Trang Chủ  | Văn  | Thơ   | Thơ Anh Ngữ   | Tác Phẩm  | Tiểu Sử  | Nhận Xét  | Âm Thanh  | Truyện Dịch

 

      Mao Trạch Ðông, Cuộc Ðời Chính Trị và Tình Dục

         

Nguyên Tác Hoa Ngữ: Mao Trạch Ðông, Tư Nhân Bác Sĩ Hồi Ký Lục
Bản tiếng Anh: The private life of Chairman Mao
Tác Giả: Bác Sĩ Lý Chí Thỏa
Trần Trung Ðạo trích lược dịch theo bản tiếng Anh có đối chiếu với nguyên tác Hoa ngữ.
Các tiểu đề là của người dịch.
 
 
     


 
 

THỐNG CHẾ LÂM BƯU, BINH NGHIỆP VÀ CÁ TÍNH

 

Trong thời gian chúng tôi còn ở lại Vũ Hán vào đầu tháng Giêng năm 1966, Mao cho phép tôi tham dự một buổi họp được tổ chức trong phòng tiếp tân khổng lồ được tại nhà khách Võ Hán Mai của tỉnh Vũ Hán. Lúc sau nầy, Mao thường khuyến khích các nhân viên trong bộ tham mưu của ông tham gia những buổi họp như vậy để nắm rõ thêm tình hình. Ba người trong "Nhóm Năm Người của Cách Mạng Văn Hóa" vừa từ Bắc Kinh đến. Ủy Ban nầy được thành lập với trách nhiệm phê bình vở kịch "Hải Thoại bị giải chức". Vở kịch viết về sự tích Minh Hoàng Ðế giải nhiệm viên quan Hải Thoại. Các ủy viên của Ủy ban bao gồm Trưởng Ban Tuyên Huấn trung ương Lục Ðịnh Nhất, Ủy Viên Bộ Chính Trị Khang Sinh, Thị Trưởng Bắc Kinh kiêm Bí Thư Trung Ương Ðảng Bành Chân, Phụ tá Trưởng Ban Tuyên Huấn Châu Dương, và Tổng Biên Tập Nhân Dân Nhật Báo Ngô Lãng Tây. Mao chủ tọa phiên họp. Mao kể lại rằng vào 21 tháng Chạp, y có nói với Trần Bá Ðạt và Khang Sinh rằng bài báo của Thiệu Văn Nguyên phê bình vở kịch "Hải Thoại bị giải chức" khá hay nhưng vẫn có một điều thiếu sót về sự liên hệ giữa việc Minh Hoàng Ðế giải nhiệm Hải Thoại và Mao giải nhiệm Bành Ðức Hoài. Mao cho rằng kịch tác gia Ngô Hàm khi xây dựng vở kịch đã có dụng ý biện hộ cho Bành Ðức Hoài và phê bình Mao.

Sau đó, Mao quay sang hỏi Bành Chân, người lãnh đạo của ủy ban, "liệu Ngô Hàm có phải đang chống lại đảng, chống lại xã hội chủ nghĩa không ?" Trước khi Bành Chân trả lời, Khang Sinh đã cắt ngang "Ngô Hàm là mầm mống độc hại đang chống lại đảng". Thế là cả phiên họp im phăng phắc không ai dám cãi lời y.

Cuối cùng Bành Chân phát biểu đại ý rằng câu chuyện Minh Hoàng Ðế giải nhiệm Hải Thoại chỉ là chuyện trong trường học chứ chẳng dính dáng gì đến chính trị cả. Bành Chân ngỏ ý muốn trình bày quan điểm của y được tóm tắt trong bản dự thảo "Của Nhóm Năm Người Báo Cáo Trung Ương", ông ta phát biểu rằng "Tôi nghĩ chúng ta nên chấp hành chỉ thị của Mao chủ tịch, hãy để trăm hoa đua nở, trăm trường phái lên tiếng." Bản dự thảo, theo Bành Chân, đã được Bộ Chính Trị chấp thuận, chỉ còn chờ sự đánh giá và chấp thuận cuối cùng của Mao. Nhưng Mao không nói rõ là chấp thuận hay không, chỉ nói lững lờ "Các đồng chí làm cho xong, tôi không cần thiết phải xem tài liệu đó". Ðiều nầy cũng có nghĩa là Mao không đồng ý.

Bốn ngày sau, bản dự thảo về tài liệu phê bình vở kịch "Hải Thoại bi giải chức" được phân phối trong hàng ngũ cao cấp của đảng. Quan điểm trong tài liệu hoàn toàn là của Bành Chân và người ủng hộ ông ta là Lục Ðịnh Nhất. Mao chống đối, ông ta đồng ý với Khanh Sinh rằng vở kịch là mầm mống độc hại và tác giả Ngô Hàm thật sự là kẻ chống đảng. Trong thời gian tài liệu được phân phối, Mao nói với tôi "các phần tử phản động không ngã gục dễ dàng trừ phi chúng ta phải đánh chúng thật mạnh." Và, như Mao nói, ông ta đang sẵn sàng đánh gục đối thủ. Bành Chân cũng sắp sửa bị thanh trừng.

Bản đánh giá của Bành Chân đã làm Mao khó chịu và căng thẳng. Bịnh mất ngủ nặng nề thêm. Nhiều hôm tôi thấy Mao thức trắng suốt ngày đêm. Thuốc ngủ cũng chẳng hiệu lực gì cả. Cuối cùng tôi buột phải tăng liều lượng thuốc ngủ cao hơn Mao mới ngủ được. Một hôm, Trương Ngọc Phượng báo với tôi rằng Mao chủ tịch vừa cho cô ta biết hình như đêm hôm qua có ai rình mò trên nóc nhà. Nghe xong tôi tôi gần như muốn bật cười. Chuyện đó chẳng khác gì chuyện hoang đường. Chỗ ở của Mao Trạch Ðông là bất khả xâm phạm. Tuy nhiên các cận vệ của Mao đã khám phá ra vài dấu chân, nhưng không phải của người ta mà là của con mèo hoang. Sau khi đặt mồi đặt bẫy, đám cận vệ cuối cùng đã bắt được hai chú mèo hoang. Ngay cả sau khi thấy hai chú mèo bị bẫy chết trước mắt, Mao vẫn chưa hết lo, ông ta vẫn cứ cho rằng có người đã rình mò trên nóc dinh. Chỉ vài giờ sau khi bắt hai chú mèo hoang, chúng tôi lại tháp tùng Mao lên đường đi Hàn Châu. Ngay sau khi chúng tôi đến thì vợ Lâm Bưu là Diệp Quần, từ Tô Châu gọi điện thoại và xin phép yết kiến Mao ngay. Tình hình chính trị đã bắt đầu căng thẳng. Sáng hôm sau thì Diệp Quần đến và họp kín với Mao suốt ba tiếng đồng hồ. Cả hai đều không tiết lộ những gì họ đã bàn với nhau.

Ngày hôm sau thì Giang Thanh đến. Thái độ và dáng dấp của bà ta hoàn toàn thay đổi. Từ một con bịnh kinh niên vào năm 1962, Giang Thanh đã đi đứng mạnh dạn, lưng thẳng, chẳng có một dấu hiệu gì chứng tỏ là bà ta bị bịnh. Bà ta gặp Mao vắn tắt và bay trở về Thượng Hải ngay.

Vài ngày sau thì tôi biết Giang Thanh và Lâm Bưu đang thành lập một liên minh. Cả hai đã triệu tập một phiên họp ở Thượng Hải để bàn về mục tiêu chính trị của các lực lượng vũ trang.

Tôi chưa hề tiếp xúc với Lâm Bưu trước đó. Mặc dù Lâm Bưu giữ nhiều chức vụ cao cấp trong đảng và quân đội nhưng y lại ít khi xuất hiện, ngay cả trong những ngày lễ lớn ở Thiên An Môn. Lâm Bưu là một trong mười thống chế của quân đội Trung Quốc và nổi tiếng là một nhà lãnh đạo quân sự thông minh, gan dạ. Ngay cả trước khi gặp ông ta, tôi đã có nhiều phán phục dành cho viên Thống Chế tài ba lỗi lạc nầy.

Một ngày sau khi Mao và đoàn tùy tùng đến Thượng Hải, Lâm Bưu xuất hiện. Ðiều chạm vào mắt tôi về con người đặt biệt nầy là quân phục của y đang mặc. Bộ quân phục Lâm Bưu mặc bó sát người, chật đến nỗi giống như dán keo lên người ông ta. Lâm Bưu là một con người mảnh khảnh. Sau khi bước vào phòng, Lâm Bưu cởi  áo choàng ra nhưng lại không lấy mũ xuống, dường như để che cái đầu sói của y. Thống Chế họ Lâm chỉ gật nhẹ chào tôi nhưng không nói một lời.

Lâm Bưu và Giang Thanh họp kín suốt ba tiếng đồng hồ. Trong khi ngồi chờ ở phòng ngoài, tôi có dịp tiếp chuyện với viên thư ký của Lâm Bưu và biết thêm vài chi tiết về đời tư của thống chế họ Lâm nầy. Lâm Bưu, mặc dù ở ngoài co tiếng như một lãnh tụ quân sự tài ba đảm lược, thật sự lại đang mắt bịnh thần kinh ưu uất. Họ Lâm rất sợ ánh sáng và gió nên rất ít khi đi ra ngoài. Giống như Giang Thanh, những tham vọng chính trị đã làm cho căn bịnh được tạm thời lắng xuống nhưng không có nghĩa là biến mất.

Tôi khám phá ra thêm nhiều điều vào tháng 8 năm 1966 khi Uông Ðông Hưng yêu cầu tôi đến khám bịnh cho Lâm Bưu. Vị trí chính trị của Lâm Bưu đang trong thời kỳ cực thịnh nên cả Uông Ðông Hưng cũng muốn đồng minh với Lâm Bưu. Thế là tôi và Uông Ðông Hưng đến viếng thăm thư dinh của Thống chế họ Lâm.

Khi chúng tôi bước vào phòng thì Lâm Bưu đang nằm trên giường với Diệp Quần, vợ của y. Ðầu của y cuộn tròn trong tay vợ, áp mặt vào ngực bà ta. Lâm Bưu đang khóc thút thít còn Diệp Quần thì đang cố vỗ về, dỗ dành y giống như mẹ ru con. Trong đầu tôi hình ảnh của một Lâm Bưu khét tiếng đã biến mất. Thống Chế Lâm Bưu đúng là chẳng ra thống chế gì cả. Tôi nghĩ một con người với tính tình ưu uất như vậy không thể nào có thể đảm đương trách nhiệm của một lãnh tụ quốc gia được.

Các bác sĩ, sau khi xem xét, đã khám phá ra là y bị bịnh sạn thận. Một hồi lâu sau khi được hút nước tiểu ra và uống thuốc, Lâm Bưu bớt đau nên đã trở nên tỉnh táo hơn. Tuy nhiên sự kính trọng của tôi về viên thống chế nầy cũng đã không còn như trước nữa. Bịnh sạn thật công nhận là rất đau nhưng dù sao mình cũng là thống chế coi quản toàn quân, lẽ nào lại vùi mặt khóc thút thít trong ngực vợ như một đứa trẻ con như thế.

Trong khi chúng tôi chờ xem diễn tiến phục hồi của căn bịnh, Diệp Quần kể chúng tôi nghe chuyện Lâm Bưu còn bị thêm bị bịnh ghiền á phiện và sau đó ghiền cả ma túy. Năm 1949 Lâm Bưu được gởi sang Liên Xô để cai thuốc. Bịnh ghiền tuy được cai khỏi nhưng cũng cá tính kỳ quái của y vẫn tiếp tục như xưa. Lâm Bưu sợ gió, sợ ánh sáng nhưng sợ nhất là sợ nước. Y sợ nước đến nỗi chỉ nghe tiếng nước chảy thôi cũng đủ làm cho y bị ỉa chảy trong quần tức khắc. Lâm Bưu không hề uống nước. Vợ y sợ y thiếu chất nước trong người nên nhúng bánh xốp nhỏ vào trong nước rồi đút cho Thống Chế nhà ta ăn. Lâm Bưu cũng chưa hề sử dụng cầu tiêu để đi đại tiện. Khi cần phải đi đại tiện, viên thống chế họ Lâm nổi tiếng nầy che mền và đi cầu ngay trong phòng ngủ.

Tôi hết sức ngạc nhiên khi biết những chuyện riêng tư về Lâm Bưu. Tôi cũng không hiểu tại sao Mao Trạch Ðông lại đi phong một tên khủng hoảng tâm thần nặng như vậy lên hàng lãnh đạo cao cấp nhất nhì trong đảng và quân đội. Mai mốt đây, Lâm Bưu sẽ được tung hô như là "đồng chí thân cận nhất của Mao Chủ Tịch" và sẽ là người lãnh đạo tối cao của mấy trăm triệu dân Trung Quốc. Sau khi từ tư dinh của Lâm Bưu trở về, tôi báo cáo lại Mao những gì tôi đã biết nhưng Mao nghe mà chẳng bình luận gì. Tôi chưa hề nói với bất cứ một ai khác, kể cả những lãnh đạo trung ương đảng. Tại Trung Quốc, việc tiết lộ những tin tức như vậy cũng là một trọng tội chính trị.

Mao đến Thượng Hải vào ngày 15 tháng Ba để triệu tập một hội nghị Bộ Chính Trị mở rộng để bàn về chuyện văn hóa. Trong phiên họp nầy Mao nêu đích danh bốn đảng viên cần được phê bình trong đó có Ngô Hàm, tác giả của vở kịch "Hải Thoại bị giải chức". Theo Mao, những người nầy là đảng viên Cộng Sản trên giấy tờ nhưng là đảng viên Quốc Dân Ðảng trong tư tưởng. Mao đề nghị một cuộc "Cách mạng văn hóa" trong văn học, lịch sử, luật pháp và kinh tế. Tôi thú thiệt quả là rất thật thà khi hy vọng rằng cuộc cánh mạng văn hóa chỉ giới hạn về văn hóa mà thôi.

Vào cuối tháng Ba năm 1966, vài ngày sau khi phiên họp Bộ Chính Trị mở rộng và chúng tôi còn ở Thượng Hải, Mao tiếp xúc nhiều lần với Giang Thanh, Khanh Sinh, và Trương Xuân Kiều. Mao đang thực hiện một kế hoạch tấn công với hai mũi dùi. Một mặt tấn công vào các phần tử trí thức tư sản và mặt khác tấn công vào kẻ thù của cá nhân Mao. Chưa bao giờ trước đó Mao mở một chiến dịch rộng lớn nhằm chống lại các lãnh đạo trung ương như vậy.

Tháng sau, Mao triệu tập một phiên họp Bộ Chính Trị khác, lần nào Mao chính thức phê bình Bí Thư Ðảng Bộ Bắc Kinh Bành Chân. Trước đây Mao từ chối việc duyệt y bản báo cáo của Bành Chân là một hành động chẳng khác nào để Bành Chân tự đào mộ cho mình, nay Mao lần nữa gán cho Bành Chân cái mũ  khác là chống lại đảng. Mao chỉ thị giải tán Ủy Ban Văn Hóa do Bành Chân lãnh đạo. Bầu không khí trong phiên họp trở nên vô cùng căng thẳng.

Ủy Ban Thường Trực Bộ Chính Trị được triệu tập lần nữa vào 24 tháng 4 năm 1966. Kết quả của phiên họp là sự ra đời của Tiểu Ban Cách Mạng Văn Hóa đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy Ban Thường Trực Bộ Chính Trị. Thành viên của tiểu ban nầy là những tên cực tả, bao gồm Trưởng Ban Trần Bá Ðạt, Cố Vấn Khang Sinh, Phó Giám Ðốc Giang Thanh, Phó Giám Ðốc Trương Xuân Kiều và nhiều thành viên tả khuynh khác.

Việc Giang Thanh tham gia ủy ban làm tôi hết sức lo ngại. Mao cũng biết điều nầy nên khuyên tôi nên làm hòa với bà ta giống như cháu của Mao là Mao Viễn Tân đã làm trước đây. Mao Viễn Tân nguyên là một sinh viên của trường đại học quân sự ở miền cực bắc Trung Quốc. Từ khi viết thư xin lỗi Giang Thanh, quan hệ giữa hai người trở nên tốt đẹp hơn. Giang Thanh bổ nhiệm Mao Viễn Tân làm phụ tá cho bà ta và là tiên phong trong các chiến dịch chống lại các đối thủ trong cách mạng văn hóa. Mao Viễn Tân thăng quan tiến chức vùn vụt, chỉ trong vòng sáu năm y trở thành chính ủy của quân khu Sầm Giang, một khu vực gần biên giới Mãn Châu.

Trong thời gian ở Hàng Châu, Mao rất là cao hứng. Chính quyền địa phương tổ chức dạ vũ hàng đêm dành cho Mao. Khoảng giữa tháng 6, Mao muốn về thăm quê lần nữa. Hôm 18 tháng 6, chúng tôi tháp tùng Mao trở lại quê hương là Thiều Sơn của y. Trong lần viếng thăm lần trước vào tháng 6 năm 1959, Mao có nói với Ðào Trú, hiện đang là bí thư Cục Trung Nam, rằng y muốn một ngày sau khi hồi hưu y sẽ trở về quê hương Thiều Sơn và sống trong túp lều tranh. Ðào Trú đã đáp ứng bằng cách xây cho Mao không phải mái nhà tranh mộc mạc nhưng là một biệt thự nguy nga tráng lệ.

Biệt thự nằm trên lưng chừng đồi, được bao bọc chung quanh bởi những khu rừng kín đáo và những ruộng nho. Mao rất rành khu vực vì hồi nhỏ ông ta thường đi nhặt củi trong những khu rừng lân cận, và thường hay ngủ trưa trên những ngọn đồi.

Bắc Kinh dường như quá xa xôi. Hai ba ngày mới có một tùy phái tin cẩn giao cho Mao các tin tức về cách mạng văn hóa đang tiến hành ở thủ đô. Qua trung gian của người tùy phái tôi biết Bắc Kinh đang rơi vào hỗn loạn. Trường học bị đóng cửa, học sinh tràn ra đường phố. Không một ai có vẻ đang nắm quyền kiểm soát thủ đô.

Tôi biết ít tin về ông thủ trưởng cũ của tôi, bác sĩ Phú Liễu Sanh. Bác Sĩ họ Phu mặc dù là bạn cố tri của Mao và đã thật sự hồi hưu nhưng cũng không tránh khỏi họa. Ðám phản loạn cách mạng văn hóa đã tới tận nhà bắt ông. Bác Sĩ Phu đã cố gởi Mao một lá thư cầu cứu, Mao nhận được và có ý định can gián nhưng đã quá trễ. Bác sĩ đã chết trong đấu tố chống ông ta và ngay cả thi hài của ông cũng không tìm thấy.

Thời tiết ở quê Thiều Sơn của Mao thật oi bức, Mao đổi ý và chỉ thị đoàn tùy tùng đi Vũ Hán. Ở Vũ Hán, chúng tôi nhận tin tức Bắc Kinh nhiều hơn và dễ dàng hơn. Tôi nhận được lá thư đầu từ vợ tôi, mới biết rằng hơn một năm nay tôi chưa về nhà. Mao thật sự vui mừng khi được báo cáo về diễn tiến của Cách Mạng Văn Hóa. Trong một lá thư gởi cho Giang Thanh, Mao viết " Mỗi ngày tôi đọc tài liệu với niềm hân hoan và thích thú. Sự hỗn loạn lớn sẽ dẫn đến trật tự lớn." Mao cũng nhắc nhở Giang Thanh " Ðừng say sưa với chiến thắng, hãy nghĩ thường xuyên đến những thất bại, lỗi lầm. Tôi đã dặn bà không biết bao nhiêu lần." Giang Thanh mừng như mở cờ trong bụng khi đọc những dòng nầy đến nỗi bà ta in ra và phân phối cho mọi người trong ban tham mưu cùng đọc. Dù trong thư có nhiều điều phê bình bà ta nhưng dù sao nó đã chứng tỏ rằng Mao đã chia xẻ với bà những suy nghĩ thầm kín nhất. Khi những bản sao của lá thư vừa mới được phân phối cho đám thân cận của Giang Thanh thì Mao biết được và ra lịnh thu hồi tức khắc. Tôi sao lá thư để lưu trữ trước khi trả lại cho văn phòng chính phủ.