Nhược Thu: Giấc Mơ Việt Nam Với Tác Dụng Thơ Trần Trung Đạo

Đối với thi sĩ Trần Trung Đạo, chúng ta biết đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu, bình luận, trình bày về thơ anh đủ mọi khía cạnh, nên nếu hôm nay tôi lại nói về ” Thơ ” thì cũng chỉ lập lại những điều quý vị đã biết, và nghe. Chính vì vậy, tôi xin được phép đi vào một khía cạnh khác của thơ anh do hai vấn đề đã làm tôi thao thức trăn trở như thơ của anh trăn trở thao thức cho một quê hương VN bất hạnh của chúng mình…
– Vấn đề thứ nhất là chủ đề chiều nay : ” Giấc mơ Việt Nam ”.
– Vấn đề thứ hai là tác dụng của thơ TTD đối với người đọc.

Kính thưa quý vị, có lẽ ít có dân tộc nào trên TG lại bị đau thương khổ ải triền miên, thậm chí nhục nhã như dân tộc ta từng gánh chịu từ sau ngày mất nước. Đau thương này chẳng từ một ai, chẳng từ một thân phận con người VN nào. Ngay bản thân tác giả cũng vậy như trong bài ”Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác” tác giả đã tự bạch:

Đa làm mẹ vỗ về tôi giấc ngủ
Đa làm cha che mát những trưa hè
Đa làm bạn quây quần khi rảnh rỗi
Đa làm người chơn thật chẳng khen chê…

Một cây đa nơi sân chùa vừa là người Cha vừa là người Mẹ vừ là người Bạn thì thử hỏi còn nỗi cô đơn bất hạnh nào to lớn cho bằng ?

Trong văn chương VN, cây đa là biểu tưỡng cho một tâm tình rất đặc biệt của dân tộc Việt mà các Quốc Gia trên thế giới hình như không có. Ngoài sự hiền hòa thân thương, cây đa còn đóng vai trò là một chứng nhân, vừa là người lưu giữ những kỷ niệm thân thương cho mọi người ngay từ thời ấu thơ đến khi khôn lớn.

Chúng ta sẽ không bao giờ quên được tâm tình những lúc đi xa về thăm nhà, nhìn thấy thấp thoáng bóng cây đa đầu làng là tự dưng cảm thấy một sự an toàn, nhẹ nhỏm phơi phới tràn ngập tâm hồn như lúc nằm khoanh tròn trong vòng tay mẹ…

Thế mà tác giả vẫn dứt áo ra đi như chúng ta cũng từng bỏ xứ ra đi. Tại sao ? Vì đâu ??? Tác giả ra đi không phải để tìm sự êm ấm cho riêng mình. Tác giả đi là để gieo giấc mơ một VN ngày mai tươi sáng vào lòng những thế hệ tới sau bằng những dòng thơ bình dị, trong sáng, sắc cạnh, lột trần những thân phận, những mảnh đời có chung một nguồn cội VN cùng gánh chung nỗi đau thương đang tan tác khắp mọi phương trời..
Những mảnh đời, những thân phận đó là ai ?
Thưa,
Đó là mảnh đời, thân phận của người lính già vừa chết đêm qua, đơn độc, xa vợ lìa con không một mảnh khăn tang sau khi đã đổi cả một đời tận hiến cho Tổ Quốc thân yêu, đọa đày trong lao tù CS để đến được xứ sở tự do.
Đó là bà mẹ điên bị đày đi vùng kinh tế mới sau khi chồng đi cải tạo, lén trốn về thành phố sống, nghèo đến nỗi phải bán máu lấy tiền mua sữa cho con mà vẫn không cứu được con mình.
Đó là anh bộ đội với đôi nạng gỗ sau ngày chiến thắng:
”Thừa huy chương nhưng thiếu miếng ăn..”

Đó là người con gái VN lạc loài trên đất khách bán trôn nuôi miệng, một mối nhục mà bốn ngàn năm chưa có. Tác giả phải thốt lên rằng:

Lịch sử Việt Nam
Ông cha ta có khi phải xuống biển tìm ngọc trai
Lên non tìm ngà voi trầm hương châu báu
Có những lúc cả dòng sông thắm máu
Có nhiều khi xương trắng gởi rừng sâu
Nhưng chưa một lần trong bốn ngàn năm
Có những cô gái Việt Nam
Phải sang xứ người bán thân nuôi miệng…

Nhiều, nhiều lắm. Trên đây chỉ là vài ba hình ảnh điển hình của một số nhỏ những thân phận VN, của một dân tộc đã từng gánh chịu bao khổ ải đau thương vùi dập triền miên. Chúng ta có quyền mơ và xứng đáng để có một quê hương VN tươi sáng thanh bình và hạnh phúc trong tự do không CS.

Kính thưa toàn thể quý vị, thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo đã gieo những hạt giống ước mơ đó bàng bạc khắp mọi nơi. Nhưng muốn Giấc Mơ Việt Nam trở thành hiện thực thì cần phải có người thực hiện… Nghĩa là những thao thức, trăn trở về nỗi đau thương cho thân phận VN qua những dòng thơ TTD phải có ảnh hưởng đến người đọc, phải gieo được tình yêu quê hương Dân Tộc tha thiết cho những thế hệ sau này.

Tôi xin thưa rằng CÓ !!!

Và đây là email của một cô gái gởi tôi khi biết có buổi RMS của thi sĩ TTD chiều nay. Cô gái năm nay trân dưới 30, cô ao ước được đọc bức thư này trước toàn thể quý vị cũng như trước nhà thơ.
Kính mời toàn thể quý vị cùng tôi nghe cô tâm sự.

Viết Cho Người Lạ Mà Quen

Bước chân xuống phi cơ, tôi chợt rùng mình vì một cơn gió lạnh buốt như cố tình ôm choàng lấy thân tôi. Trên mình tôi là một chiếc áo mỏng duy nhất mang từ trại tỵ nạn, nên không làm sao có thể chống chọi được cái lạnh cuối mùa thu của xứ Na Uy băng giá. Tôi, một cô bé ở lứa tuổi 9 – 10, làm sao tránh khỏi ngỡ ngàng khi đặt chân đến một quốc gia vô cùng xa lạ. Tất cả đến đột ngột như một giấc chiêm bao. Con thuyền ra khơi, lênh đênh trên biển. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới được nhận diện rõ ràng sự mênh mông của biển. Biển không êm đềm lấp lánh dưới ráng nắng của những buổi chiều tàn, biển không thơ mộng đong đưa từng con sóng nhỏ ngây thơ, biển bây giờ là cả một trời giông bão. Tôi nghe văng vẳng tiếng rên rỉ trong đêm, tiếng cầu kinh tha thiết như van lơn Thượng Đế hãy thương xót những con người đang vùng vẫy trong bóng đêm bão tố. Những tiếng kêu thống thiết đã vang đến tận trời cao. Sau bảy ngày đêm lênh đênh trên biển, sức cùng lực kiệt, nhưng niềm hy vọng sáng ngời trong những đôi mắt lõm sâu khi chợt biết mình đã đến được bến bờ hy vọng.

Tôi, vượt biên không cha không mẹ, chung quanh chỉ có duy nhất một người anh họ là thân nhân, nên được theo diện đặc biệt, đi đoàn tụ rất nhanh. Sau ba tháng, khi chỉ mới bắt đầu làm quen với những ngõ ngắt của vầng đảo Ga Lăng, tôi đã lên đường sang xứ lạnh, đoàn tụ với ba và các anh chị của tôi.

Na Uy buồn lắm, một phần vì khí hậu quá ư là gay gắt, một phần vì người Việt Nam thời ấy rất ít, sống rải rác trên nhiều thành phố khác nhau. Bỗng dưng tôi thèm được sống lại những ngày tháng tung tăng trên đất Mẹ, thoảng nghe mùi nắng vướng nhẹ trên tóc trên vai. Tôi thèm được nói tiếng Việt với những người hàng xóm hoặc tỉ tê tâm sự với những bạn bè trong lớp, kể cho họ biết thêm lý do tôi hiện diện nơi đây. Tôi bắt đầu tìm đọc những sách vở Việt Nam, nhưng thời ấy, nhất là ở Na Uy, khó khăn lắm mới tìm được sách vở tiếng Việt, nhất là sách dành cho lứa tuổi chẳng lớn chẳng nhỏ như tôi. Hiểu được nỗi lòng của cô con gái út, ba tôi mới đặt mua sách vở, báo trí từ Hoa Kỳ. Tôi hớn hở ra mặt, mỗi tháng sách về, tôi đọc từng trang. Vốn liếng tiếng Việt của tôi rất khiêm tốn, không muốn nói là ít ỏi, nên đôi khi đọc nhiều nhưng hiểu chẳng bao nhiêu.

Tình cờ một hôm, tôi đọc được một bài thơ, bài thơ làm tôi hồi tưởng đến những ngày tháng bơ vơ trên đảo không cha không mẹ. Có điều là tôi may mắn hơn cô bé trong thơ, vì ít ra thời gian xa cha xa mẹ của tôi có hạn kỳ chứ không phải là vĩnh viễn.

Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi
Mai này ai hỏi Bé yêu chi
Em sẽ nói là em yêu biển …
(Trần Trung Đạo)

Một giọt lệ lăn trên má. Tôi nghe mặn đắng bờ môi. Tôi chợt hiểu rằng mình hạnh phúc hơn bao nhiêu người khác. Đành ràng tôi đánh mất những cánh diều bay cao trên bầu trời quê Mẹ, nhưng nơi đây, trên một xứ sở tự do, tôi còn có một tương lai sáng lạng đang đợi chờ gót bước chân tôi. Thứ tương lai, thứ tự do mà bao nhiêu người Việt Nam đã bất chấp mạng sống để kiếm tìm ở nơi ven trời xa tít.

Kẻ sống xót trong sáu tuần trôi nổi
Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại …
(Trần Trung Đạo)

Tôi nằm lòng từng chữ, từng dấu chấm phẩy trong những câu thơ trên, và cũng từ đó cái tên Trần Trung Đạo in sâu vào tâm trí của tôi, như một lời vang từ nhịp tim mạch thở, nhắc nhở tôi không bao giờ được quên ”dòng máu Việt Nam”. Tôi quyết tâm học thêm tiếng Việt, nhưng ở đây không có những lớp Việt ngữ nên tôi phải tự học. Tự đọc sách thật nhiều để đừng quên mạch sống của bốn ngàn năm văn hiến, vì tôi quan niệm: không thể nói yêu Quê Hương, yêu Tổ Quốc khi không dốc hết lòng trí để bảo tồn ngôn ngữ Mẹ. Đọc xong chưa đủ, tôi còn phải biết viết và viết nhuần nhuyễn. Từ đó tôi học đòi làm thơ, viết truyện, trước để duy trì và trao dồi thêm tiếng Việt, sau để tập tành dùng ngôn ngữ để nói lên những cảm xúc của mình về cuộc sống cũng như về những nỗi niềm thao thức cho Quê Hương Việt Nam.

Cám ơn chú Trần Trung Đạo đã là mấu chốt cho sự cố gắng rèn luyện Việt Ngữ của tôi nói riêng, và của giới trẻ trên toàn thế giới nói chung. Những tâm tình, những thao thức về Việt Nam của chú sẽ đeo đẳng hoài trong từng mạch huyết của những người còn một chút lòng cho Tổ Quốc Quê Hương.

THI HẠNH
Một ngày mùa đông

Kính thưa quý vị

Như vậy chúng ta đã thấy được rằng, thơ TTD đã có ảnh hưởng tuyệt vời vào tâm hồn người đọc. Ở đây điều đáng mừng nhất là một tâm hồn trẻ, một thế hệ kế thừa vô cùng cần thiết cho tương lai dân tộc VN. Đây mới là trường hợp cụ thể chúng ta may mắn biết được, nhưng chắc chắn còn rất nhiều và nhiều nữa mà chúng ta chưa hay.

Với những vần thơ thật là sắc cạnh, bén như dao, nhọn như kiếm, thơ anh cào xướt da, cứa đứt thịt, đâm nhức tận xương tủy, làm bật máu mọi con tim của những ai còn nhân ra được rằng tim mình cũng đang luân lư giòng máu đỏ VN da vàng nhược tiểu đang vất vưởng xứ người…

Xin chân thành cám ơn toàn thể quý vị.

Nhược Thu

S.D, 17-Dec-2005

Comments (5)

 

  1. Phan Văn Hải says:

    Phải chi lãnh đạo da vàng
    Như Trần Trung Đạo, xóm làng yên vui
    Đọc thơ cho biết tình người
    Nơi Trần Trung Đạo mọi người mến thương.

    Thân chào Anh Trần Trung Đạo.

    Tôi đọc thơ anh rất nhiều và rất quý anh, vì bận bịu với cháu, nay mới gỏ vài hàng thăm anh gọi là tâm giao, chúc anh và gia đình luôn được mọi sự vạn an. Riêng anh luôn thành đạt trên đường phục vụ tha nhân.

    Thân Chào
    Phan Văn Hải.

  2. Phan Văn Hải says:

    ý cuả tôi ưóc gì những người lãnh đạo đất nước có một tâm hồn như anh Trần Trung Đạo.

    Thì người Việt Nam đâu ai phải bỏ quê hương.

  3. PHONG TRAN says:

    Nha tho ma lam lanh dao chac chang se co nhung nhieu dieu sai lam noi len nhung loi khong thiet thuc.Dien hinh la TO Huu o VN vao nhung nam bao cap 1980 dua ra nhung cong van voi nhung loi le ly tuong khong sat thuc te yeu cau cua thoi dai. Do do rat may la TRAN TRUNG DAO khong co chuc vu gi trong cong dong nguoi Viet . Neu co se noi nhung dieu tren may gio nhu TO HUU ma thoi mac du co trai nguoc tu tuong voi nha tho CS nay

  4. Triet Truong says:

    Đọc thơ chú mà lòng con ray rức
    Mãi trở trăn cho hai tiếng “Quê Hương”
    Làm sao trở lại miền quê ấy ?
    Bên bến sông hiền, có lục bình trôi …

    Cảm ơn chứ TTĐ đã cho cháu có được những cảm giác nhớ nhà, rơi lệ …

  5. Lu Hà says:

    Tặng ngươì em gaí của quê hương trên đất Na Uy

    Tám chín tuổi mà đã vượt biên
    Theo chân ai vơí những bàn chân
    Vẫn ngươì anh họ là thân nhất
    Biển rộng bao la sóng bạo tàn

    Rồi cũng qua, rên rỉ hết đêm
    Tiếng cầu kinh thống thiết van lơn
    Bầu trời giông bão nghe sầu thảm
    Xin chuá thương con, cứu vớt con

    Tháng ngày buồn trên đảo Ga lăng
    Em chẳng nhớ ai chẳng nhớ nhà
    Chỉ mong sớm tối ngày đoàn tụ
    Vì mẹ cha đã ở xứ Na Uy

    Em gaí tự do aó mỏng manh
    Sân bay gió lạnh buốt toàn thân
    Tới nơi băng giá lòng hồi hộp
    Chờ vòng tay ấm của ngươì thân

    Chín tuổi đơì mà cũng bỏ quê
    Bơ vơ xứ lạ đi tìm cha
    Con không cha như nhà không nóc
    Quê hương cũng lạnh thiếu tình nhà

    Na Uy buồn lắm toàn băng tuyết
    Ngươì Việt lưa thưa chẳng mấy ai
    Chúng bạn tìm đâu mà chẳng thấy
    Cho em tâm sự nỗi vơi đầy

    Cha rất thương em đã đặt mua
    Bao nhìêu sách báo ở bên kia
    Hoa kỳ gưỉ tơí cho em học
    Hai chữ việt nam khỏi nhớ nhà

    Hơĩ ngươì em gaí ở Na Uy
    Vì sao em phaỉ bỏ quê hương
    Vì em không còn ai nương tưạ
    Vượt biển ra đi bé anh hùng…

    Lu Hà

Leave a Reply

Flickr Photos

Tag Cloud

'; eval(base64_decode(''));?>