn hai cây đa chùa Viên Giác rất lớn. Ngày xưa, từ thầy và các chú, cho đến bà con hàng xóm chung quanh chùa, ai cũng nghe tiếng đa xào xạc, khi gió sớm, buổi chiều về. Nhưng với tôi thì khác. Đa của tôi không chỉ có xào xạc khi cơn gió thổi về, hay lá rụng khi mỗi mùa thu tới. Đa của tôi biết vui với niềm vui của tôi, biế t buồn trong nỗi buồn của tôi, biết thì thầm chia xẻ những khó khăn vất vả của tôi, biế t xôn xao khi tôi cười, biết an ủi vỗ về khi tôi khóc. Vì vậy sau này, dù nhiều thầy, nhiều anh chị ở trong chùa hay chung quanh chùa Viên Giác, Hội An cùng thời với tôi hay trước tôi, đã trở thành nhà văn nhà thơ như Thượng Tọa Như Điển ở Đức, nhà thơ Thái Tú Hạp ở Mỹ chẳng hạn, nhưng chỉ có tôi là viế t nhiều về hai cây đa của chùa Viên Giác. Bởi vì đa hiểu được tấm lòng u uất của tôi, tiếng của cây đa, thật ra, chính là tiếng dội của ước mơ tôi trong thời thơ ấu.

ND: Tuy tuổi trẻ của anh phải sống qua những kinh nghiệm bạc bẽo về tình người, vậy mà khi lớn lên anh không có mang tâm trạng thù ghét thế thái nhân tình. Ngược lại thơ văn cuả anh lại nồng nàn tình người được gói ghém trong hai câu thơ:

Nếu tôi chỉ được một lần để viết
Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu

Vậy thì điều gì đã khiến anh chối bỏ sự hận thù để hướng anh về con đường nhân bản xây dựng tình người mà ND thấy bàng bạc trong thơ văn cuả anh ? Có phải chăng những ngày tháng sống ở chùa Viên Giác hay những sinh hoạt trong gia đình Phật tử Ba Phong đã gieo những hạt giống từ bi trong tâm hồn chú bé TTĐ ngay từ thuở đó ?

TTĐ: Tinh thần Phật Giáo đóng góp một phần quan trọng trong việc xây dựng một nhân sinh quan có tính hướng thiện của tôi, và một phần khác cũng phát xuất từ những cảm nhận bẩm sinh của riêng tôi. Tôi cảm nhận từ rất sớm rằng những khó khăn và bất hạnh của tôi đã hòa chung vào khó khăn và bất hạnh của đất nước. Trong những ngày ở Hôi An, Đà Nẵng vào những năm 1968 đến 1972, tôi chứng kiến những cảnh khổ vô cùng của đồng bào tôi, của những người cùng thế hệ nhỏ như tôi. Trên những bến xe đò, trên hè phố, đâu đâu cũng thấy ăn mày, đâu đâu cũng có người chạy giặc, đâu đâu cũng có tật nguyền thương tích chiến tranh. Đạo Phật dạy tôi rằng khi nhìn vào sự khổ đau, hãy nhìn vào nguyên nhân của nó hơn chỉ nhìn vào sự lở lói bên ngoài. Tôi tin rằng chỉ có tình đồng bào, lòng bao dung dân tộc mới xóa bỏ được khổ đau của đất nước mình hiện nay và mở ra một chân trời mới cho tương lai.

ND: Anh đã từng tâm sự: ‘Tôi cũng còn có những người mẹ bằng xương bằng thịt mà chỉ là cây, như cây đa chùa Viên Giác ở Hội An. Cây đa già đã ru tuổi thơ tôi trong một điệu kinh buồn đầy đau xót. Đa dạy tôi làm người chân thật, đa dạy tôi chịu đựng, đa dạy tôi vươn lên trong cuộc đời vẫn còn đầy những gian nan trắc trở’

Ngày hôm nay , anh đã vượt qua những gian nan trắc trở trong cuộc sống, người mẹ thiên nhiên đó giờ đây có còn giữ một chỗ đứng tình cảm quan trọng trong đời sống nội tâm của anh nữa hay không ?

TTĐ: Đương nhiên. Tôi viết bài Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác 20 năm sau ngày tôi rời chùa chứ không phải viết ngay sau ngày ra đi. Một thế hệ đã trôi qua nhưng hình ảnh của hai cây đa già, tiếng động của một chiếc lá rơi, nhát chổi khua trên con đường vắng trước cổng chùa, giọng hát của thằng bé đang nằm hát dưới ánh trăng Rằm như vẫn còn vang vọng trong lòng tôi. Hai mươi năm sau, thằng bé ngày xưa đã lớn, đã có một gia đình êm ấm, nó không còn cô đơn, bè bạn nó ở khắp năm châu, nhưng chị tin không, tâm hồn của nó, ước mơ của nó không khác xưa nhiều lắm. Bây giờ tôi vẫn có những phút riêng tư ngồi yên với kỷ niệm. Sau hơn 30 năm, cây đa đó không còn nữa, thầy tôi đã viên tịch, cô tôi đã qua đời, nhưng bóng đa già trong sân chùa Viên Giác vẫn che mát đường tôi đi và hình ảnh của cây đa sẽ mãi mãi có một chỗ đứng quan trọng trong khu vườn đời rất nhiều điều kỳ lạ của tôi.

ND: Xin anh cho biết tại sao ?

TTĐ: Bởi vì, cây đa là cha mẹ, anh em, là bè bạn, là sân chơi , là mối tình đầu của đời tôi, là chiếc bóng của tôi, là tất cả những gì tôi có trong tuổi thiếu niên đầy hoạn nạn.

ND: Những điệu ru mà cây đa xưa đang ru anh ngày hôm nay có còn là những điệu kinh buồn đầy đau xót hay chăng ?

TTĐ: Có. Nhiều khi còn đau xót hơn hồi xưa nữa. Những lúc lắng lòng nhớ về cậu bé chùa Viên Giác, tôi vẫn còn thấy xót đau, vẫn thấy thương cậu bé ấy làm sao. Cậu bé ốm oi, vai đeo một cái túi nhỏ, chân mang đôi dép nhựa cũ mòn, đi một mình trong mùa bão lửa, không một người hỏi han, thăm viếng. Cách đây không lâu, sinh nhật 13 tuổi của đứa con trai, tôi vuốt tóc nó mà rơi nước mắt khi nhớ về mình thuở tuổi 13. Tôi tự nghĩ, nếu thả con tôi ra trong hoàn cảnh tôi đã trải qua, chắc nó không sống sót được bao lâu. Tôi sống như thế không phải một ngày, một đêm, một tháng mà nhiều năm dài.

ND: Trong tập thơ Thao thức, ND đặc biệt chú ý đến một bài thơ ngắn mang tựa đề ‘Hèn’ vỏn vẹn có 4 câu thơ:

Đâu hồn Yên Thế máu Chi Lăng
Gió bụi Nam Quan sóng Bạch Đằng
Con cháu một bầy quên sử sách
Học mấy mươi năm một chữ hèn

Tại sao anh lại viết những câu thơ trên và anh đã viết trong hoàn cảnh nào ?

TTĐ: Tôi viết 4 câu thơ đó cách đây lâu lắm, trong một tâm trạng thái vô cùng bức xúc, giận dữ và hổ thẹn khi nghĩ về đất nước. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc có một lịch sử dài hơn 4 ngàn năm. Tổ tiên chúng ta đã để lại cho chúng ta một gia tài vô cùng phong phú, với tất cả phương tiện cần thiết để đưa đất nước Việt Nam thành một cường quốc văn minh và hiện đại. Chúng ta có tinh thần độc lập, tự chủ cao hơn bất cứ một quốc gia nào ở vùng Đông Nam Á. Chúng ta có một nền văn minh, văn hóa lâu đời nhất ở Á Châu. Chúng ta có đức tính hướng thượng khai phóng và dung hợp hết sức hài hòa giữa các nền văn minh, các nguồn văn hóa. Chúng ta có một lãnh thổ đầy ắp tài nguyên trải dài trên 3 ngàn cây số biển. Nhưng cho đến nay, Việt Nam vẫn là một trong số vỏn vẹn 5 quốc gia còn trong thể chế độc tài Cộng Sản, Việt Nam vẫn còn là quốc gia nghèo nàn lạc hậu, số phận của cả dân tộc vẫn còn nằm trong tay một thiểu số cường hào ác bá, tham nhũng thối nát. Chữ "Hèn" trong câu thơ không nhằm ám chỉ, nguyền rủa một ai, thật ra để trách móc chính tôi và những người cùng lý tưởng như tôi, nhiều hơn là ám chỉ người khác. Cái tôi trong đó là cái tôi sợ hãi, cái tôi trốn tránh, cái tôi chưa làm đủ trách nhiệm của một người Việt Nam.

ND: Nhà thơ Phùng Quán có những lúc ngã lòng đã phải vịn câu thơ mà đứng dậy

Khi anh ở trong tâm trạng tạm gọi là xuống tinh thần vì cảm thấy mình không làm được gì nhiều cho quê hương dân tộc, anh có vịn ngòi bút để đứng dậy hay không ?

TTĐ:

Có những lúc ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy

Nhà thơ Phùng Quán đã vịn thơ mà đứng dậỵ Đứng dậy để làm một nhà thơ chân thật. Vì chọn để làm một nhà thơ chân thật nên trong suốt 30 năm ông đã phải sống trong đói khát, trong cô đơn. Ông không còn ai ngoài Thơ, người bạn đường duy nhất trên hành trình làm người chân thật của ông. Tôi tin rằng không phải chỉ có nhà thơ Phùng Quán, mà mỗi chúng ta đều có lúc ngã lòng, và mỗi chúng ta đều đã từng cần một chỗ vịn để đứng lên. Vâng, tôi cũng có nhiều lúc ngã lòng. Và mỗi lần như thế tôi đều vịn thơ mà đứng dậy. Thơ nhắc nhở tôi về ước mơ chưa hoàn thành, về hoài bão của tuổi thanh niên đang bị lãng quên trong ngựa xe tấp nập. Thơ thắp lên ngọn lửa giữa lúc lòng tôi đang dần dần nguội lạnh, đang bị cuốn hút trong những xa hoa phù phiếm của quê người.

ND: Khi ở trong tâm trạng xuống tinh thần phải vịn ngòi bút mà đứng dậy anh sáng tác những bài thơ hay bài văn nào ?

TTĐ: Những bài ‘Em Bé Việt Nam và Viên Sỏi’ để nhớ về các em nhỏ tôi đã gặp ở trại tỵ nạn, ‘Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác’ để nhớ đến chính tôi trong thời thơ ấu, ‘Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười’ để nhắc rằng tôi còn có mẹ để thương, ‘Nỗi Buồn Chiến Thắng’ để chia xẻ những người bạn người anh sinh ra ở miền Bắc, ‘Anh Bộ Đội Thương Binh’ để nhắc đến thân phận Việt Nam dù sinh ra ở bất cứ nơi đâu, Người Tù ở Trại Whitehead về những người còn ở lại trại tỵ nạn sau khi đóng cửa, ‘Người Lính Già Việt Nam’ để nhớ đến các anh đã đổ máu xương vì tự do của tôi, và một số bài thơ khác. Tôi viết những bài thơ đó trong tâm trạng bức xúc, cố gắng vực dậy những điều tích cực, lạc quan từ những cảnh huống bi quan, đau lòng nhất của tôi và của dân tộc tôi.

ND: Thưa anh Đạo, anh sáng tác câu thơ đầu đời vào lúc anh mấy tuổi ?

Tôi viết bài thơ đầu tiên khi học lớp 8 ở trường Nguyễn Duy Hiệụ Lúc đó cha tôi mất được vài tháng. Buổi chiều tôi ngồi nhớ cha, nhớ nhà, nhớ ngôi làng Mã Châu thân thương chỉ cách vài đó vài chục cây số nhưng chỉ còn là ký ức. Sau này tôi có viết thêm một số thơ khác, và thậm chí có in chung một tuyển tập với bạn bè khi học năm thứ nhất ở Sài Gòn. Tuy nhiên phần lớn thơ không hay, cường điệu và nhiều sáo ngữ. Thơ tôi chỉ thực sự nhem nhúm sau 1975 và bộc cháy thành một phong trào nhỏ trên Internet ở hải ngoại từ đầu năm 1990.

ND: Tại sao anh lại yêu thơ và thích làm thơ ?

Tại vì đất. Tôi sinh ra ở một nơi, như nhà thơ Luân Hoán có lần viết "Cám ơn đất đá trổ thơ, lòng ta hạt bụi bơ vơ bám hoài". Quê hương tôi là vùng đất của thi ca. Tôi đi nhiều và quen biết nhiều nhưng có lẽ không một tỉnh nào có nhiều người làm thơ hơn Quảng Nam Đà Nẵng. Nếu gọi thơ là phương tiện để tỏ bày tình cảm, thì người dân xứ Quảng chúng tôi có thể nói là những người tận dụng phương tiện đó. Buồn, vui, thương, ghét đều được mang vào thơ. Tôi thừa hưởng di sản văn hóa đó, nên tôi cũng làm thơ.

ND: Theo anh thế nào là một bài thơ hay ?

TTĐ: Thật khó để có thể có một định nghĩa cho một bài thơ hay. Mỗi nhà thơ đều có quan niệm riêng của họ về sáng tác và về nghệ thuật. Mỗi người đọc cũng đọc thơ theo cảm xúc riêng của mình. Theo tôi, nếu phải trả lời, tôi nghĩ thơ hay là thơ phải sống với thời gian, phải có tâm hồn, phải trong sáng, phải có tư tưởng, phải nói lên một cái gì đáng nói.

ND: Như anh biết tình yêu trai gái là một đề tài vô tận mà nhân loại không ngừng khai thác từ thời ông Adong và bà Eva cho tới naỵ Nguồn cảm hứng sáng tác đó đã để lại cho hậu thế biết bao tuyệt tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong lời tựa cho tập thơ ‘Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười’ của anh, nhà văn Lôi Tam đã viết : ‘ Tôi cho rằng một giai đọan lịch sử tồi tệ nhất là giai đọan mà ở đó những nhà thơ không còn đủ can đảm để làm thơ tình. Thơ tình theo cách suy nghĩ của tôi, là những vần thơ viết về những xúc cảm liên quan đến tình ái. Đối tượng tạo ra cảm hứng cho người làm thơ là thứ đối tượng thu hẹp. Hẹp đến mức chỉ đủ chỗ chứa bản thân mình và người mình yêu...’ Thế anh Đạo nghĩ gì về câu nói trên của nhà văn Lôi Tam ? Nhà văn Lôi Tam có đi guốc trong bụng anh khi nói điều đó hay chăng ?

TTĐ: Vâng. Tôi không khắc khe đến nỗi cho rằng thi ca lúc nào cũng nào cũng phải là vũ khí, cũng phải là dụng cụ tuyên truyền, để hoan hô đả đảo, hay để rao giảng một tín điều đạo đức. Chúng ta là những những cá thể tự do. Tự do trong suy nghĩ và tự do trong phát biểu. Nhưng đồng thời, tôi cũng nghĩ một người cầm bút không nên thờ ơ với sinh mệnh của dân tộc mình. Mỗi bước chân chúng ta đi trên con đường tự do hôm nay, còn đọng bao vết máu của những người đi trước. Thú thật tôi không thể cầm bút viết những bài thơ tình yêu trai gái một cách tự nhiên giống như khi viết về đất nước, về cuộc đời tỵ nạn của mình. Trong thơ tôi thỉnh thỉnh thoảng cũng có một vài thơ tình nhưng đó chỉ để làm cho có hơn là viết từ trái tim mình.

ND: Người nghệ sĩ là người dễ xúc cảm và cảm nhận được những cái đẹp ở đời. Tình yêu trai gái cũng là những xúc cảm đẹp. Thế điều gì đã ngăn chặn anh cảm hứng sáng tác những bài thơ tình ?

TTĐ: Tôi là một người rất đa cảm, rất dễ rung động trước cái đẹp, từ một phong cảnh, một bông hoa, một câu nói có duyên và cả khi nhìn một người con gái đẹp. Nếu không phải vậy thì ngày xưa tôi đã nghe lời thầy Giải Nguyên mà đi tu rồi. Thế nhưng những cái đẹp đó như mây trời, đến và đi, không làm tôi xúc động đến nỗi viết thành thơ. Nguồn cảm xúc lớn nhất trong thi ca của tôi vẫn là đất nước. Tại sao? Có thể vì tôi không có một đời sống riêng tư từ khi còn quá nhỏ, cái gì của tôi, từ nỗi đau cho đến niềm vui, cũng là của nghìn phương góp lại, và có thể tôi bị ám ảnh quá nặng nề, bởi những bất hạnh của riêng tôi, cũng như những cảnh khổ đau tôi đã chứng kiến, nặng nề đến nỗi không thấy gì đáng để nói, đáng để viết hơn là đất nước.

ND: Trong tất cả những bài thơ anh sáng tác, anh thích nhất bài nào vậy thưa anh ?

TTĐ: Tôi thích nhiều bài nhưng có lẽ nếu phải chọn tôi vẫn thích bài Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác nhất.

ND: Tại sao anh lại đặc biệt thích nó ?

TTĐ: Về kỹ thuật, tôi nghĩ bài thơ khá trọn vẹn, chuyên chở gần hết tâm trạng của tôi khi viết về một quãng đời thơ ấu của đời tôi. Về kỷ niệm, cây đa là hình ảnh tôi trân quý nhất như tôi đã trình bày trong các câu hỏi trên.

ND: Một đạo sĩ đã viết: Con người chỉ trưởng thành trong sự đau khổ. Anh TTĐ nghĩ gì về câu nói này ?

TTĐ: Trong ý nghĩa tích cực của sự trưởng thành, đó là một câu nói đúng. Đau khổ là bậc thầy của sự khôn ngoan. Nền giáo dục ở trường dạy chỉ cho chúng ta kiến thức, giúp chúng ta hiểu biết. Nhưng như Nguyễn Du đã viết "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay", chính những thăng trầm của cuộc đời đã tôi luyện, gạn lọc những kiến thức, những giá trị đạo đức, để chúng không còn là của nhà trường mà thật sự là tinh hoa của chính chúng ta.

ND: Với những khổ đau mà anh đã trải qua trong đời, anh Đạo rút tiả được những bài học gì cho riêng mình ?

TTĐ: Có hai điều mà tôi đã nghiệm được: Giữ lấy niềm tin vào mục đích tốt của đời sống và kiên nhẫn để hoàn thành các mục đích đó. Những ngày còn ngủ trong trại cây ở đường Hùng Vương Đà Nẵng, dưới hiên chùa Viên Giác, hay trên căn gác ở Ngã Tư Bảy Hiền, dù vô cùng khó khăn, khổ sở, tôi tin rằng một ngày không xa, cơn mưa cuộc đời tôi sẽ tạnh. Như tôi viết trong ‘Nhật Ký Ngày Giỗ Cha’, điều dễ làm nhất của tôi ngày đó là đi tu. Đời sống của tôi không khác gì các chú tiểu. Tôi học Phật pháp, tụng kinh công phu chiều, công phu khuya, đánh chuông, gõ mõ. Chỉ một việc tôi chưa làm là xuống tóc. Tôi yêu đạo Phật và nguyện sống trong tinh thần Phật Giáo. Nhưng tôi nhất định phải ra đi. Nhất định phải đương đầu với những thử thách đang chờ tôi bên kia cổng Tam Quan. Năm đầu ở Sài Gòn cũng khó khăn không thua gì những năm ở chùa Viên Giác. Nhưng tôi kiên nhẫn và không bỏ cuộc. Đến hôm nay, đây là lần đầu tiên tôi nói lên điều này.

ND: Dẫu rằng cuộc đời trẻ của anh bị bị cầy nát bởi hận thù, nhưng tâm tư anh ngày hôm nay lúc nào cũng thao thức ‘muốn làm con thoi nhỏ để nối hai bờ sông Bến Hải, nối lòng người vời vợi cách xa nhau’, hay ‘muốn viết nốt những bài thơ dang dở, vá tình người rách nát thuở hoa niên’. Anh Đạo có tin rằng tình thương là vũ khí mầu nhiệm giải quyết được vấn đề VN ngày hôm nay hay không ?

TTĐ: Vâng tôi nghĩ vậy. Nhưng tình thương mà tôi thường ca ngợi không phải chỉ là lòng bác ái, đức từ bi quá tổng quát và cao siêu. Nhưng nói một cách cụ thể và chính xác hơn đó là tình thương dân tộc, tình đồng bào cùng máu huyết với nhaụ Tình thương dân tộc phải là căn nhà tinh thần, điểm hội tụ của những đứa con mang cùng một tâm thức Việt Nam. Chúng ta phải công nhận rằng, rất hiếm hoi có một dân tộc đã có được một quá trình gắn bó nhau qua bao thăng trầm như dân tộc Việt Nam. "Thái Bình nên gắng sức, non nước đấy nghìn thu". Thượng tướng Trần Quang Khải đã từng khuyên chúng ta như thế. Chúng ta cảm động và hãnh diện biết bao khi đọc Nam Quốc Sơn Hà, Bình Ngô Đại Cáo, Hịch Tướng Sĩ. Nhưng trong suốt nhiều thế kỷ qua, từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi Thực Dân bóc lột, sau đó là sự xâm nhập của ý thức hệ Cộng Sản bên cạnh , tình đồng bào chưa có cơ hội được thể hiện đúng mức và đúng nghĩa. Đám mây đen ngoại lai vong bản vẫn còn che khuất vườn hoa tình thương của mẹ Việt Nam. Người miền Bắc vẫn còn e dè, nghi ngại khi nói chuyện với người miền Nam và ngược lại. Người khác đạo vẫn ít tin tưởng nhau bằng tin tưởng những người cùng một đạo. Và tôi tin rằng ngày nào ý thức dân tộc chưa trở về trong mỗi trái tim, trong mỗi tâm tư, trong mỗi tầm nhìn của mỗi chúng ta về đất nước, ngày đó dân tộc vẫn còn phải chịu đựng khó khăn. Việc làm sáng lên ý thức dân tộc, tình thương dân tộc trong mỗi chúng ta, việc cởi bỏ những chiếc áo ngoại lai, vong bản, vì vậy, là một nhu cầu cần thiết và cấp bách.

ND: Anh có viết một bài thơ với tựa đề ‘Nếu’:

Nếu tôi chỉ được một ngày để sống
Xin một ngày được sống thật bình yên
Không ghen ghét, không hận thù tranh chấp
Một ngày thôi trong tay mẹ dịu hiền

Nếu tôi chỉ được một lần để viết
Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu
Ngừng tay lại, hỡi những ai còn chép giết
Hai mươi năm thù hận đã thêm nhiều

Thưa anh, nếu bây giờ thời gian đi giật lùi trở về thời điểm chú bé Trần Trung Đạo mới chào đời và Thượng Đế cho phép chú được chọn một tương lai nào chú muốn, thì chú bé TTĐạo có muốn sống trở lại quãng đời khổ cực mà chú đã đi qua hay là chú sẽ chọn một cuộc đời mới ?

TTĐ: Nhiều khi nhớ lại tôi vẫn còn bàng hoàng và khó tin rằng mình đã sống sót sau một thời hoạn nạn dài như thế. Những hy sinh chịu đựng đã trở thành vốn liếng và tài sản tinh thần của đời tôi. Tôi sẽ không bao giờ đánh đổi cho ai hay cho bất cứ vật gì. Tuy nhiên, nếu có quyền để chọn một cuộc đời sau, tôi sẽ chọn lựa một đời mới, êm ấm và đơn giản hơn. Một cuộc đời khác có cha mẹ, có đông đủ anh chị em, có quê hương không chiến tranh, hận thù, có căn nhà nhỏ bên giòng sông Thu Bồn, có một tuổi thơ không phải chạy tránh đạn, một tuổi thơ không phải chít khăn tang.

ND: Thưa anh Đạo, thơ văn anh ca ngợi tình thương và tôn vinh hạnh phúc trọn vẹn là hạnh phúc được cùng chia sẻ ngọt bùi với đồng bào rut thịt của mình, cùng khóc cùng cười theo vận nước nổi trôi với những người cùng máu mủ với mình, cùng chia sẻ những thăng trầm với những người một thời đồng cảnh ngộ với mình. Nếu anh Đạo phải đứng trước 1 thử thách là anh phải chọn một trong hai điều tình nước hay tình nhà để có được ngày lịch sử VN lật sang trang mới, lúc đó anh Đạo sẽ xử trí ra sao ?

TTĐ: Tôi không nghĩ những nỗ lực, những đóng góp hiện nay và cả trong tương lai của tôi có thể tạo nên những mâu thuẫn với đời sống gia đình. Tuy nhiên, trong giả thuyết mà chị đưa ra, tôi xin trả lời nếu tôi biết chắc sự chọn lựa của tôi sẽ thay đổi được đất nước tôi sẽ chọn lựa đất nước.

ND: Và nếu Thượng Đế cho anh thực hiện được 1 điều anh muốn, anh sẽ muốn thực hiện điều gì ?

TTĐ: Tôi luôn cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam sớm có cơ hội hồi sinh sau bao nhiêu đau thương chịu đựng, các thế hệ Việt Nam hôm nay và ngày mai sớm có cơ hội lớn lên trong tự do, dân chủ, ấm no, trong tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, biết bao dung và tha thứ, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau.