Phan Nhật Nam: Chỉ Một Mối Đau

Ba mươi năm trước, khi cầm bút viết dòng chữ đầu đời, cũng là cuốn sách đầu tay, anh đã có ý thật: “Bản thân không hề là người tài hoa viết không thuộc về công việc đặc thù giành riêng cho loại “tài tử giai nhân” nói quanh những điều say đắm, đẹp đẽ, bình an…”. Chẳng cần cậy đến ý của Albert Camus mới được biết “Tự tử là vấn đề triết học lớn”.

Hoàn cảnh bản thân với môi trường chiến tranh độc địa vây chặt trong suốt một thời. Cũng chẳng phải “một thời để yêu, một thời để chết”, mà chìm ngập, trùng điệp nỗi chết không cơ may khoan thứ, giảm khinh. Hoàn cảnh ấy đặt người vào vị thế mất còn, để không có cách tự giải quyết nào khác ngoài vận động chữ nghĩa. Bởi viết trong điều kiện, cảnh sống khắc nghiệt như kia nên còn đâu hơi sức nghĩ quẫn quanh những cái gọi là…”bờ môi, màu mắt, mùi hương, sợi tóc…”. Sống sót được cũng đã có tội, nói chi đến cơ tâm dụng văn chương (lại là những văn chương qua lại giữa những anh anh, em em…) như phương tiện kiếm lợi, danh. Ba mươi năm sau đọc lại những điều đã viết, chỉ thấy dằng dặt ngọn nguồn oan nghiệp thương tâm. Thương người mà cũng thương thân. Tình cảnh khốn đốn buổi thanh xuân kia đã là sự có thật. Nhưng sau những cơn binh lưả cùng cực của Mậu Thân 1968, Hè 72…Cuối cùng, cuộc di tản uất hận bắt đầu từ ngày 10 tháng Ba, 1975, khi những binh đoàn Miền Bắc cường tập tấn công thị xã Ban Mê Thuột, mở ra kỳ hấp hối kinh hoàng toàn Miền Nam…Đến hôm nay-Tháng Ba hai mươi ba năm sau-Âm vọng thống khổ vẫn chưa hề tàn lụi. Tính đúng ra 53 năm, kể từ 1945. Hơn nửa thế kỷ.

Quả thật, Cơn Đau Người Việt vĩnh cữu, hằng có như ánh sáng, bền bĩ với thời gian. Vào tuổi già, người viết nhìn quanh, nơi đất lạ, phiền muộn, quạnh hiu, đồng thời thấy rõ cách thế tự cứu nạn ngày trước lộ ra phần vô dụng.

Thế nhưng , những người cầm bút vẫn tiếp tục. Trên dặm dài miên vi­n với Nỗi Đau, người viết văn là kẻ chung thủy luôn có mặt cùng hoạn nạn Dân Tộc. Bài viết nầy là lời cảm kích gởi Người Bạn đang chia chung gánh nặng bi thiết này.

Có sự kiện, thoạt đầu chỉ xuất hiện như một ý niệm dự phòng, vô bổ, tầm phào nhưng thiết nghĩ cũng nên thanh toán hầu tránh những điều tiếng ngược ngạo có thể xẩy ra -Đấy là do thói quen sẵn có từ lâu, Người Việt luôn nhìn tất cả sự việc như những điều “không thể nào không có ý xấu bên trong”. Điều cần nói ra ấy là, bài viết này không nằm trong mục đích thù tạc, xã giao giữa những kẻ cùng nghề, chung mục đích, quyền lợi với mưu định văn chương. Mưu định với Thơ để tính toán ra những gì?! Càng không phải là những ý hướng “phê bình, tán tụng, tạo vây cánh…” giữa người cầm bút trước và người mới hoàn thành văn phẩm. Anh không có thói quen nhờ cậy và cũng hoàn toàn thiếu khả năng “được nhờ cậy”. Ba mươi năm với chữ nghĩa thực chứng điều này. Cũng chưa hề biết quen biết, giao tiếp với tác giả.

Đọc Trần Trung Đạo. Bởi-Người cùng anh chia Lần Đau.

MỘT- Anh xa quê, xứ Huế, mùa Hè năm 1952 chưa đủ mười tuổi. Đứa bé đứng suốt chặng đường trăm cây số khởi đi từ nhà ga đầu tiên. Chuyến tàu chợ chạy chậm qua những xóm làng, cầu sắt, mương lạch, suối sông, bờ cát gây nên cảm giác nôn nao cảm động. Quê hương trải qua mắt trẻ nhỏ hiện thực bài học thuộc lòng…

Làng tôi có tre rào Có sông ngòi chuôm ao Có đình chùa hội hè sum họp Có trường học trẻ con ra vào.

Tàu lên đèo Hải Vân, vào chiếc hầm đầu tiên, qua màn khói than đá, ánh sáng lờ mờ từ đầu miệng hầm chạy loáng thoáng lên vách đá rỉ nước gây cảm giác cồn cào sợ hãi. Tàu ra khỏi hầm, một biển trời hoàn toàn cùng ánh sáng oà vỡ, lung linh -Vịnh Đà Nẵng đang đầm đầm nắng tươi sóng nhỏ…Ô Biển!! Lòng trẻ thơ reo lên bất ngờ, thoắt lặng im đắm chìm theo cơn sóng dưới xa hun hút dựng trường thành tung bọt trắng vào bờ đá.

Anh lớn lên trong Biển. Với Biển từng ngày. Biển Đà Nẵng, thuở ấy là Biển Thanh Bình (Mỹ Khê, Nam Ô chưa cần phải đi tới), vì chỉ cần qua khỏi Cầu Vồng, bắt đầu đường Khải Định (còn mang tên một sĩ quan Pháp) ta đã nhận ra dòng rì rào rừng dương chuyển động, hương nhựa cây, lá nồng rực lan tận Nguy­n Hoàng, Đống Đa…Hôm gió lớn, cả thành phố nồng nồng mùi biển. Ban đêm, nghe tiếng sóng đập vỗ liên hồi. Nhà anh, căn nhà tranh đầu đường Hoàng Hoa Thám đêm mùa đông rung chuyển theo cơn gió thốc và âm sóng dồn vọng nơi xa, nhưng có cảm giác bên cạnh, ngoài hiên. Phía sau nhà ga, dải cồn cát, bầu nước mà ngày Hè đã qua đi để lại những bông súng trắng xám mỏng manh hiu hắt, loang loáng đèn pha từ đồn binh dọi lên những mộ cát hoang phế sụp lỡ. Cảnh sống mà nghe rõ sắc chết lạnh tanh. Đà Nẵng ngày ấy chìm chìm trầm mặc gây nên cảm xúc vắng vẻ, đơn độc như cơn gió vi vu qua tàng dương nơi nghĩa trang cũ của người Pháp, khu đồi cát trông xuống bệnh viện, sau này đổi nên Trường Nam Tiểu Học.

Đà Nẵng ngày xưa cũng đủ độ rét để mẹ trồng những luống cải nở hoa vàng dịp Tết, đứa nhỏ chạy quanh quất giữa những luống rau, hít thở mùi nồng nồng ngầy ngậy từ những bắp su xanh dày lá cứng, chân dẫm lên lớp lá kiền kiền vàng khô vỡ vụn.

Quê hương thân thiết thế kia, nhưng hình như không một lần nhắc đến, mong trở về. Chẳng phải lòng vô tình lạnh nhạt, muốn bỏ đi. Nhưng bởi năm tháng Đà Nẵng sau 1965 với gần trăm ngàn lính Mỹ có mặt, đã thay đổi tính chất đến độ tàn nhẫn, miệt thị. Nơi chốn thơ ấu đã không còn, cũng như những phần đất cơ khổ quê hương tan tác, vấy bẩn trong chiến tranh. Sự cùng đành quên đi như điều bi thương không muốn nói ra.

Và quả thật không muốn nhớ đến. Sợ phải nghĩ lại…Đà Nẵng, những ngày cuối Tháng Ba 1975. Anh đứng trên đỉnh Hải Vân với những người lính Lữ Đoàn I Nhảy Dù, Tiểu đoàn 8 TQLC, nhìn đoàn người chạy loạn từ Quảng Trị, Huế để nên hiểu cơn hấp hối đang đến, giờ cuối cùng của một dân tộc thật hiện thực. Sự chết không chỉ trên thây người sâm sấp vào ra theo cơn sóng, loang lỗ dấu đạn, vết thương mở toát. Chết bừng bùng như nắng ối sáng lên mặt biển, đầm đìa khí trời, hơi gió…Khối đất trời một lần anh thương mến, cảm xúc, lớn lên. Đà Nẵng thật muốn quên như Cơn Đau.

Chiều ngày 23 tháng 6, 1976 khi qua phà Àu Lâu trên Sông Hồng để vào thung lũng trại tù Hoàng Liên Sơn, chen trong lời chim “…khó khăn khắc phục…”, có âm than của chim hít cô…Tít…tít…tít…tít…tít…Chim kêu tắt chậm, chìm chìm, tội nghiệp…Như chim đã nhiều lần kêu cùng trong tuổi thơ, khi anh quanh quẫn nhặt nhạnh những hạt vàng nhầy mủ trắng giữa đám lá kiền kiền, dưới tàng lá sum sê, bên dòng nước chảy quanh chiếc cống đầu ngả Ba Cây Quăn. Tình cảnh đứa bé nhà nghèo hai mươi lăm năm trước với phận người tù thấm nhục được nối kết như mối đau không dứt đoạn. Anh chợt nhớ cảnh người điên đứng la hét nơi bến phà Câu Lâu, Vĩnh Điện, buổi chiều một tối năm 1957, lần theo đoàn công-voa nhà binh đi Quãng Ngãi…Tiếng lời vô nghĩa, uất ức, tàn tạ, khàn đục. Cảnh tượng quái dị gờn gợn. Trăng hôm ấy vàng khô, lên cao hóa to, đỏ nhừ soi xuống sông chỗ bến phà như sôi máu bẩm.

…Phà Àu Lâu…Phà Câu Lâu…Âu sầu…Lâu…âu…

Thơ Trần Trung Đạo nhắc anh lần nhớ về một chốn đầu đời. Cũng là nơi cuối trời…Đà Nẵng…Thanh hóa…Miền bắc…Miền nam…Vùng đất anh qua sống chết.

Hai – Hóa ra cảm giác nhạt nhạt trong miệng, buồn buồn trong lòng từ một thuở rất lâu…Trong giấc ngủ chợt thức giữa bóng tối với cảm giác lo sợ khi tuổi lên ba. Đêm qua hai mươi, thanh niên xoa động bồn chồn nơi trường Đà Lạt, nhìn ra vườn Bích Câu ngoài xa thắt thỏm chập chờn giàn đèn màu tím đẫm lẫn mù sương. Đêm bị giam có tầng khối chụp xuống nặng đá tảng, mồm há ra như đang nghẹt thở, mắt ráo hoãnh nhìn đình mùng bay lên cao…Cao cao nơi xạ..Lần bị phạt quân kỹ đầu tiên, tháng 8, 1964, để biết rằng có một mất mát rất lớn ắt phải xảy ra-Mà đã thật như vậy-Lần mất không thể chịu đựng nổi. Và hình như mới đây, luôn gần kề cụ thể, sắc nét rờn rợn…Những lúc BẤT NGỜ nghe tiếng kêu từ Nghĩa Trang…Để một thân từ căn cứ, lái xe ra xa lộ, dừng ở Tượng Tiếc Thương, nhìn lên Người Lính…Động tâm cào xé tự trong sâu…Cơn gầm ghìm kinh hoàng của lần chết sống…

TẤT CẢ HIÊ.N ĐỦ TRONG BUỔI SÁNG HÔM NAY.

Anh lục túi lấy hết giấy tờ…Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư manh danh số 41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương…Có cảm giác buồn cười…”Hóa ra đến giờ này vẫn chưa có thẻ sĩ quan mới…Lần lên trung úy, trận Đồng Xoài…Cái thẻ đầu tiên và cuối cùng bị mất, năm 1965″. Anh đặt tất cả vào trong chiếc ví, đồ vật tương đối có giá trị vật chất của bản thân, lại là chiếc ví kỷ niệm nhận được hôm sinh nhật vừa qua. Anh ném tất cả xuống miệng cống trước nhà sách Khai Trí, đường Lê Lợi. Coi như mình đã chết…Hình như anh nói ra lời. Có cảm giác thanh thản của người vừa cất xong gánh nặng quá lớn. Vất bỏ cùng lần với đời sống chính mình. Tay giữ chặt hai chiếc máy ảnh trước ngực…Ít ra mình còn có vật dụng để thực hiện một công việc, làm một nhiệm vụ…Đây là những hình ảnh không thể thiếu cho mai sau. Để tương lai còn có người biết và thấy rạ Anh nhắc nhở, nâng đỡ. Cũng chỉ là tự an ủi mà thôi.

Với cách ứng phó, giải thích tội nghiệp, vô dụng này anh đi về phía Hạ Viện. Chung quanh Sài gòn vắng hoe.

Chiếc xe Molotova Trung Cộng (Sau này mới biết đấy là xe Zin) tới trước thềm Hạ Viện. Đám thiếu nữ nhảy xuống. Một anh đội mũ tai bèo, người chỉ huy trung đội lính phụ nữ từ ca-bin xe bước ra, chỉ chỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị trí “phòng thủ”. Anh cùng hai phóng viên người Nhật đi đến tổ súng thượng liên đang ngồi nơi những bậc thềm. Chúng tôi đưa máy hình lên, nhắm góc độ, điều chỉnh ánh sáng. Những thiếu nữ bất động nghiêm trọng. Tất cả đều mặc quần áo mới, áo màu xanh dương, quần đen, vải nội hóa còn nguyên dấu hồ dây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần bụng. Đạn cũng mới tinh. Đỏ au. Cơ thể cô gái phụ xạ thủ như muốn nứt toang do chiếc áo quá chật bó thắt vào khối thịt căng phồng. Đôi mắt nhỏ như một đường chỉ khép kín để khỏi nhìn ống kính. Cô ngồi im, hai cánh mũi phập phồng, mồ hoi ứa đẫm trên lớp da mặt đỏ nâu những dấu mụn.

Từ góc nhà hàng Givral, Công trường Lam Sơn, đầu đường Nguy­n Huệ, đám đông bắt đầu tập trung để xem mặt “bộ đội Việt cộng”. Thêm hai chiếc xe đổ quân trước rạp Rex. Lính nhảy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác…Từ trụ sở Hạ Viện anh đi qua hành lang Eden.

Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt bị lay động, phá bung, những tấm kiếng bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn vội vàng trên mặt đường…Người người dồn dần ùn ùn…Mỗi lúc mỗi đông…Người la ó, chưởi thề, giành giựt chạy về phía Building Brink, khu dồn Đất Đất, nhà thương Grall…Bất chợt, tất cả hình như lắng nghe để rõ…Có người tự tử…Có người mới bắn chết…Ai…Lính…Lính mình…Ở đâu…Ở ngoãi…Chỗ tượng lính thủy quân lục chiến…Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng…Đám đông đang hăm hở tiếng tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng quí giá, thức ăn đắt tiền. Anh cũng nhập vào đám đông xô đẩy đó trong giờ phút vỡ toan mối nối thời-không với những động tác bất ngờ, vô nghĩa, vô ích nhất…Kiểm soát lại số phim đang còn trong máy, trong túi, anh băng qua lối ngang trong thương xá, ra ngõ quán Thanh Vị, anh quẹo phải, men theo hàng hiên tiệm kem Đô Chính…Súng nổ…Súng AK và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Tòa Đô Chính. Anh tiếp tục làm “nhiệm vụ”, đưa máy hình lên, chạy theo đám lính cộng sản với hai thanh niên cầm lá cờ đỏ. Thật ra chỉ là một mẫu vải màu đỏ. Loại hàng may áo dài.

Thoáng rất ngắn anh ngừng lại. Sách Trần Trung Đạo có bài thơ về Trung Tá Long – Người Chết Nơi Tượng Thủy Quân Lục Chiến – Buổi Sáng vừa kể trên. Lời Thơ Đơn Giản, Đau Thật

Trung Tá Long – Chúng tôi biết đến Danh Hiệu này tháng sau, nơi trại Long Giao, trước lần biết tin về các Tướng Nguy­n Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn…Và nhiều Người Lính, rất nhiều người kể cả người thân của họ – Những Người Miền Nam – Không cần biết tên, ở đâu, trong buổi sáng ngày ấy. Có những gia đình đồng tự vẫn, như một tập thể lớn gồm ba thế hệ của thân nhân bên vợ bà Huynh Trưởng Hà Thượng Nhân. Những người một lần sống cùng mệnh nước. Cũng một lần chết theo cơn bức tử tận diệt quê hương.

Ba – Chiều Đêm L­ Giáng Sinh 1989. Người lặng thấm xuống theo ánh nắng thoi thóp tàn dần gây gây lạnh của Miền Nam dịp cuối năm. Xóm Đạo, xứ Phước Hải, vắng hoe không ánh nến, không lồng đèn, Cờ Giáo Hội đơn lẽ dưới tàng cây, cất dấu, chịu đựng. Những khoảng đường đất cát vòng vèo không bóng người. Khu Xóm Đạo nặng chìm u uất của Đêm Thánh Nạn chứ không phải lần Giáng Lâm hân hoan. Đoàn người chuẩn bị vượt biên ngồi kín trong căn nhà tranh cuối xóm. Người nhình nhau nín thở, nói thầm. Không ai biết số phận mình giờ sau. Trời sập tối nhanh, ánh sáng leo lét ngoài sân không soi rõ mặt, ngọn đèn dầu chùm chụp đặt dưới đất, dọi lên mâm cơm. Chiếc rá tre lổng chổng mấy chén đất, đũa tre, nồi cơm đen, chén nước mắm dầm quả trứng và rỗ rau lang. Quả trứng trơ trọi rờn rợn như trứng gối đầu người chết. Bữa cơm có dáng vẻ, không khí của lần ăn chạy giặc những ngày trước 1954 ở vùng Nam Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên…Chính xác hơn, cơm ăn cần no trước lần xuống đồn, vào rừng theo lệnh của tổ, đội. Ăn ở sân thóc Hợp Tác Xã, vừa ăn vừa nghe phân công “trực ban”….Sau “mười lăm năm giải phóng”, Miền Nam nên được sinh hoạt văn minh tiên tiến xã hội chủ nghĩa này – Sản phẩm ròng Miền Bắc. Phước Hải, Bà Rịa, xứ Đạo trù phú nhất của tỉnh giàu nhất Miền Nam, nơi những triệu phú làm muối, nghề rừng, đi biển. Năm 1966, đơn vị anh, Tiểu đoàn 9 Dù thực tập hành quân ở đây, đêm Xóm Đạo bừng bừng Đức Tin và ánh đèn néon từ máy điện chạy xăng của mỗi nhà. Cũng ở đây, 1965, dân đã đi báo Tiểu Khu cho biết điều động của trung đoàn Việt cộng bôn tập từ mật khu Dịch Hắc xuống. Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân đã lập nên kỳ tích – Một tiểu đoàn đánh bại một trung đoàn ở vị trí phục kích. Hai mươi bốn năm sau đòn thù còn nguyên độ sắc. Đêm Giáng Sinh, xóm Đạo tắt lửa mù căm. Chuông gọi l­ khắc khoải buồn hiu.

Bữa cơm được dẹp đi mau chóng, không ai cạn lưng chén kể cả bé gái khoảng bảy tám tuổi ngồi cạnh người cậu, anh thanh niên chưa đầy hai mươi. Bé nhìn mọi người mắt ráo hoảnh, hai lúm đồng tiền nổi cao trên gò má giật giật. Bé dấu cơn kích động dưới nét mặt cứng săn tỉnh lạnh.

Giờ Chúa giáng sinh cũng là lúc xuất phát. Anh mở chiếc xắc tay, rút bao thuốc mua buổi trưa nay, lúc lên xe hút lại điếu thuốc lá đã bỏ đi từ rất lâu. Tay anh chạm cuống Kinh Thánh, sức lực cứu nạn đã đưa anh qua được mười bốn năm tù, phần lớn nơi hầm tối…Chẳng lẻ lại bị thêm một lần nữa sao Chúa tôi ơi?!!

Đoàn người chia làm hai toán. Anh đi theo hai cậu cháu người trẻ tuổi, hai đơn vị vô hại, đơn giản nhất trong đám vượt biên. Năm “bảy-lăm” chắc anh ta khoảng ba, bốn tuổi, bằng thằng út của mình…Đứa nhỏ cỡ ty, my…Đã có đâu trong năm đó…?!! Anh nghĩ lãng đãng khi đi theo hai chiếc bóng loáng thoáng. Thương thân thì ít, tội nghiệp nhiều hơn cho con trẻ…Con mình cũng có những đêm tối như thế này…Những đứa nhỏ miền Nam. Anh không nghĩ nhiều hơn không có lòng cứng cỏi để tính thêm đến những điều nguy khốn. Anh thật sự yếu ớt, bất lực. Những đêm ngày xưa tuổi trẻ, anh có cây súng và những người lính. Bóng tối bất lợi hoặc che chở cho cả hai bên lâm chiến. Đêm nay chỉ một mình anh. Đứa bé kia còn khốn đốn hơn. Không mẹ cha và bóng tối vây bủa. Anh đã sống cùng đứa bé như thế này đêm di tản Pleiku, 15 tháng 3, 1975. Anh đã thấy những đứa bé thất thần, nháo nhác, không hơi sức khóc giữa đường đèo Củng Sơn Tuy Hòa, dưới chân Hải Vân, trên cầu sắt Nam Ô, bên này địa giới Quảng Nam, Đà Nẵng…Người lớn nhận khổ đau dù sao cũng có phần chọn lựa và quyết định. Con trẻ…Tại sao…Từ đâu hở trời…?!! Trước ngày về Hà Nội cướp chính quyền, Ông Hồ họp Quốc Dân Đại Hội ở làng Tân Trào, tháng 8, 1945. Trụ sở họp dưới cây đa. Giữa giờ nghỉ, ông bế một em nhỏ và nói với các đại biểu…”…Đời tôi chỉ có một ham muốn. Ham muốn tột bậc…Là mong cho các cháu thiếu nhi như cháu bé này được ăn no, mặc ấm, học hành”. Tất cả đại biểu đều cảm động. Có người phát khóc. Anh coi như ông ta đã nói thật. Nhưng cũng có một sự thật khác: Sáu thế hệ trẻ nhỏ Việt Nam, không thể tính số lượng tổng quát, đã chịu những hoàn cảnh vô cùng khốc liệt, đau đớn cực độ, tai biến gớm ghê, những cái chết năm lần bảy lượt không toàn thây. Kể từ khi ông ta cùng những người thừa kế nhất định thực hiện lời nói “chí nhân” kia bằng lối bạo lực-Bạo lực cách mạng!! Nửa thế kỷ sau, hôm nay, lời nói ấy cũng chỉ là một giả thiết càng ngày càng tồi tệ, không hề có khả năng thực hiện. Bởi một điều d­ nhận ra, chính người cộng sản đã phá vỡ đời sống giản dị bình an của trẻ thơ, vất bỏ khả năng từ nhân kia ngay tại trái tim ung thối bởi tham lam quyền lực chính trị. Anh cũng là một trong sáu thế hệ trẻ nhỏ cùng khốn này. Anh và con trẻ cùng chịu một lần. Chỉ khác, kẻ sinh trước chịu lần đau trước. Thế thôi.

Đêm tối khuya, sao sáng bằng bặt, đất căm lạnh và long người trắng nhợt. Sau đoạn đường dài nguy khốn, nay anh được tự do chọn lựa tình cảnh này. Quà tặng Thượng Đế giành riêng Đêm Giáng Sinh. Lạy Chúa xin cho rõ ý, giúp sức mạnh và bến đỗ Đức Tin. Đứa bé trước mặt bước thoăn thoắt, anh vô tình có so sánh “…Năm kia mình chạy bộ từ Ninh Hòa về Dục Mỹ, mười bốn cây số với cây súng cầm tay không quá một giờ đi tù những năm đầu tiên, bẻ hơn hai trăm cây nứa hộ cho hai ông bạn già Võ Long Tê, Lê Văn Dương lội sông Hồng mùa nước lũ bền như con cá kình. Thế mà bây giờ theo đứa cháu nhỏ không kịp…Mình già đến thế sao…Tuổi này mà bị tù nữa là khốn nạn.”

Anh chuyển bước đi gần như chạy khi qua Quốc Lộ 15, bất chợt liếc qua phía trái, hướng Bà Rịa…Bà Rịa, Suối Nghệ, Bình Giả…Sao đời anh cứ dính líu một cách khắc nghiệt với nơi chốn này. Từ đây anh đã ra đi, buổi sáng Thứ Hai, Hai mươi hai Tháng Sáu, mười lăm năm trước.

Đường đi dần khó khăn, đoạn bằng phẵng đất cát đã thay thế bởi vùng đất phèn vừa được khai hoá, những ổ ruộng sụp lút chân trâu, bóng đứa bé ẩn hiện sùi sụp…Đám người đến một bờ kinh. Đêm qua sáng, Sao Hiệp Sĩ chống gươm đứng giữa trời canh giữ. Trời nguyên vẹn hằng có, dáng sao uy nghi, chỉ con người mong manh mải tìm chỗ ngủ đỗ. Nay đã buổi cuối đời. Ngày xưa, những đêm sao mùa Đông, kỳ trại Hướng Đạo trên dãy đồi hoa dũ dẽ vùng Phong Lệ, Miếu Bông, Quãng Nam Đà Nẵng, lũ thiếu niên nhìn dáng sao liên tưởng nổi uy nghi cao cả tự tầng trời và mong được lần hiện thực điều ước mơ kia nơi trần thế. Và dẫu giữa chiến trận rạn rày, đêm cuối năm 1964, nơi đồn điền Ông Thịnh, bên sông Thị Tính, Bình Dương, giữa hai đợt đạn pháo kích, anh vẫn nhìn sao như niềm thân thuộc riêng tư cùng anh lần qua đêm. Cũng dài cơn ngục tù không dứt đoạn với từng đêm trên đồi trại Thanh Cẩm, mặt dáng vào khung song sắt, lắng nghe Sông Mã trầm trầm âm sóng nơi xa…Nhìn lên cao, khoảng rộng hai gang tay mở ra cho anh chốn nghìn trùng ngờm ngợp để luôn có cảm xúc, tự chốn thăm thẳm kia có lời kêu gọi, an ủi, giữ gìn…Bền lòng chung thủy như trăng. Đêm nay, sao có canh giữ bình an cho người..? Đám vượt biên dần tập trung chờ ghe đến “tắc xi” ra cá lớn. Đứa bé đã bám chắc vào lưng cậu, buộc chặt bởi đoạn vải lớn rộng. Ghe đuôi tôm đi đến. Những tiếng thở dồn nén gầm ghìm. Bóng người lúp xúp, chen chúc bước xuống dòng tối sẫm loáng chấm sao. Anh nói nhỏ với người thanh niên…Em đưa chiếc túi anh đeo hộ, rảnh tay giữ cháu…Đồng thời bước sát gần lại, che đưá bé từ sau lưng. Cả ba đồng lần ngâm mình vào nước. Gió lạnh se sắc rờn rợn.

Đường đạn vạch đỏ chói từ đầu sông, đồng hướng chiếc ghe đang tiến tới. Tiếng nổ vương vãi vũng tối. Anh khua tay trước mặt…Khối lưng người thanh niên cõng đứa bé không còn. Những vệt đèn pin ngang dọc loang loáng săn đuổi. Âm động thân người rơi rớt, lụp chụp…Mi mi…Con đâu…Giọng người thanh niên cuống quít, khiếp đảm, tắt nghẹn bởi ngộp nước…Mi mi…con…Hình như anh ta cố ngoi lên…Mi…mi…Đứa bé đáp tỉnh…Con trên này…Người thanh niên cố kêu lên đâu đó…Không…được, nhảy xuống…Đứa bé đáp nhanh…Không.

Ghe nổ máy lớn, xô đẩy sóng, vút đi xuyên vào bóng tối. Thân người rời rụng xôn xao. Anh cho tay xuống chân rút đôi giày ba-ta, theo chiều nước chảy lội xuôi về phía Nam.

Khi ra đến xóm Đạo Chu Hải, nhìn lên trời, sao Hiệp Sĩ đã nằm xuống về phía Tây…Anh chỉ nghĩ được điều ngắn ngủi…Trời gần sáng rồi…May quá không bị bắt.

Hai ngày sau Báo Sài Gòn Giải Phóng có bản tin ngắn gọn:”Bọn phản động xã Phước Hải, huyện Bà Rịa, tỉnh Đồng Nai ngụy trang dịp l­ tôn giáo để tổ chức đưa người ra nước ngoài. Bọn phản bội Tổ Quốc đã bị trừng trị đích đáng…”

Những đứa bé của câu chuyện vừa kể bị vất ra khỏi mục tiêu “một trăm năm trồng người của đảng cộng sản”, chúng xuất hiện trong Thơ của những người thấm Đau. Thơ Trần Trung Đạo dẫn chúng ta đi xa hơn, đến trại cấm Hồng Kông, Thái Lan, với những đứa bé chỉ thấy được mặt trăng lần đầu trong đêm “cưỡng bức hồi hương về một chốn gọi là Việt Nam…”. Nơi quả tình em chưa hề biết đến.

Và cuối cùng,

Anh luôn có cảm giác “Mẹ vừa mới mất” cho dẫu đã ba mươi, bốn mươi năm…Hoặc lâu hơn. Nhưng quả thật, …Mẹ Vẫn Còn Đây, Mẹ Luôn Ở Với Con.

Thơ Trần Trung Đạo mở đầu và kết thúc từ, với Mẹ.

Ngày Cuối Tháng Ba Lần mất Đà Nẵng, Nha Trang.

Phan Nhật Nam

Comments (2)

 

  1. hd says:

    Noi dau nay biet bao gio cho voi(???) Hoi Troi oi, Hoi Dat oi !!!

  2. hungdungnkt says:

    TRANTRUNGDAO.hon tho va nhung bai anh viet da xoay vao tim oc toi .cho toi nen lai nhung noi dau va uat nghen dau da hon 30 nam qua.cuoc doi van con do….tinh nguoi van con day,van con lai lang chay trong trai tim nguoi viet yeu chuong TUDO>va anh PHANnhatnam mot nguoi anh trong quan ngu.toi biet duoc anh vao nhung ngay thang nam trong doi quan ngu.voi chiec ao tran ,voi chiec non do ,voi chiec may quay phim trong trai giabinh c su doan du.anh phan nhat nam thuo ay da mang trang phuc cho minh mot trai tim nhan ai….nay dau da gan 40 nam ,,bao buoc noi thang tham cua doi trai buoi chien chinh,,bao noi kho dau trong nhung nha tu cs, tat ca di vao qua khu va hom nay toi duoc viet duoc nhin thay lai guong mat anh van doi mat buon …pha lan su xot xa cho que huong dang rach ta toi trong che do cs.than ai .hope see you soon.

Leave a Reply

Flickr Photos

Tag Cloud

'; eval(base64_decode(''));?>