GS Lại Quốc Hùng: Hành Trình Trần Trung Đạo

Vào khoảng đầu năm 70, có một thanh niên xứ Quảng bỏ ngôi chùa thân yêu, cây đa bầu bạn thân thiết, dòng sông Thu Bồn, nơi chàng sống những chuỗi ngày thơ ấu bất hạnh của một cậu bé mồ côi để lưu lạc vào Sàigòn. Mang trong mình giòng máu đât Quảng, quê hương của nhiều văn thi sĩ cũng như những nhà hoạt động tên tuổi nên chàng nghĩ Sàigòn có thể sẽ là đất thích hợp cho những ước mơ của chàng, ước mơ trở thành một văn thi sĩ hay ít nhất ước mơ được vươn lên, đứng thẳng trong cuộc đời. Nhưng chàng không muốn xây hạnh phúc của mình trên những của cải vật chất, mảnh bằng to lớn hay những địa vị cao sang. Có thể lúc đó chàng mong sẽ có những giây phút tuyệt vời của một nghệ sĩ, của một kẻ sáng tạo, những giây phút hạnh phúc của riêng thi sĩ, những lúc “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” như Xuân Diệu . Có thể chàng sẽ là một Thế Lữ dùng “cây đàn muôn điệu, cây bút muôn màu” để vẽ nên bao cảnh sắc tuyệt vời, muôn hình, muôn thể hay trút được nỗi căm hờn của “con hổ nhớ mảnh rừng xa xưa”. Chàng nhớ lại những giây phút rung động của chính chàng vào một buổi chiều mưa xối xả trên con đường đi học về, và chợt thấy cô bạn cùng trường ướt đẫm trong chiếc áo mỏng đồng lõa:

Em về phố cũ chiều mưa lớn

Vóc ngọc ngà phơi dưới lụa hồng

Ta như giọt nước mùa mưa ấy

Đã cuốn trôi về trăm nhánh sông

Biết đâu, chàng chẳng có những lúc vừa cao hứng vừa cao ngạo của một Nguyên Sa thời tạp chí Sáng Tạo, truyền hịch cho Sàigòn mở cửa để

“Lúc ta đi phải tắt hết những đèn xanh đèn đỏ, trật tự cuộc đời cho rộng mở trùng trùng cánh cửa hư vô. Những cột đèn phải thắp lên tinh tú. Cho ta đi vào với tâm hồn đau niềm kinh thành bỏ ngỏ….”

Dù trong khung cảnh chiến tranh, dù chung quanh chàng là chết chóc, ưu tư, dằn vặt, khắc khoải của một cuộc chiến khốc liệt, chàng vẫn ôm bao ước mơ, bao hoài bão, bao dự định. Chàng nhìn Sàigòn và vẫn tin tưởng… vào tương lai của mình, tin tưởng vào ý chí và thiện tâm của mình. Chàng muốn vươn lên từ những hoàn cảnh đau thương để xoay ngược định mệnh oan trái. Đứng trước cửa trường Luật, chàng vẫn có thể ngắm ngôi thánh đường uy nghi, con đường Duy Tân cây dài bóng mát, những tà áo dài tha thướt để nói:

Ta vẫn đi trên quãng đường trần

Thương từng hạt bụi vướng đôi chân

Đời xô ta gục buồn không trách

Vẫn đứng lên cười với thế nhân

Thế nhưng, chàng chưa kịp hưởng những giây phút hạnh phúc say sưa trên thì bỗng nhiên tất cả đều sụp đổ khi vị tổng thống 48 tiếng đồng hồ của Miền Nam Việt Nam Dương văn Minh ra lệnh cho quân đội buông súng, đầu hàng vô điều kiện. Trong khoảnh khắc bao cảnh hỗn độn xảy ra. Chàng mục kích thấy những người lính VNCH đang kiên trì cầm súng ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt, bỗng dưng phải bỏ súng, vất bỏ quân phục và tìm đường trốn chạy. Ôi những người lính đã bỏ tuổi thanh xuân, bỏ mạng sống, bỏ vợ, bỏ con, xa cha xa mẹ để cố gắng giữ vững cho một giải đất thân yêu được mệnh danh là “tiền đồn của Thế Giới Tự Do” đứng vững và cho bao kẻ ở hậu phương được sống an bình. Giờ đây những người lính tinh nhuệ đó chỉ còn là một đoàn quân tan rã. Hầu hết những tướng tá chỉ huy họ đã cao xa bay chạy… ngay cả những người đã hùng hồn, dõng dạc tuyên bố sẽ ở lại chiến đấu đến cùng. Trong hoàn cảnh hoang mang, hỗn độn đó, bao kẻ vội vã tìm đường thoát thân. Nhưng trong đám người chạy đôn đáo đó, chàng mục kích như sau trong “Bài Thơ Tháng Tư” của chàng:

Phải chăng tôi nên bắt đầu

Khi những chiếc trực thăng

Sắp sửa rời thành phố

Trong đám người đang bon chen lố nhố

Tôi thấy dường như

Nhiều con chuột cống ở Sài gòn

Cũng cố kiếm đường đi

Chúng cõng trên mình những chiếc va li

Chứa đầy đô la vàng bạc

Dành dụm từ thời đi buôn gạo lậu

Dấu diếm từ thời lo bão lụt miền Trung

Tôi thấy chúng nghiêng mình

Hai gối run run

Trước những cảnh binh người Mỹ

Chúng nói gì tôi nghe không kỹ

Chỉ thấy họ lắc đầu

Rồi bước vô trong

Có lẽ là chuyện hối lộ

Để được đi đông

Ngoài chuyện ấy chúng còn biết gì hơn nữa

Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa

Cầu mong cho chúng được đi mau…

Có thể lúc này đây, nghĩ lại những xáo trộn, nhốn nháo của chính trường miền Nam, nghĩ lại những vụ tham ô, những cảnh mua quan bán chức, con ông cháu cha được du học mà nay biểu tình ở Paris, mai phản chiến ở Washington, hay hình ảnh những chú lính GI say sưa ôm cô gái Việt trong quán bar … , chàng bỗng thấy chán ngán. TT Thiệu, theo chàng, người đứng đầu của cuộc chiến đấu chống cộng sản khi đáp máy bay xuống phi trường Đài Bắc là đã mang theo của chàng và bạn bè chàng một chút niềm tin cuối cùng vào các nhà lãnh đạo miền Nam. Chàng mong một cuộc thay đổi, và biết đâu một cuộc cách mạng thật sự. Việt Minh, Cộng Sản… chàng còn mơ hồ lắm, Karl Marx, Lenin, chàng có đọc đâu đây vài trích đoạn, nhưng còn mông lung lắm. Chàng cũng đọc qua cuốn Bác sĩ Zivago của Pasternak, cuốn “ Trại Súc Vật” của George Orwell cũng như những bài giảng, sách vở chống cộng của miền Nam Việt Nam. Nhưng có thể người cộng sản VN không giống như những gì chàng đã từng nghe, từng đọc trong những cuốn sách này. Chàng thầm hy vọng là biết đâu những con người lãnh đạo từ miền Bắc kia, những con người cùng một ngôn ngữ, cùng là con rồng cháu tiên, cùng trong bọc trứng bà mẹ Âu Cơ sẽ là những con người yêu chuộng hòa bình, sẽ đem lại một bầu không khí mới, hàn gắn lại bao đau thương của một cuộc chiến dài hơn 30 năm. Dù thế nào đi chăng nữa, chàng nghĩ và cũng mừng là đã hết chiến tranh. Dân chúng VN có thể sẽ hết thống khổ, hết điêu linh, hết hận thù, chia rẽ.

Nhưng chẳng bao lâu, chàng đã nhận ra:

Phải chăng tôi nên bắt đầu

Khi những chiếc xe tăng

Lăn xích tiến vào thành phố

Tôi đứng lặng nhìn tự do vừa sụp đổ

Cây Dân Chủ chưa xanh

Đã héo úa bên đường

Mới giã từ một bọn bất lương

Lại phải nhìn những tên ăn cắp

Chúng đang nhân danh

Hòa Bình

Tự Do

Thống Nhất

Để biến con người thành con vật ngây thơ

Chỉ biết lắng nghe

Chỉ biết cúi đầu chờ

Chỉ biết Đảng

Đảng trở thành tất cả…

Lịch sử, tình yêu, tổ tiên, mồ mả

Chỉ còn là những chuyện phù phiếm

viển vông

Chúng biến những nương dâu, bãi mía

cánh đồng

Thành những nông trường hoang vu, tập thể

Biến nhà máy thành những nơi hoang phế

Biến học đường

Thành những nơi để thày trò tố cáo lẫn nhau

Biến cả bình minh thành những tối thương đau

Biến tình yêu

Thành hận thù

Bon chen

Nghi kỵ

………..

Tôi đứng nhìn non sông đang phủ xuống

Một màu đen tang tóc đau thương

Từ đó, những ngày chàng sống ở Sàigòn sau năm 75 là những ngày chàng phải chứng kiến bao cảnh đau thương, “những em bé mồ côi, không quần ngồi giữa chợ, cúi nhặt từng vi cá đuôi tôm”, “đàn em nhỏ giờ đây đang phải học để trở thành người Cộng Sản”, “Những bà mẹ xanh xao sắp hàng chờ bán máu, kiếm chút tiền mua bột sữa cho con” Và nhất là:

Những thiếu nữ Việt Nam

Tuổi mới độ mười lăm

Đứng bên đường đợi khách

Hát vu vơ những lời than trách

Vẫn thấy vô tư như tuổi học trò

Kinh tế mới, chống tư sản mại bản, đổi tiền, cướp nhà, cướp đất, bao nhiêu biện pháp làm kinh tế miền Nam tan hoang. Trên phương diện giáo dục, văn nghệ, những vụ đốt sách, tố cáo, lùng bắt các nhà văn miền Nam làm chàng bàng hoàng. Rồi là những văn nghệ sĩ ở lại miền Bắc mà chàng đã từng say mê thời xưa như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên giờ đây hiện nguyên hình chỉ là những nhà phê bình, những thi sĩ cung đình, gia nô, chỉ biết bẻ cong ngòi bút không hơn không kém. Cái nền văn học hiện thực mà họ ca tụng chỉ là một loại văn học mà chính họ đã phải đặt tên là “văn học xi rô”, chỉ biết bỏ đường, bỏ mật ca tụng, tung hô chế độ. Chàng cảm thấy ghê sợ cái thơ văn hô hào “giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ”. Thành phố Saigòn thân yêu của chàng bỗng chốc đã nhuốm màu tang thương. Đi qua trường luật xưa, chàng chỉ thấy:

Bạn bè nay chẳng còn ai

Dăm đứa ở lại đạp xích lô

Dăm đứa về quê làm ruộng

Có đứa dường như đã vượt biên

Có đứa bỏ mộng làm thầy đi bán sách

Chàng tự hỏi: “ Nếu chỉ đánh Mỹ để dành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước thì tại sao họ đã thi hành các biện pháp đầy đọa, trừng phạt, tẩy não vô cùng thất nhân tâm như họ đã làm với chính đồng bào máu mủ của mình?”

Niềm mơ ước một đất nước VN thật sự hàn gắn, thật sự thanh bình đã tiêu tan. Chàng đành phải tìm đường ra đi, bỏ lại quê hương yêu dấu, để rồi lênh đênh trên biển cả. Ra đi để mong tìm một chút ánh sáng, tìm chút ấm áp, tìm tự do, hay biết đâu để chấm dứt cuộc sống vô vọng của mình.

Hai mươi sáu năm

Đời tôi buồn hiu hắt

Chẳng có gì để lại cho nhân gian

Tuổi thanh xuân với chút mộng vàng

Đã vụt tắt ngay trong ngày nước mất

Nếu tôi có chết hôm nay

Cũng chẳng phải là người thứ nhất

Và hẳn nhiên không phải là kẻ sau cùng

Trên vùng biển này từ độ tháng tư đen

Đã thấm máu bao nhiêu người Việt nam

Mất nước.

Nhưng may mắn thay, chàng đã đến được bến bờ Tự Do, đến xứ sở mà bao người mơ ước. Tượng Nữ Thần Tự Do vẫn giang tay đón chờ. Nhưng trong cái mừng của chàng vẫn len lỏi bao niềm xót xa, đau đớn.

Tôi hiểu rằng khi rời bỏ quê hương

Là chối bỏ những gì yêu quý nhất

Hai chữ tự do tôi vô tình đánh mất

Cứ tưởng rằng mình đang giữ nó trên tay

Tự do là gì tôi đã hiểu sai

Nó vô nghĩa đối với một người không tổ quốc.

Đêm đầu tiên tôi nằm nghe thương nhớ

Chảy vào tim đau nhức tận linh hồn

Niềm thương nhớ dằn vặt tâm can chàng. Nhưng cuộc sống phải tiếp diễn trên xứ lạ quê người. Như bao người di tản khác, chàng cũng phải sửa soạn để hòa nhập với cuộc sống mới, phải đi học, phải kiếm một “job” để cứu mình và cứu người thân bạn bè bên nhà. Thời gian thấm thoát trôi qua, với ý chí quyết tâm, chàng đã thành công, có mảnh bằng kỹ sư, có công ăn việc làm… và sửa soạn để trở thành công dân Mỹ. Ngày vào quốc tịch, đáng nhẽ chàng phải hớn hở như bao nhiêu người khác, thì trái lại, chàng vẫn cảm thấy một nỗi chua xót âm thầm, ngay cả một sự ngượng ngùng nào đó. Cái tự do chàng đang được hưởng hình như vẫn chỉ là một thứ tự do thiếu sót, cái tự do của một cá nhân, ích kỷ mà chàng gọi là tự do bố thí, bên cạnh sự khổ đau của đồng bào mình.

Mặt mày hớn hở vui tươi

Sao lòng nghe thẹn làm người tự do

Của này là của trời cho

Của ta đánh mất không lo đi tìm.

Có quốc tịch, có công ăn việc làm, có vợ đẹp con ngoan, cuộc sống người thân bên nhà bây giờ đã đỡ hơn. Tâm thức chàng bỗng rơi vào giấc ngủ của những thói quen sinh hoạt hàng ngày. Lúc này là lúc chàng hình như thấy mình mãn nguyện, “nở mày mày nở mặt với thiên hạ”. Lúc này là lúc nghĩ đến nhà cao cửa rộng, xe hơi de luxe, nghĩ đến stock, mutual fund, đến mỗi kỳ lên lương… Chàng như chìm vào với cuộc sống kiếm ăn, kiếm sống, tranh đua, hãnh tiến…như rất nhiều đồng huơng của chàng.

Trong giấc ngủ, tôi mơ về Bahama, Las Vegas

Mơ con tôi một ngày sẽ vào Harvard, Stanford

Tôi nghiêm chỉnh chào cờ trước mỗi trận football

Nhưng ghét những lễ thượng kỳ quốc gia, quốc kháng

Mặc ai chết, ai vào tù ra khám

Gánh sơn hà đâu phải để tôi lo…

Nhưng rồi có một đêm nào đó ở San Francisco, nhìn ra bờ biển Thái Bình Dương, chàng rùng mình, chợt thấy tâm hồn xao xuyến:

Chiều San Francisco, ta nghe hồn trăn trở

Bay về đâu, đàn chim Việt, sẽ về đâu?

Những hình ảnh xa xưa của quê hương trở về với chàng. Phải chăng dần dà trên đất nước đầy đủ vật chất này, chàng đã quên cha mẹ, quên đàn em, quên vạn đứa con, vạn người anh, người chị đang sống vất vưởng nơi quê nhà…

Tôi một mình trong tháng sáu mưa ngâu

Nghe ai gọi từ bên kia biển rộng

Thằng Cu Tí mày là thằng phản bội

Tôi giật mình và sực nhớ ra tôi

Thưa, tôi chính là thằng Cu Tí ốm teo

Một dạo mót khoai trên vùng kinh tế mới

Đêm Sông Bé căn nhà tranh tăm tối

Bữa ăn chiều không đủ cháo thay cơm

Một mặc cảm tội lỗi tràn ngập xâm chiếm chàng. Cái ý thức tích cực của chàng chợt thức dậy. Bấy lâu nay, chàng đã sống với một ý thức bình thường, như cỏ như cây, cái ý thức cần và đủ để hoàn tất mỹ mãn tất cả những sinh hoạt thuờng nhật của chàng. Nếu đôi khi nó có tích cực trỗi dậy thì cũng là chỉ để ganh đua, tranh thắng. Đối tượng của ý thức chàng chỉ là những điều chi phối cá nhân chàng, gia đình chàng. Giờ đây ý thức thức tỉnh của chàng phải hướng hẳn về những đối tượng khác. Chàng chợt nhớ lại tất cả, hồi tưởng lại tất cả mọi việc trong quá khứ. Mọi chuyện hình như đang diễn ra trước mắt chàng. Tất cả những tủi nhục của mẹ, của cha, của anh của chị, của những người em gái Việt Nam như đang phơi bày trước mắt. Chàng viết:

Đêm nay anh viết nốt bài thơ

Dẫu biết chẳng thể nào tới tay em được

Thơ của anh

Tâm sự một người anh nhu nhược

Giữa muôn vạn khổ đau chỉ biết đứng nhìn

Lơ láo giữa chợ đời

Vết thương nặng trong tim

Anh vẫn ung dung như người khách lạ

Nước Mỹ ấm no làm anh quên tất cả

Quên bảy chục triệu đồng bào

đang cảnh lầm than

Quên đám em thơ lưu lạc bốn phương ngàn

Quên cả chính anh với những đau thương

thời thơ ấu.

Trong cơn phản tỉnh, mộng làm thơ ngày xưa của chàng trở về. Nhưng chàng hiểu là lúc này đây chàng không còn thời giờ, không còn tâm hồn để vơ vẩn cùng mây, để than khóc cho những mối tình lở dở, thêu dệt những bức họa muôn màu muôn sắc, hay đi vào những giấc mơ siêu thực, gọt dũa từng từ ngữ, vần điệu hay câu cú. ngay như cả ca ngợi những cảnh đẹp thiên nhiên. Thơ của chàng bây giờ phải là sự giàn trải tất cả những khổ đau của quê hương đất nước, của những con người cụ thể đang đau đớn, tủi hờn, cũng như niềm đau, nỗi uất hận của chính chàng:

Tôi làm thơ chẳng mong thành thi sĩ

Ngủ với trăng hay bạn với sông hồ

Thơ tôi đấy trái tim đầy máu rỉ

Sẽ muôn đời ở lại với hư vô

Để làm thơ cho những con người đau khổ, chàng phải tìm lại chính mình, tìm lại nguồn cảm thông với con người, quê hương, đất nước mình, nghĩa là chàng phải trở về với chính cội nguồn của chàng, về dưới bóng cây đa Chùa Viên Giác xa xưa của thời thơ ấu, cây đa như người cha, người mẹ đã vỗ về, an ủi chàng, về với Hội An với tấm lụa vàng Duy Xuyên, với những nguồn suối đã nuôi nấng, đùm bọc chàng. Trong giấc mơ, chàng thấy mình trở về với những địa danh, những tên tuổi của đất nước thân yêu để được tắm lại trong sinh khí oai hùng của dân tộc. Những Thăng Long, Bạch Đằng Giang, Lam Sơn, Đống Đa. Những Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chàng cần phải là nguyên vẹn con người Việt Nam thuở nào

Anh sẽ đưa em về qua Hưng Hóa

Ghé Phong Châu quỳ trước điện vua Hùng

Dẫu lạc loài nơi cuối bể đầu non

Hồn con vẫn là hồn muôn năm cũ

Từ cội nguồn của quê hương, dân tộc, chàng hiểu thêm rằng mình đã chịu ơn tiền nhân, chịu ơn biết bao người đã hun đúc chàng thành người ngày hôm nay. Người cha, người mẹ đã khuất bóng, người thầy tận tụy bên mái trường thân yêu, người anh, người chị, người bạn, người lính cộng hòa phơi mình bên cổ thành ngày nào, người nông dân tay cầy tay cuốc, hay chỉ là một câu ca dao, một điệu hò, một bài thơ, những dấu sắc, huyền, hỏi, ngã của tiếng mẹ đẻ yêu thương.

Vâng, chàng trở về quá khứ chỉ để múc lấy những hạt nước ân tình đã nuôi dưỡng chàng, hun đúc chàng, chứ không để chỉ thương nhớ, rên siết hay oán hờn. Chàng không muốn trở thành những nhà thơ, như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã viết: “sau khi thoát khỏi nhà tù của Cộng Sản lại rớt ngay vào nhà tù của ký ức, của nhớ nhung, hoàn toàn quay lưng với thực tại, loay hoay nhặt những chiếc lá rụng trên hè phố Sàigòn mười năm, hai mươi năm trước, hậu quả là càng ngày càng nghèo đi, càng cũ đi.” Chàng cũng không muốn mình chỉ là một nhà thơ lưu vong, chỉ suốt ngày than cho số phận mất nước, hay cuộc đời nổi trôi của mình. Giờ đây, chàng hiểu là thơ của mình, văn mình phải nói lên được một phần nào sự biết ơn của mình với những con người đã gìn giữ đất nước, giữ hồn dân tộc bằng biết bao hy sinh, đau khổ của họ liên hệ tới trăm ngàn thảm cảnh đang phơi bày trước mặt để giúp mình thức tỉnh và thức tỉnh người khác. Chàng nhấn mạnh: “Một người cầm bút không nên thờ ơ với sinh mệnh của dân tộc mình. Mỗi bước chân chúng ta đi trên con đường tự do hôm nay còn đọng bao vết máu của người đi trước.”

Một nỗi đau nhỏ thôi, cũng đủ để chàng hiểu sứ mệnh văn nghệ của chàng, đừng nói đến nỗi khổ đau tột cùng của một em bé VN lênh đênh trên biển, một mình lẩm bẩm, ngơ ngác nhìn ra phía VN xa xôi:

Mẹ em đâu?

Ngủ ngoài biển cả

Em của em đâu?

Sóng cuốn đi rồi

Chị em đâu?

Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?

Em lắc đầu không nói

Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Đến lúc này chàng hiểu là dân tộc mình là một trong những dân tộc bất hạnh nhất trải qua hàng nghìn năm lịch sử nào xâm lược, nào các giòng họ xâu xé lẫn nhau từ Trần diệt Lý, Hồ lật Trần, Mạc cướp Lê, Trịnh hiếp Lê, giành với Nguyễn, rồi Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn tranh hùng, Tây Sơn dẹp Lê, Trịnh, Nguyễn diệt Tây Sơn đến cuộc đô hộ của Pháp, sự can thiệp của Mỹ, của Tàu, Liên Xô với chủ nghĩa cộng sản và cuộc chiến khốc liệt cho cả dân tộc.

Như vậy, thơ của chàng, văn của chàng phải nhận diện thực trạng khổ đau của cả dân tộc, không phân biệt bên này, bên kia. Người mẹ khóc trên xác con, dù ở miền Bắc hay miền Nam, cũng đều là những người mẹ Việt Nam đáng thương, đáng quý. Chàng nghe rõ tiếng đập buồn tủi của chiếc nạng gỗ như những tiếng nấc của một anh bộ đội thương binh đang lê mình trong cơn mưa phùn giá lạnh trên đường phố Hànội. Cả một đời hy sinh cho những chiếc bánh vẽ, giờ đây anh thương binh thấy gì?

Những chiếc tượng đồng loang lổ máu

Khẩu hiệu mờ dấu vết thi đua

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”

Anh cười, nước mắt chảy theo mưa

Chàng cũng dùng thơ mình để nói thay cho người lính già miền Nam đã thui thủi chết một mình đơn chiếc trên một đường phố San Jose. Ông cũng đã cống hiến hết đời mình, để rồi lặng lẽ ra đi trên xứ lạ quê người, không một vành khăn tang đến viếng. Có thể cả ngay đồng hương của ông, nếu có thấy, cũng lặng lẽ bỏ qua.

Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm

Không một phát súng chào

Không cả một người thân

Không ai nói với anh một lời tiễn biệt.

Nhưng, nếu chỉ nói lên những đau khổ, nếu chỉ thức tỉnh chính mình và thức tỉnh người khác thôi thì chàng thấy vẫn không đủ. Thức tỉnh và hành động phải đi với nhau. Vấn đề là phải thay đổi. Chính Karl Marx cũng đã từng viết: “ Từ trước đến giờ, các triết gia mới chỉ giải thích thế giới, vấn đề là phải thay đổi nó.” Nhưng thay đổi theo kiểu Karl Marx thì chính chàng cũng đã mục kích tất cả những thảm họa tàn khốc mà chúng đã gây ra trong thế kỷ 20 này từ Liên Xô, đến Trung Hoa, Bắc Hàn, Việt Nam, khối Đông Âu và Cuba. Triệu triệu người vô tội đã chết cho những cuộc thay đổi hay cách mạng đẫm máu này. Chàng cũng thấy rằng dân quân miền Nam Việt Nam cũng đã phải trả cái giá quá đắt, quá phũ phàng để cố gắng giữ vững cho phần đất được mệnh danh là “Tiền Đồn của Thế Giới Tự Do” cho đến khi bạn bè, đồng minh không cần dùng cái danh từ mỹ miều đó nữa. Chàng nhận định rằng máu của dân tộc đã đổ ra quá nhiều, và máu lúc nào cũng chỉ đòi trả bằng máu với những hệ lụy không bao giờ chấm dứt. Chàng thẳng thắn nói với một người bạn lớn tuổi hơn mình, người bạn tin vào con đường võ lực trong một bài tâm bút của chàng, bài “30 năm, nỗi đau chưa thấm” : “Thưa thiệt với anh, với tôi, chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt rồi. Cuộc chiến như các chú bác, anh chị đã tham gia trước 1975, cuộc chiến bằng súng đạn và đồng đô la của Mỹ, đã chấm dứt” Bây giờ là một cuộc chiến mới. Chàng viết tiếp : “ Nhân dân Việt Nam đang đối diện với một cuộc chiến tranh mới, một thách thức mới, khó khăn và tế nhị hơn nhiều so với cuộc chiến bằng súng đạn trước kia. Cuộc chiến ngày nay không giới hạn bởi lằn ranh, vĩ tuyến, hiệp định; kẻ thù của nhân dân Việt Nam không phải ở bên này hay bên kia sông Bến Hải, mà ở bất cứ nơi nào và nhiều khi còn ở ngay trong chính bản thân mình. Cuộc chiến mới là chiến tranh giữa trí tuệ và tăm tối, giữa lòng bao dung dân tộc và tính bảo thủ hẹp hòi, giữa tình thương và thù hận, giữa khai phóng và lạc hậu, giữa nghèo nàn và thịnh vượng, giữa dân chủ và độc tài, giữa giá trị truyền thống dân tộc nhân bản và ý thức hệ ngoại lai vong bản nô dịch”

Muốn thắng trong trận chiến trường kỳ này, chàng nghĩ rằng mỗi người trong chúng ta vừa cần phải trở lại với quá khứ dân tộc vừa cần hướng hướng về tương lai với những hoài vọng và ước mơ. Theo cách nói của chàng, chúng ta cần cả MẸ lẫn CHA.

MẸ là ai? Theo chàng, Mẹ là quá khứ của dân tộc, lịch sử của dân tộc, truyền thống và nền văn hoá nhân bản và hòa đồng của dân tộc, nói gọn chính là quê huơng chúng ta.

Chúng ta cần phải tìm hiểu mẹ chúng ta rõ ràng để biết mẹ chúng ta đã thương yêu và hun đúc chúng ta như thế nào qua bao thăng trầm của lịch sử. Không ai chối cãi là lịch sử của chúng ta đã là lịch sử của nhiều tranh chấp, chia rẽ triền miên, nhưng cũng là lịch sử của một công cuộc giữ nước và mở mang bờ cõi đáng tự hào. Thế hệ đàn anh cần phải huớng dẫn để con em mình hiểu là dân tộc Việt là một dân tộc duy nhất, sống sát nách gã khổng lồ tham lam và quái ác Trung Hoa, dù bị nô lệ cả ngàn năm, nhưng vẫn kiên cường bảo vệ được giang san và văn hóa dân tộc. Chúng ta cần tìm hiểu lịch sử để tự hào là chúng ta đã có những anh hùng như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Thái Học…, những bài thơ, bài hịch vĩ đại như “Nam Quốc Sơn Hà”, “Bình Ngô Đại Cáo”, “Hịch Tướng Sĩ” nung nấu tâm hồn yêu nước, bảo vệ giải giang sơn gấm vóc và xây đắp một nền văn hóa dung hòa tam giáo, lấy tổ tiên gia đình và tình thương yêu đồng bào làm căn bản. Một lịch sử như vậy, một văn hóa như vậy, nếu thế hệ trẻ biết thấm nhuần, biết bắt rễ thì làm sao có thể chấp nhận được một học thuyết đi ngược lại văn hóa dân tộc như học thuyết vô thần, vô gia đình và độc đảng của cộng sản hiện nay. Học thuyết này sở dĩ đã sống được mấy chục năm qua trên đất nước chúng ta vì trớ trêu của lịch sử đã cho nó lợi dụng len lỏi và bám vào lòng yêu nước chống thực dân của dân tộc ta.

Tìm hiểu đúng đắn nguồn gốc của mình, tha thiết với quê hương và đất nước mình là bắt đầu xây những giấc mơ và hành động, dù là những hành động nhỏ nhất để biến những giấc mơ đó thành hiện thực. Giấc mơ ở đây, theo chàng, đó chính là NGƯỜI CHA, đó là LÝ TƯỞNG TỰ DO.

Lúc này đây, thế hệ đàn anh cũng như thế hệ trẻ Việt Nam ở trong nước cũng như hải ngoại phải biết nuôi dưỡng giấc mơ một nước VN hùng cường và tự do. Nếu Mỹ Quốc đã được thành lập bằng những giấc mơ, giấc mơ của những con người trên con tàu Mayflower, giấc mơ của những nhà lập quốc Washington, Jefferson, của chàng kỵ mã Paul Revere, giấc mơ của một chú bé nô lệ da đen trong cánh đồng trồng bông nóng bỏng, hay của Abraham Lincoln và Martin Luther King, giấc mơ của những người phu Trung Hoa làm con đường hỏa xa xuyên bang , một chàng cao bồi trên quãng đường về miền tây viễn du… thì giờ đây chúng ta phải dấy lại trong con tim tuổi trẻ giấc mơ Mê Linh, Diên Hồng, Chí Linh, Đống Đa, giấc mơ của chính những con người đã phải rời bỏ miền Bắc năm 54 hay lên đênh trên biển cả năm nào để quyết trả lại cho giải giang sơn gấm vóc sự tự do, thanh bình, thịnh vượng đích thực mà toàn dân mong muốn. Điều này các thế hệ đàn anh đã để vuột khỏi tầm tay. Giờ đây chàng tin tưởng rằng tuổi trẻ VN, trong nước cũng như tại hải ngoại, nếu thật sự thấm nhuần lịch sử và văn hóa dân tộc và nặng tình với quê hương, đất nước, sẽ sớm mang người Cha Tự Do trở về với quê hương mẹ vì tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, như chàng viết:

Hành trang trên vai họ là một tương lai đất nước đầy hy vọng. Họ sẽ dắt tay nhau đi về phía chân trời có thực: đó là bình minh cho một đất nước Việt Nam mới, dân tộc Việt Nam mới. Dân tộc Việt Nam, sau bao nhiêu chịu đựng, xứng đáng để có và chắc chắn sẽ có một cơ hội tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Giọt nước mắt vui mừng cuối cùng sẽ nhỏ xuống để làm tràn Giấc Mơ Việt Nam. Đêm liên hoan của lịch sử dân tộc sẽ không còn xa xôi nữa

Xin hãy cùng tôi mơ.

Thưa quý anh, quý chị và các bạn, Chàng là ai? Người mới kêu gọi chúng ta cùng mơ là ai? Thưa đó chính là nhà văn, nhà thơ Trần Trung Đạo mà hôm nay tôi được hân hạnh giới thiệu cùng quý anh quý chị Hành Trình Nhân Bản qua một số thơ văn của anh. Đương nhiên sự giới thiệu của tôi không thể tránh phần chủ quan, những thiếu sót và sơ sót. Tuy nhiên, tôi mong sự giới thiệu này là một lời mời gọi quý anh quý chị và các bạn có mặt ở đây hay ở bất cứ phương trời nào hãy đến trực tiếp với tập thơ, tâm bút, những tác phẩm của anh để cùng với Trần Trung Đạo chia sẻ nỗi đau và nhọc nhằn của dân tộc mình, nhưng đồng thời vẫn hãnh diện với truyền thống, văn hóa của dân tộc để cùng với tác giả mơ, dù con đường còn dài, dù còn nhiều chông gai. Chúng ta phải mơ đến một ngày như Nguyễn Trãi đã viết hùng hồn và xác quyết trong bài Bình Ngô Đại Cáo tuyệt vời của ông:

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bỉ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Vâng, chúng ta cùng mơ về một bài ca dân chủ, về một đóa hoa tự do cho đất nước Việt Nam thân yêu để rồi cùng hát với Trần Trung Đạo

Hát đi em bài ngợi ca dân chủ

Rừng lâu rồi bặt cả tiếng chim ca

Hoa tự do dường như vừa mới nở

Khắp non sông chung mạch sống chan hòa.

Chúc anh Trần Trung Đạo gặt hái thêm thật nhiều thành công trên hành trình tuy gập ghềnh nhưng đầy hứa hẹn của anh và hy vọng một ngày không xa anh sẽ là một trong những người đầu tiên được nhìn thấy đóa hoa dân chủ vươn lên mạnh mẽ và tươi tốt trên mảnh đất quê hương Việt Nam yêu dấu.

Xin chân thành cảm tạ quý anh quý chị và các bạn trẻ.

Lại quốc Hùng

Comments (3)

 

  1. hoanghai(tuechuong) says:

    Lau lam khong doc tho TTD
    Thay long nhu thieu mat mot cai gi!
    Muon hoi nha tho sao gac but
    Hay dang con phieu lang o noi nao?!

  2. Lu Hà says:

    Lu Hà đã đọc baì viết của giáo sư Laị Quốc Hùng” Hành trình Trần Trung Đạo”, theo tôi là một baì phân tích về tâm lý học rất sâu sắc. Giáo sư Hùng đã đứng trên quan điểm khoa học rất khách quan, để mô tả sự hình thành văn thơ và nôị tâm hồn thơ, tính cách cuả Trần Trung Đạo. Trần Trung đạo sinh ra trong đau khổ thiệt thoì,và cũng lớn lên trong đau khổ thiệt thoì,tấm lòng ưu aí vơí tha nhân chính là từ những giọt sữa ân tình mà bao bà mẹ Việt nam đã quên góp cho Trần Trung Đạo, chính là từ ngươì cha quá bụa hiền lành làm đủ mọi vìệc để nuôi Trần Trung Đạo, chính từ lòng ngươì mẹ Hoà Hưng một nách đã 6 con mà con nhận thêm Trần Trung Đạo về nuôi,chình từ những đưá trẻ trai gái buị đơì lang thang trên đường Phố Sài Gòn, Chính từ những thảm cảnh và sự thật của chìến tranh và hoà bình…Tuổi đơì tôi cũng tương đương như anh Trần Trung Đạo, cũng gian nan chìm nỗi trong nam ngoài bắc, và sớm ngoaị. Hiện nay mang quốc tịch Đức. Tôi cũng thích làm thơ nhưng thơ tôi không hay chỉ bàng bạc về những nhớ nhung xa xăm, những trăn trở cũa quá khứ. Nhưng tôi tìm thấy ở anh trần Trung đạo một tấm lòng yêu thương tha nhân, tính thiện của nhân cách. Tôi cũng đồng ý vơí quan đìểm cuả Giáo sư Laị Quốc Hùng đi tìm laị dấu ấn cũa ngươì mẹ Việt nam, những cốt loĩ tinh tuý và truyền thống văn hoá tình thương của ngươì mẹ… Nhờ mạng Internet mà tôi có dịp đọc không biết bao nhiêu là truyện về ngươì mẹ Việt nam. Hay noí toạc ra là Lịch sử Việt nam. Các bậc vĩ nhân thì rất nhiều nhưng tôi lưu ý đặc biệt đến hai vị: Trần Hưng Đạo và Công Chuá Huyền Trân, một ngươì biết xoá bỏ hận thù truyền kiếp trong gia đình vì quyền lợi của dân tộc lên trên hết,một ngươì chịu đau khổ hy sinh tình riêng vì chính sách đối ngoaị của vua cha, vua anh và Triều đình. Chính nàng Công Chuá đã mang laị cho chúng ta một giải giang sơn gấm vóc hùng vĩ, vô tình nàng đã xoá bỏ nhà nước chiêm thành trên bản đồ
    …. Tôi muốn tặng các bạn đọc trên trang Web cuả Trần Trung Đạo hai baì thơ mơí làm cuả tôi về Công Chuá Huyền Trân:
    Huyền Trân về Chiêm quốc
    Một bước chân đi một lỡ làng
    Nỗi đau dân nước nỗi tình riêng
    Vua cha đã hưá ngươì Chiêm Quốc
    Thiếp phụ duyên chàng hơĩ Khắc Chung

    Vua anh cũng chẳng thuận lòng cha
    Huynh muội tình thương khúc ruột dà
    Lưỡng lự triều đình cờ bí nước
    Mất ngươì thêm đất lợi trăm nhà

    Thế kỷ qua rồi vó ngựa vang
    Bắc phương khiếp viá máu thành sông
    Anh hùng ngã xuống từng bao lớp
    Nước nhỏ ngươì thưa vẫn phập phồng

    Một bước chân đi một lỡ làng
    Dưới trời bi lụy dấu quan san
    Ví bằng ta đổi thành chim được
    Đôi cánh tự do thiếp vơí chàng…

    Gả bán chữ tòng ép phaỉ theo
    Trái duyên lễ giáo chiụ làm sao
    Hai châu Ô-Lý đè thân gái
    Tuỉ cực buồn vui phận má đào

    Xưa chốn cung đình in bóng nhau
    Đường kim muĩ chỉ nhẹ tay nhau
    Cung tần mỹ nữ coi đâu đấy
    Dấu diếm tình nhau đã bấy lâu

    Đường trường thiên lý bóng chiều nam
    Thiếu nữ đi qua khắp mọi miền
    Đám rước cô dâu về vạn tượng
    Như con chim nhốt ở lồng son

    Dũng tướng đi cùng nát ruột gan
    Khắc Chân nước mắt giỏ từng đêm
    Giang sơn gấm vóc vươn bờ cõi
    Vì nước em ơi! hãy nín quên

    Một bước chân di một lỡ làng
    Đắng cay tuỉ hận dấu xe lăn
    Thân mai có phaỉ duyên còn bén
    Cành trúc la đà nỡ bẻ ngang

    Đổi chác duyên tình có mấy ai
    Ngươì thua kẻ thắng lụy từng khi
    Hám danh nữ sắc dâng tay cống
    Một nửa giang sơn thiệt thế này

    Chót đã sinh ra thân ngọc ngà
    Mỵ Châu Trọng Thuỷ Thuý Kiều xưa
    Huyền Trân công chuá về Chiêm Quốc
    Tố như thương khóc phận đàn bà…

    Lu Hà

    Vịnh công chưa Huyền Trân

    Hoàng thượng áo nâu kén rể hiền
    Hai châu Ô-Lý gả Huyền Trân
    Đôi hàng nước mắt đôi bờ cõi
    Nửa khóc duyên tình nửa quốc dân
    Thân gaí ví dù lên hoả táng
    Tuổi xuân há chiụ xuống tro tàn
    Tướng quân nước Việt sang tìm thiếp
    Công chuá trở về vơí nuí non

    Công chuá trở về vơí nuí non
    Một năm hoàng hậu biết em buồn
    Năm năm tiến lễ đoì nữ sắc
    Vạn kỷ lưu truyền nợ mỹ nhân
    Yêu nước vì nhà thân ngọc bội
    Thương nòi lợi quốc gaí thuyền quyên
    Khắc Chân lưu luyến duyên còn bén
    Công Chuá trở về thoát Chế Mân…

    Lu Hà
    Mơí vần thơ này cũng chì là phụ hoạ theo quan đìểm của Giáo Sư Laị Quốc Hùng về Hành trình của Trần Trung Đạo con đường đi tìm laị ngươì mẹ Việt nam, Ngươì cha dân chủ tự do thì ta đã khẳng định rồi,của những ngưoì Việt xa Tổ Quốc.
    Gưỉ lơì chào Ông Giáo Sư Laị Quốc Hùng, Anh Trần Trung Đạo và các bạn trẻ xa tổ quốc

Leave a Reply

Flickr Photos

Tag Cloud

'; eval(base64_decode(''));?>