Thái Tú Hạp: Vài Cảm Tưởng Về Cõi Thơ Trần Trung Đạo

Ba mươi năm lưu vong nơi đất khách, chúng ta có cảm tưởng như thời gian trôi quá nhanh so với tuổi đời hữu hạn. Ba mươi năm thừa khả năng tạo nên những thế hệ trưởng thành từ trong nước cũng như trên những phần đất tự do mà chúng ta may mắn định cư khắp cùng thế giới.

Nhìn lại những cuộc hành trình đầy máu và nước mắt của một giai đoạn lịch sử chập chùng bi thảm trên quê hương, đôi khi cố quên một quá khứ trầm thống u buồn. Nhưng cuộc chiến mang ý nghĩa bảo vệ lý tưởng tự do là những vết thương nhức nhối trong tim óc hình thành nên lịch sử, ghi dấu đậm nét qua những tác phẩm văn học nghệ thuật thách đố với tử sinh. Những dấu ấn đau thương kinh hoàng không chỉ riêng cho người Việt Nam, mà còn là đề tài sâu sắc đầy xúc cảm, gợi hứng cho những nhà văn, nhà báo, nhà làm phim ảnh quốc tế qua cái nhìn của nạn nhân, của chứng nhân lịch sử, tạo nên những nét phong phú đóng góp cụ thể những kinh nghiệm quý báu cho những công trình nghiên cứu về chính trị, quân sự, chiến thuật và chiến lược toàn cầu của một thời điểm khá bi đát của cuộc chiến liên hệ đến Hoa Kỳ. Cũng chính từ cuộc chiến này, cho đến nay chưa dứt một vấn nạn tâm bệnh dai dẳng không xóa được trong tâm khảm những người còn hệ lụy tâm thức sầu đau. Vì chưa hoàn tất sứ mệnh bảo vệ Tổ Quốc thân yêu.

Cho dù tâm thức phóng lên từ một góc độ nào trên thế giới. Những nhà thơ, nhà văn ly hương vẫn tiếp tục phát huy những sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam đầy tính nhân bản, dân tộc và khai phóng. Văn chương trong những trường hợp này không còn là chuyện “mua vui cũng chỉ một vài trống canh” hay là chuyện khi trà dư tửu hậu, mà nó đã trở thành lửa chuyển về quê hương nghiệt ngã khổ đau. Nung nấu tinh thần bất khuất, nêu cao hào khí người Việt nơi quê người. Trong niềm tin yêu đó, tôi đã đi vào cõi thơ Trần Trung Đạo từ nhiều năm trước đây. Tôi không ngờ thơ ông đã già trước tuổi. Trong thơ Trần Trung Đạo, dày dạn những chứng tích của một tráng sĩ kiêu hùng rong ruổi bạt ngàn, thấp thoáng hình ảnh dũng tướng Lý Thường Kiệt vừa làm thơ vừa điều binh đuổi giặc:

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư…

và những đường gươm tuyệt chiêu của tướng Trần Quang Khải tạo nên chiến công lừng lẫy:

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái Bình tu nổ lực
Vạn cổ thử giang san…

Thi phẩm đầu tay “ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI”, Trần Trung Đạo đã dành hơn một nửa đề cập đến Mẹ và Quê Hương. Trong thời điểm thập niên 90, những bài thơ viết về Tình Mẹ của Trần Trung Đạo quả thật đã vượt trội và xuất sắc nhất trên thi đàn hải ngoại theo nhận định chủ quan của tôi. Thơ Trần Trung Đạo đã tạo nên những xúc động mạnh mẽ khi đề cập đến Mẹ là “Kỳ Quan Tuyệt Vời Nhất” trong trái tim nhân loại.

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Ðừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Ðau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

(Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười)

Bên cạnh những bài thơ mang nỗi khắc khoải về tình người, tình quê và thân phận lưu vong nơi xứ người, thi sĩ Trần Trung Đạo cũng đã chinh phục nhiều cảm tình đối tượng yêu thích thơ ông ở khắp nơi trong sinh hoạt văn học nghệ thuật lưu vong. Qua đến thi tập THAO THỨC vẫn như dòng thác đổ xuống vực thẳm, vẫn con đường thắp lửa, vẫn trái tim nguyên thủy hào khí, vẫn niềm tin hướng đến mặt trời. Văn hào Albert Camus đã khẳng định: “Nghệ thuật chỉ có một sứ mệnh là phục vụ nỗi thống khổ và sự tự do của con người”. Trong thơ Trần Trung Đạo đã biểu tỏ trọn vẹn ý niệm đó: Từ độ vầng trăng tắt bóng trên đồi
Ta mang thơ đi vào đời máu chảy
Hờn vong quốc trong lòng ta lớn mã
Vẫn ngày đêm mang nguyện ước đi tìmTổ quốc bao năm rồi “thống nhất
Anh về đi giữa phố không quen
Hà Nội mang nỗi buồn chiến thắng
Thừa huy chương nhưng thiếu miếng ăn

Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Mang niềm thương nỗi nhớ khôn nguôi
Máu và tim của hồn Tổ Quốc
Bốn ngàn năm chảy một dòng thôi

Thơ Trần Trung Đạo như đường gươm quyết liệt, lúc nào anh cũng tự tin sẽ có một ngày mai tươi sáng trên quê hương:

Sáng hôm sau Mẹ già vừa thức giấc
Thấy con yêu đang đứng đợi bên giừơng
Giọt nước mắt cuối cùng vừa nhỏ xuống
Biến thành mưa tắm mát cả quê hương

Hát đi em cho ruộng đồng bát ngát
Cho giòng sông trong vắt chảy quanh năm
Cô thôn nữ có giọng hò tha thiết
Má ửng hồng vì mới có người thăm

Hát đi em bài ngợi ca dân chủ
Rừng lâu rồi bặt cả tiếng chim ca
Hoa tự do dường như vừa mới nở
Khắp non sông chung mạch sống chan hòa

Thơ Trần Trung Đạo đã tổng hợp chất liệu sống thực, ông sáng tác như để tường trình với thế giới về những thảm trạng đã và đang xảy ra trên quê hương đầy hận thù và thống khổ triền miên. Về những con đường thế hệ Trần Trung Đạo đã đi qua. Về những lời trăn trối thảm sầu trên biển Đông đầy kinh hoàng máu và nước mắt. Về những tiếng cầu kinh, thắp lên ngọn đèn tâm linh tôn giáo bị xích xiềng trùng vây địa ngục.

Thơ của Trần Trung Đạo như nhịp cầu nối kết từ những thế hệ trước 75 và thế hệ sau 75 ở hải ngoại. Thế hệ trẻ hải ngoại và trong nước cùng có những ưu tư thao thức, xây dựng quê hương hướng đến mâu số chung tiến hóa của nhân loại, và đề cập đến cái đau chung của dân tộc, cái xót xa trầm thống chung của đồng bào, cái thân phận lạc loài của những người bỏ xứ ly hương. Giấc mơ chung của người Việt từ trong nước và trên khắp thế giới là nguyện câu cho quê hương sớm có Tự Do Dân Chủ thực sự:

Ôi quê hương, bao giờ tôi trở lại
Đi giữa ngày không sợ bóng đêm đen
Trong giấc ngủ không xích xiềng réo gọi
Câu thơ tình chỉ viết để yêu em…
(Giấc mơ nhỏ của tôi)

Tôi vẫn đợi bên giòng sông lịch sử
Một bầy chim lưu lạc bốn phương trời
Bỗng một sớm về đây gom góp lửa
Gieo mầm xanh trên muôn vạn nẻo đời…
(Tôi vẫn đợi)

Quê hương thanh bình nhưng không phải là quê hương hạnh phúc của người dân, khổ đau ngục tù đã khép kín bao ước mơ:

… Ta van xin các người đừng hẹn nữa
Bằng những lời đường mật chẳng ai tin
Khi chiêc áo phai đi màu chủ nghĩa
Chỉ còn trơ da thịt của dân mình

Ta van xin các người đừng vẽ nữa
Những hào quang rực rỡ cảnh thiên đường
Ta đã sống, đã nghe và đã thấy
Một ngục tù che kín giữa quê hương

Ta van xin các người đừng ngủ nữa
Trên lầm than tủi nhục giống da vàng
Ai thức đó, thắp giùm ta ngọn lửa
Soi vết hằn trên đất mẹ lầm than…
(Van xin)

Mai mốt dòng đời ghềnh thác cheo leo
Mang hy vọng, con tàu ta rẻ sóng
Hãy nhớ nhau trên quê người mưa nắng
Ngọn lửa về nguồn sáng mãi trong tim…
(Về nguồn)

Thời gian không cho phép chúng tôi giới thiệu nhiều hơn về cõi thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo với những dòng thơ mênh mông đậm đà, lúc nào cũng sắt son gắn bó với Quê hương Dân tộc, chan chứa tình người, đề cao cuộc sống đầy tha nhân từ ái, với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thật tài tình, súc tích cô đọng, bút pháp diễn tả nhạy cảm như hương đồng phấn nội, đã truyền đạt đến đôi tượng cùng mang cảm tính đồng điệu của nòi tình như một triết lý hiện thực. Kết hợp tuyệt vời giữa thi ca và âm nhạc. Thơ Trần Trung Đạo đã vượt qua khỏi phạm trù sáng tạo thông thường, tự nó đã trở thành những di cảo, những thông điệp giá trị của thời hiện đại, lấp lánh ngọn lửa tin yêu từ những trái tim kiên cường đấu tranh để cùng hòa điệu với dòng sinh mệnh của văn hóa dân tộc, sáng đẹp trong tình thương nhân ái. Nếu giọt nước cần thiết cho người lữ khách giữa sa mạc nắng cháy. Chúng tôi hy vọng những dòng thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo sẽ là cơn mưa làm dịu mát tâm hồn chúng ta giữa sa mạc cô đơn nơi xứ người.

Comments (2)

 

  1. Nguyen Thanh Binh says:

    Anh Dao than,
    Doc truyen va tho cua anh ve Chu`a Vien-Giac gan 20 nam , nay moi nhin duoc hinh a?nh . O Qui-Nhon, toi co den Chua`Long-Khanh thuong xuyen vi hoc lop 12 (1970-1971) o TH Bo-De nen cung biet mot chut ve kien truc nhung Chua Vien-Giac nguy nga hon nhieu. Khi di day hoc o Tuy-Hoa (1973-1975) toi hay di theo anh ban cung nghe giao den Chua` moi Mong Mot va ngay Ram nen cung hieu biet hon mot chut.
    Chua Vien-Giac cua TTD co le la ca tuoi tho va ky nien kho quen nhat. Toi van nho nhung ngay con o nha` que thuong den nha tho Bau-Gieng de ca.y vo^i tren tuong an chung voi xoai non hay khe chua da lam!
    “Que huong la chum khe ngot, de cong an leo hai moi ngay”. Cau noi dua cua Nam-Phong tren Radio TNT nghe sao dung qua! Anh co tin la ” Que huong neu ai khong bo? (nho’). Se khong khon lon thanh nguoi” khong? Co nhu anh va toi ma khong bo? que huong thi lam sao song noi o ma?nh dat con day han thu do’!
    NTBi`nh

  2. Chương Nguyễn says:

    Thơ của chú đã cho Cháu nhận thức và hiểu hơn nhiều điều về xã hội Việt Nam. Mong sao nó có thể thức tình thanh niên trong nước.

Leave a Reply

Flickr Photos

Tag Cloud

'; eval(base64_decode(''));?>