Tuệ Chương: Thơ Trần Trung Đạo, Nỗi Thao Thức Tha Hương

Khi còn ở trong nước, tôi cũng như nhiều người khác, không được đọc thơ Trần Trung Đạo (TTÐ). Sách lược cởi mở của Cọng Sản Hà Nội là cởi mở với đồng đô-la, không có nghĩa là cởi mở với văn học hải ngoại mà họ đánh giá là phản động. Tới trại tỵ nạn một thời gian ngắn, đọc báo chí hải ngoại được đưa vào trại, dù hạn chế, nhiều người đã quen với “hiện tượng Trần Trung Đạo”, một nhà thơ “trẻ” -theo nghĩa tương đối nếu so sánh với các nhà thơ “thành danh” trước 75- nhiều người hâm mộ thơ ông. Đến Hoa Kỳ, tôi lại càng chú ý đến thơ ông. Thơ của Trần Trung Đạo (TTÐ) xuất hiện trên nhiều tờ báo, từ những tạp chí cho đến các báo biếu, hay các đặc san của các hội đoàn, đoàn thể, mỗi năm xuất bản một hai lần.

Tại sao thơ của ông được nhiều báo chí đăng tải như thế? Báo nào ông cũng gởi thơ đến đăng? Tôi không nghĩ như vậy. Hiện tượng báo chí hải ngoại khá phong phú và phức tạp. Các chủ bút có thể trích đăng lại thơ của ông từ một tờ báo nào đó. Báo chí Việt Nam hải ngoại gần giống như báo chí Mỹ. Mặc dù có nhiều báo chí Mỹ bán khắp cả thế giới, nhưng không có tờ báo nào là báo chung cho toàn nước Mỹ. Báo chí VN ở đây cũng vậy, không có báo nào là báo chung cho toàn người VN ở Mỹ. Có thể có rất nhiều tờ phát hành khá rộng rãi ở một vài địa phương nào đó với một số lượng lớn, nhưng một tờ chung cho cả toàn quốc thì không! Vì vậy, một bài báo, bài thơ, truyện ngắn v.v… được đăng ở nhiều tờ báo là thường tình. Một người làm báo ở Washington D.C. ở Cali có thể trích đăng lại thơ TTÐ từ một vài tờ báo ở Boston nếu họ yêu thơ ông.

Việc thơ ông đăng ở nhiều báo làm tôi nhớ một kỷ niệm hơn 40 năm trước. Khi ấy, tôi là “mầm non văn nghệ” của vài tờ báo ở Huế, trong khi vài bạn văn của tôi cố gởi bài đăng cho được ở một vài tờ báo “lớn” ở Saigon. Người ta tự hào và tự cho rằng bài họ viết phải đăng ở những tờ báo “danh tiếng” mới xứng, mặc dù việc đó có thể ví như việc chụp hình ké với lãnh tụ, thậm chí che dù cho lãnh tụ, cũng tự cho là vẽ vang. Án Anh làm quan tể tướng nước Tề, khi ra đường bao giờ ông cũng khiêm cung. Trong khi đó thì tên đánh xe ngựa đưa ông vào ra triều đình mỗi ngày mặt bao giờ cũng dương dương tự đắc, khiến vợ anh ta phải xấu hỗ lây cho chồng.

Một hôm, đang bữa ăn, mấy đứa em con ông chú tôi đem chuyện đăng báo này ra nói. Ông chú tôi ngồi nghe, một lúc, ông nói: – Hoa sen bứng vào trồng trong mấy cái chậu sành trong Đại Nội thì không sống được. Nó mọc trong hồ, giữa bùn, thơm vẫn thơm, đẹp vẫn đẹp. Văn chương thì mênh mông, biết sao là hay, biết sao là dở. Bọn nhà văn thì “Văn mình vợ người” thành ra chẳng bao giờ nên người. Cái tính đó là tính trẻ con. Ông chú tôi vốn là người vào ra Cửa Khổng Sân Trình nhiều hơn cầm bút chì, lời ông dạy bao giờ cũng sâu sắc. Vâng lời ông, tôi bỏ cái tính “Trẻ con văn nghệ” đó. Cho tới giờ, tôi vẫn còn là “Mầm non văn nghệ” nhưng tính “Trẻ con văn nghệ” thì tôi giã từ đã lâu.

Tôi không rõ TTÐ có buồn khi thấy báo chợ, báo dán, báo biếu đăng thơ ông tùm lum hay không, hay ông cho rằng đó là điều hay. Dù là báo gì, người ta thấy thơ ông hay thì người ta đăng. Đó cũng là “Bất tích ca giã khổ, đản thương tri âm hy” (Không tiếc người ca khó nhọc, chỉ sợ đời không có kẻ Tri Âm mà thôi). Chĩ sợ mình làm thơ, viết văn mà không ai đọc, còn người ta biết một bài thơ hay, chép vào sổ tay, cuốn tập v.v… hay đăng vào báo chợ, báo biếu, theo tôi nghĩ, đó cũng là Tri Âm, đâu cần hoài hơi phải đăng vào một tờ báo “lớn”. Đọc bài “Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh” của TTÐ để “Kính tặng một bà Mẹ ở San José” (Thao Thức- Thơ TTÐ-trang 52), tôi tìm ra chân lý đó:

Mẹ ngồi suốt hai giờ trên xe buýt
Chỉ mong đến tận nơi để nghe đọc thơ con
Những vần thơ chứa chan vạn nỗi buồn
Những vần thơ chảy ra từ tim Mẹ
(Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh- Thao thức- TTÐ- trang 52)

Do đâu Mẹ biết thơ TTÐ để đi nghe. Mẹ đọc thơ ông từ những tờ báo “lớn”, báo thuộc loại văn nghệ văn gừng “cấp cao”. Không chắc! Tôi không chắc Mẹ đọc thơ ông từ nơi đó. Có thể là Mẹ đi chợ, vào một Super Market VN nào đó, lấy một tờ báo biếu đọc chơi. Ban đầu chỉ là “đọc chơi” nhưng rồi Mẹ đọc thơ TTÐ không ít lần, và thấy hay, thấy trúng ý mình, tình cảnh mình, tình cảnh dân mình, nước mình. Có vậy Mẹ mới chịu khó ngồi hai giờ liền trên xe buýt để đi nghe thơ con. Đó là sự thành công, thành công rất lớn của TTÐ. Đó là “Sức Phổ Biến”rất lớn của Thơ TTÐ mà ít người vinh dự được có. Đó chính là “Hiện Tượng Trần Trung Đạo” trong lãnh vực phổ biến thơ văn. Tôi đã từng đi nghe diễn thuyết, những buổi đọc văn, đọc thơ, kỷ niệm Nguyễn Du, Nhất Linh… khi còn ở trong nước cũng như ở hải ngoại, trước 75 cũng như sau 75, chưa thấy một bà cụ già nào phải đi xe buýt suốt hai giờ đồng hồ liền “Chỉ mong đến tận nơi để nghe đọc thơ con”. Con đó lại cũng không phải là con Mẹ đẻ ra để Mẹ công khó đến như vậy.

Điều này không có chi khó hiểu. Ngay chính trong lời mở đầu của tập thơ Thao Thức, TTÐ thành thật nói “Tác giả vẫn tin rằng mình đến với thi ca bằng tấm lòng mộc mạc của một người Việt Nam yêu văn hóa dân tộc hơn là một nhà thơ, một thi sĩ, một người cầm bút chuyên nghiệp” (Lời ngõ- Thao Thức- TTÐ- không đề số trang).

Văn chương Bình dân là những tác phẩm có giá trị không thua kém gì Văn chương Bác học, nhưng ông cha chúng ta khi soạn ra những câu cao dao, tục ngữ, hò vè v.v… đâu có nghĩ rằng họ đang “làm văn nghệ”. Chính cái không cho rằng mình là nhà thơ thì mới thật là thi sĩ, không cho mình là nhà văn mới là văn hào. Còn khi thấy mình đúng là thi sĩ thì thật sự đó chỉ là “thợ thơ”, khi thấy rằng mình là văn hào thì đó chỉ là những nhà văn ba xu (truyện xì trum trẻ em, bán mỗi tập ba xu).

Ngay đầu đề bài thơ này -“Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh”- ta cũng thấy được quan điểm văn nghệ của ông. Thơ là một phần của đời sống văn học. Thơ còn sống thì đời còn sống. Thơ hồi sinh thì đất nước sẽ hồi sinh. Ngay văn chương bình dân cũng là một mặt của đời sống văn học dân tộc ta. Nó bao gồm những truyện thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, hò vè. Văn học bình dân các nước Âu Mỹ giàu có về thần thoại, cổ tích, sử thi, mà ít ca dao. Thậm chí, nhiều nước Ây Tây cùng có chung những chuyện thần thoại. Nước ta thì không. Chúng ta có một nền văn chương bình dân riêng của người Việt ta và rất giàu, rất phong phú về ca dao tục ngữ. Người xưa bói Kiều vì bất cứ hoàn cảnh nào trong cuc sống cũng có vài câu Kiều ứng nghiệm với. Ca dao cũng vậy. Bất cứ mặt nào của đời sống ta cũng tìm thấy trong ca dao: giáo dục, tôn giáo, gia đình, tình yêu v.v… Ca dao là thơ, thơ chung, thơ của nhiều tác giả qua nhiều thời gian. Trên quan điểm đó, thơ của TTÐ sẽ đi vào đời sống dân tộc, đóng góp vào việc làm phong phú, phục hồi đời sống văn hóa dân tộc. Như thế, vị tất cần phải chọn lọc thơ đó được phổ biến như thế nào, bằng phương tiện gì. Cũng trên quan điểm đó, người ta không thấy thơ TTÐ có những câu bí hiểm, che kín, che một nửa ý tứ để thành một thứ tối tăm như “thơ hủ nút” của Thanh Tâm Tuyền (TTT) ngày trước. (Tối như hủ nút -tục ngữ). Tôi không chắc ngày nay còn ai thuộc được vài câu thơ của TTT nhưng chắc chắn ít ra một vài thế hệ sau, người ta còn yêu thơ TTÐ. Chính TTÐ cũng nói:

Hồn thơ đó nghìn năm sau vẫn đọng

(Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh- Thơ TTÐ- trang 54)

Ông không bắt chước lối làm thơ của các thi nhân “thành danh” trước 1975 ở Miền Nam.

Thơ ông rất hiện thực, rất rõ, như bày tỏ hết tấm lòng của ông với mọi người. Sức phổ biến thơ ông mạnh mẽ cũng là nhờ ở đó vậy:

Những vần thơ chan chứa vạn nỗi buồn
Những vần thơ chảy ra từ tim Mẹ
(Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh- TTÐ- trang 52)

Thơ con buồn hay máu chúng con rơi
(Bài trên- đã dẫn -trang 53)

Những vần thơ vốn buồn hơn nước mắt
(Bài trên- đã dẫn- trang 53)

Có ai cần đọc thơ con
Một thi sĩ vô danh
Viết những chuyện chẳng còn ai muốn nhắc
Câu chuyện Việt Nam mịt mờ xa lắc
(Bài trên- đã dẫn- trang 54)

Thơ ông làm ra từ trái tim của Mẹ, của Quê hương Đất nước, Dân tộc. Thơ ông là máu, là nước mắt. Máu từ những người đấu tranh cho Tự Do, Nước mắt từ những khổ đau của Dân tộc. Ông khẳng định nhiều lần thơ ông là nước mắt:

Bài thơ nhỏ đầu năm tôi đang viết
Đêm gao thừa đất khách, tuổi lưu vong
Tôi đang nhắp rượu nồng hay nước mắt
Mà sao nghe cay xé tận trong lòng
(Tuổi Lưu Vong- Thơ TTÐ- trang 86)

Thơ của người, hoa thơm trãi lối
Thơ anh máu lệ nhỏ từng đêm
Anh khóc triệu người đang hấp hối
Khóc anh, hy vọng chỉ còn em
(Mười Chín Mùa Mưa- TT-TTÐ-trang 58)

Với những người vong quốc, Mẹ là Quê hương. Quê hương và Mẹ là một. Mẹ không bao giờ mất vì Quê hương vẫn còn đó. Với thi sĩ, thêm một điều: Thơ. Thơ, Mẹ và Quê hương là một. Ngay đầu đề bài thơ tôi vừa trình bày ở trên, TTÐ đã cho ta thấy tâm tư của ông: “Mẹ là Thơ nên Đất Nước sẽ hồi sinh”. Mẹ Thơ Đất Nước là 3 nhưng chỉ là Một. Đất Nước là Quê hương-Dân Tộc.

Ngay trong bài thơ này, cùng ý đó, TTÐ viết:
Có giống dân nào như một giống chim
Bay suốt bốn ngàn năm chưa dừng lại
Như đời Mẹ mang nỗi buồn đi mãi
Bảy mươi lăm năm chưa một chỗ quay về.

(Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh-TT-TTÐ-trang 54)

Giống chim ông nói ở đây là chim Lạc, được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ. Chim Lạc là “totem” (1) của giống dân Lạc Việt, tức tổ tiên của chúng ta. Dân tộc Việt Nam có bốn ngàn năm lịch sử, đến giờ này đất nước vẫn chưa yên.

Nói về Mẹ-Quê hương- TTÐ có một bài thơ rất dễ thương. Cái “dễ thương” ở đây, rất khác với cái “dễ thương” của Nguyễn Nhược Pháp (NNP) qua nhũng bài thơ dễ thương của ông như “Đi Sứ”, “Đi chơi chùa Hương” hay “Ngày xưa”. Cái “dễ thương” của NNP là cái “dễ thương” của một thời kỳ cổ xưa, của quan Trạng vinh qui, của cô gái yếm lụa đào, tóc bỏ đuôi gà, thuở đất nước thanh bình, thạnh trị, yên ổn hòa vui. Cái “dễ thương” của TTÐ khác hẵn vì đây là những mơ mộng, ước ao của một người trẻ lưu lạc nơi xứ người, mong ngày về lại quê hương, gặp mẹ và bà con thân thuộc bạn bè v.v…

NẾU

Nếu tôi được chỉ một ngày để sống
Xin một ngày được sống thật bình yên
Không ghét ghen, không hận thù, tranh chấp
Một ngày thôi trong tay Mẹ dịu hiền

Nếu tôi chỉ được một lần để gọi
Giữa quê người xin gọi lớn Việt Nam
Ôi Tổ quốc, bốn ngàn năm hưng phế
Vẫn còn đây qua mấy đ thăng trầm

Nếu tôi chỉ được một lần để hát
Tôi sẽ nghiêng mình, hát khúc quốc ca
Xin mặc niệm bao nhiêu người đã chết
Ngọn Cờ Vàng thắm máu của ông cha

Nếu tôi chỉ được một lần đểviết
Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu
Ngừng tay lại, hỡi ai còn chém giết
Hai mươi năm thù hận đã thêm nhiều

Nếu tôi chỉ được một lần để vẽ
Tôi sẽ vẽ hình chư S thân thương
Từ hải đảo đến núi rừng sông biển
Đất trời ta, dáng đứng đẹp phi thường

Nếu tôi chỉ được một lần để khóc
Xin một lần được khóc cho riêng tôi
Hạt bụi vướng trên vai đờ du tử
Tôi bay đi ngàn dặm áng mây trời
(Nếu-TT- TTÐ- trang 63-64)

Ý bài thơ rất rõ, rất dễ hiểu. Khi còn làm giáo sư Việt văn, tôi thường phải sưu tập bài giảng cho học sinh. Tôi nghĩ là một giáo sư chân chính (chân chính có nghĩa là không phải chọn Phan đình Giót, Cù chính Lan lấy thân mình lấp lỗ châu mai làm đề tài), người ta sẽ chọn bài thơ này làm bài giảng văn.

Tư tưởng của TTÐ trong thơ rất Việt Nam: thương yêu (Không ghét ghen, không hận thù tranh chấp – Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu – Tôi sẽ vẽ hình chữ S thân thương). Điều này rất đối chọi với chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa của hận thù, đấu tranh giai cấp. Ý đó, TTÐ nói rõ hơn trong câu “Ngừng tay lại, hỡi ai còn chém giết, hai mươi năm thù hận đã thêm nhiều”. Chữ AI ông nói là chúng nó chớ ai. Chúng nó là bọn Cọng Sản Việt Nam đấy. Bài thơ này không ghi thời gian ông sáng tác. Nếu ông làm bài thơ này năm 1995 thì chữ “hai mươi năm” có lẽ là hai mươi năm lưu vong. Cũng có thể là “hai mươi năm” nội chiến (1955-1975). Dù là ý nào, Cọng sản cũng không tha cho ông. Họ không chấp nhận nói như kiểu Trịnh Công Sơn “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” trong bài hát “Gia tài của Mẹ”. Không có nội chiến, chỉ có cuộc “Chống Mỹ Cứu Nước”. Nói nội chiến thì có thể bên nào cũng có chính nghĩa. Chính nghĩa rất lắm khi tương đối. Pascal nói “Bên này Pyrénée là chân lý, bên kia thì ngược lại”. Còn ở đây, đối với họ, họ là chính nghĩa, “Mỹ Ngụy” là phi nghĩa. Bài hát của TCS được xếp vào xó tủ.

Ý thức “phản động” của TTÐ là ý thức Dân tộc. Sống thương yêu đùm bọc nhau, “lá lành đùm lá rách”. Ý thức Yêu thương đó bắt nguồn trong ý thức dân tộc mà cũng là triết lý của đạo Phật phổ biến trong dân tộc ta đã hàng ngàn năm. Ông nghe Cọng Sản “đổi mới”, nhưng đổi mới cái gì? Cái cần thiết nhất cho dân tộc chúng ta, đã thui chột trong chiến tranh, đã triệt tiêu trong chế độ Cọng Sản, cái đó cần phục hồi, cần hồi sinh. Một câu hỏi, mà cũng là một sự mỉa mai:

Ôi đất nước, sau mười năm đổi mới
Có lớn thêm hơn một chút tình người.
(Thao Thức- TT- TTÐ- trang 11)

Nhà thơ không mong nhiều, một chút thôi “Một chút tình người” mà cũng không có!!!

TTÐ lấy sự thương yêu để chống lại chủ nghĩa hận thù của Cọng sản là “rất đáng tội”” với họ, bởi vì đó là vũ khí lợi hại nhất để đánh bại Cọng sản, đó là vũ khí cuối cùng của trận chiến cuối cùng.

Tôi thắc mắc một chữ viết “nghiêng” trong câu “Tôi sẽ nghiêng mình hát khúc quốc ca”. Chào Quốc kỳ, hát Quốc ca thì phải đứng “thẳng”, chỉ khi mặc niệm mới đứng nghiêng. Nói như ông “nghiêng mình hát khúc Quốc ca” có nghĩa là Tổ Quốc đã CHẾT. Có thể rất nhiều người không đồng ý với ông trên quan điểm này. Tổ Quốc không bao giờ chết. Hễ Dân Tộc còn thì Tổ Quốc còn. Dân Tc đang điêu linh khốn khổ vì bọn Vô Tổ Quốc. Dân Tộc chưa bị tuyệt chủng. Chính TTÐ cũng nói là Tổ Quốc chưa chết, Tổ Quốc chỉ lâm nguy “Tổ quốc như trong giờ Nhật Thực” – (Mười chín Mùa Mưa- TT- TTÐ- trang 58)

Trong tập thơ “Thao Thức”, TTÐ cũng có một bài thứ hai rất “dễ thương”. Chữ “dễ thương” tôi vẫn nói với ý trên. Một tuổi thơ với cây đa của chùa, với sân chùa, và lưu lạc nơi quê người khi khôn lớn. Đối chiếu giữa hai cảnh đời, tác giả lưu luyến hoài cây đa nơi chùa cũ.

Nhớ cây đa chùa Viên giác

Tôi chưa kịp trở về thăm Viên Giác
Mười hai năm bèo giạt bến sông đời
Cây đa cũ chắc đã già hơn trước
Biết có còn rụng lá xuống sân tôi

Đời lưu lạc tôi đi hoài không nghỉ
Để niềm đau chảy suốt những mùa thu
Thời thơ ấu cây đa già tri kỷ
Vẫn còn đây trong ký ức xa mù

Tôi khổ cực từ khi cha mất sớm
Nên bà con thân thuc cũng xa dần
Khi tôi khóc, đa đau từng cuống lá
Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân

Đa làm mẹ vỗ về tôi giấc ngũ
Đa làm cha che mát những trưa hè
Đa làm bạn quây quần khi rảnh rỗi
Đa làm người chân thật chẳng khen chê

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn

Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
Cây đa già đứng lặng khóc chia ly

Đường tôi qua đã không còn bóng mát
Ngày nhọc nhằn mưa lũ xuống đêm khuya
Đa ở lại âm thầm ru khúc hát
Ngậm ngùi buông theo mỗi tiếng chuông chiều

Đa thương mến dẫu có vàng thương nhớ
Cũng xin đừng gục xuống dưới sân tôi
Xin cố đứng để chờ nghe tôi kể
Chuyện trầm luân của một kiếp con người

Tôi sẽ đến ngôi chùa xưa Viên giác
Nhặt mảnh đời rơi rớt ở đâu đây
Ôi thằng bé nghèo nàn xưa đã lớn
Đi làm người du thực ở phương tây

Tôi viết nốt những bài thơ dang dở
Và tình người rách nát thuở hoa niên
Đa sẽ hát bài đồng dao muôn thuở
Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.

Thông thường, cây đa là biểu tượng của quê hương, của làng quê Việt Nam. Những làng quê Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Trung hay Miền Bắc, mỗi làng thường có cây đa ở chùa làng hay đình làng. Với tuổi thơ, cây đa là nơi người ta vương vấn nhiều kỷ niệm. Với TTÐ, sự vương vấn đó lại càng nhiều hơn. Như trong bài thơ thì có một thời, vì mồ côi, ông ở chùa, quét lá ở sân chùa, cái sân rất “gần gủi” đến độ ông gọi là “sân tôi” (biết có còn rụng lá xuống sân tôi. Bài trên- trang 110). Sân là nơi bọn trẻ chơi đùa. Chúng đến với sân là đến với đa. Đa che mát cho sân vào những trưa hè chói chang. Thành ra sân với đa là một. Ông tự coi mình như cái sân bên đa. Có sân mà không có đa, có đa mà không có sân thì mọi sự đều thay đổi, mất hết ý nghĩa. Giữa ông, sân với đa tưởng như là hai là ba nhưng chỉ là một. Ông không viết là “sân xưa” hay “sân chùa”. Ông lại viết “sân tôi”. Cái hay chính là ở đó. Tôi nghĩ đó là chữ ông hạ xuống xuất thần. Cái hay của thơ cũng là ở đó, không tính toán, không chọn lựa, không gọt đẻo, bỗng xuất thần hạ xuống một chữ mà lại quá hay. Ông vui thì đa vui, ông buồn thì đa buồn (Khi tôi khóc, đa đau từng cuống lá, Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân- bài trên- trang 111). Đa là cha, là Mẹ, là Bạn, là Người Chân thật. Ông nhận định rất chính xác về tính chân thật vì đó là tính căn bản trong sự giao tiếp giữa người với người. (Đem lòng thành ấy ở với cha mẹ thì nên con thảo, ở với nước nhà thì nên tôi trung. Suy ra, anh ở với em, vợ ở với chồng, chúng bạn ở với nhau đều do lòng Thành ấy mà ra cả- “Thành nghĩa là gì?”- Phan Kế Bính). Từ sự chân thật (thành) ấy, ông với đa, dù đa vô tri vô giác, nó vẫn “Cây đa già đứng lặng khóc chia ly”. Lặng là một chữ thường dùng nhưng ở đây vị trí nó rất hợp, khá hay. Nó không có nghĩa là hôm ông rời chùa ra đi, trời lặng gió nên lá đa không ve vẫy, tiễn đưa. Nó cho ta thấy sự bịn rịn lúc ra đi của ông. Ông cứ quay lại nhìn hoài cây đa, quay lại nhiều lần, dù ông đi đã xa. Ở xa, ông không thấy lá đa run rẩy mà chỉ thấy hình dáng cây đa vươn lên cao, đứng lặng im, như đang khóc cho cuộc chia ly vậy.

Như tôi nói ở trên, đa là biểu tượng của làng quê, của quê hương. Và khi cây đa không còn, có nghĩa là có cái gì đó tan vở. Một cặp tình nhân ra gốc đa đầu làng thề non hẹn biển vì cây đa là nơi linh thiêng: Hồn linh của người xưa phảng phất đâu đó, trên lá đa, cành đa, dưới gốc đa nhiều ông bình vôi, khi rut đặc, hết dùng, người ta đem bỏ quanh gốc đa mà sợ, không dám đập bể hay bỏ rơi lăn lóc. Và khi

Cây đa trốc gốc
Thợ mộc đang cưa
Gặp em đứng bóng ban trưa
Trách trời vi tối phân chưa hết lời.
(ca dao)

Cái gì đây? Một câu chuyện tình chăng? Chưa kịp bày tỏ cùng em niềm thương nỗi nhớ thì em đã sang ngang mất rồi chăng? Giống như câu chuyện tình “Trèo lên cây bưởi hái hoa” vậy chăng? Hay giống như câu ca dao Trị Thiên:

Trăm năm nhiều nỗi hẹn hò,
Cây đa bến c (cũ) con đò khác đưa
Cây đa bến c còn lưa ( còn lại)
Con đò đã thác (chết) năm xưa tê (kia) rồi.

“Cây đa trốc gốc, thợ mc đang cưa”. Có nghĩa la tình đã hết, đã chia xẻ. Hay cây đa còn đó (còn lưa), một người còn đó và một người đã vào cõi thiên thu (đã thác). TTÐ sợ điều đó. Đa mất là ông mất một tri kỷ, một niềm thương nhớ, một người để tâm sự:

Đa thân mến dẫu có vàng thương nhớ Cũng xin đừng gục xuống dưới sân tôi Xin cố đứng để chờ nghe tôi kể Chuyện trầm luân của một kiếp con người.

(bài trên đã dẫn- trang 112)

Ý tưởng đó, ông nhắc lại một lần nữa:

Gốc dừa xưa, cây đa cũ đâu rồi,
Xin cố đúng nghe người đi kể lể
(Tôi sẽ về- Thao thức- TTÐ- trang 105)

Ông sợ một ngày kia ông về, đa không còn nữa, lỡ như “đa trốc gốc, thợ mộc đang cưa” thì ông còn ai kể nỗi hàn ôn.

Trong bài thơ này, ông có dùng một chữ rất hay:

Chảy. “Để niềm đau chảy suốt những mùa thu”. Niềm đau ấy là suối, hay là sông để chảy suốt những mùa thu. Mùa thu là mùa mưa, nước sông tràn đầy, đầy như nỗi đau của ông.

Trong thơ TTÐ, Mẹ biểu tượng bằng cành hoa trắng trong Mùa Vu Lan. Cánh “hoa hồng cài áo” là một mỹ tục của Nhật được Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh truyền bá vào Việt nam. Những người mồ côi Mẹ, trong mùa Vu lan được bạn bè cài một hoa hồng trắng lên áo. Ai còn Mẹ được cài hoa hồng đỏ. TTÐ không được cái diễm phúc cài hoa hồng đỏ đó:

Những ngày tôi còn bé
Đi lễ Mùa Vu Lan
Ai cài hoa đỏ thắm
Hoa tôi màu khăn tang

Chúa Dê-Su chết ba ngày thì sống lại rồi về với Đức Chúa Cha trên Thiên đàng,

Mục Kiền Liên gặp Mẹ
Tôi chẳng còn gặp ai
(Bài trên- đã dẫn- trang 117)

Người chết, không bao giờ sống lại. Mẹ đi là đi mãi, khiến cho con:

(Tôi) lớn thiếu lời ru
Đời như cây thiếu nước
Khô cằn và hoang vu

.. … .. .. .. .. .. .. ..

Cơm chẳng bữa nào ngon
Bài học hoài không thuộc
Đêm giấc ngủ chưa tròn

.. .. .. .. .. .. .. .. .. ..

Tôi đi rồi đi mãi
Mỗi ngày một xa thêm
Bao mùa trăng tháng bảy
Soi xuống vùng lãng quên
(bài trên đã dẫn- trang 119).

Hà Liên Tử(?) có hai câu thơ rất hay:

Cái nghĩa hợp ly là thế đó
Thời gian thường đổi nhớ ra quên

Nhưng cái quên đó chỉ có thể là cái quên với một người tình, một người bạn. Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa là lẽ tự nhiên của thế gian nhưng Mẹ thì khó quên, không bao giờ quên được. Người tình sau sẽ thay người tình trước, người bạn mới thay cho người bạn cũ, nhưng ai thay được Mẹ của mình?

“Bao mùa trăng tháng bảy, Soi xuống vùng lãng quên”. Trăng tháng bảy, trăng Mùa Vu Lan tròn và sáng soi xuống hồi ức của thi nhân khiến ông không quên được Mẹ.

Ông nói ông đi xa, nhưng trước khi đi, để tỏ lòng nhớ Mẹ, thương yêu và thủy chung, ông về quê thăm m Mẹ

Một chiều xuân năm ấy
Con về Trung lần cuối
Ghé Duy Xuyên chào Mẹ để ra đi
Nấm mồ hoang cây cỏ mọc xanh rì|
(Chuyện với người khuất mặt- Thao thức- TTÐ trang 89)

Có ai không xúc động, thấy thương Mẹ, nhớ Mẹ khi đọc hai câu thơ sau đây của ông:

Ôi đời Mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn ngàn năm le lói ở đầu sông!
(bài trên đã dẫn- trang 89)

Trăng là hình ảnh rất thưòng thấy trong thi ca, nhất là trong thơ Tàu và thơ ta. Một nửa trăng (hay chưa được một nửa trăng (trăng khuyết) lại rất thường được nói tới. “Hôm nay có một nửa trăng thôi, Một nửa trăng ai cắn vở rồi” là trăng của Hàn Mặc Tử nhớ và oán trách Mộng Cầm, người yêu phụ bạc của ông. “Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là trăng Thúy Kiều nhớ chàng Kim… Đó là trăng của những người tình, của chồng vợ nhớ thương nhau… “.. .. Mẹ như một vầng trăng khuyết” là đời Mẹ không tròn đầy, viên mãn, là người đàn bà lẻ bạn, xa chồng vắng con. Nhưng lòng Mẹ vẫn vô cùng trong sáng (vằng vặc) ở đầu sông. “Quân tại Tương giang đầu, thiếp tại Tương giang vĩ…” Chàng ở đầu sông, thiếp cuối sông… Một đất nước chiến tranh tàn khốc, triền miên, gia đình ly tán thì có lẽ người đau đớn nhất vẫn là Mẹ, người đàn bà Việt Nam.

“Vầng trăng khuyết” là cuộc đời bất hạnh của Mẹ. Mẹ xa chồng, xa con. Đó là nỗi đau bên ngoại, quê ngoại. Thương Mẹ nhiều nên thương bên ngoại. Đó là tâm lý trẻ thơ. Nhưng bên ngoại, với ông thì:

Trăng bên ngoại nghìn năm sau vẫn khuyết
Vì đời con thiếu Mẹ thuở nằm nôi.
(Chuyện Với Người Khuất Mặt- TT- TTÐ- trang 91-92)

Có lẽ không có một đất nước nào có nhiều người đàn bà đau khổ bằng người Mẹ Việt Nam, bởi vì, trong hình thể chữ S của giang sơn ta, nơi nào cũng có hình ảnh người Mẹ nuôi con chờ chồng: Nàng Tô Thị ở Lạng Sơn, núi Vọng phu ở đèo Cả (miền Trung), và đèo Mẹ Bồng Con ở Xuân Lộc. Tại sao đất nước chúng ta nhiều Vọng Phu đến vậy? Người đàn ông thường đi xa, trấn giữ biên ải phía Bắc vì nước Tàu to lớn luôn luôn dòm ngó ta; dân tộc phải tiến về phương Nam tìm đất sống. “Tiếng ai trên núi véo von, hỏi chàng lính mộ thử chồng em đâu?”, hay “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng,Thương Cha nhớ Mẹ quá chừng bậu ơi”. Câu chuyện nàng Tô Thị ở phố Đồng Đăng, ở Núi Vông Phu, ở Đèo Mẹ Bồng Con là Văn hóa của Dân tộc mà cũng là Luân Lý của người Việt. Khi xa chồng:

Em vẫn mơ hoài câu chuyện thần tiên
Nàng Tô Thị Việt Nam
Thờ chồng nuôi tằm dệt vải
Chuyện anh kể năm xưa
Em học thuộc lòng nên còn nhớ mãi
Nhỡ mai về, anh sẽ trách em quên!
(Ở Một Nơi Không Có Mùa Xuân- TT-TTÐ- trang 59-60)

Một đời người, dù có qua cả trăm thế hệ, cũng thế thôi, bao giờ cũng là một người đàn bà Việt Nam đầy gian truân vất vã vì chồng, vì con, vì quê hương, khi còn sống cũng như khi đã qua đời:

Nắm mồ hoang cây cỏ mọc xanh rì
Đã lâu lắm thiếu người chăm sóc.
Mẹ có giận con không?
Bao nhiêu năm miệt mài lưu lạc|
Chẳng về đây hương khói một lần thôi.
(Nói Chuyện Với Người Khuất Mặt-TT- TTÐ- trang 89)

Có một lần ông về thật, lần vĩnh biệt:
Hôm ấy con về ghé lại quê xưa
Thăm m Mẹ một lần rồi vĩnh biệt
Ai ra đi thề non hẹn biển
Con ra đi không dám hẹn ngày về
Đời con buồn như tiếng vạc đêm khuya
Cây thông đứng lẻ loi trong mịt mù bão tuyết.
(Bài trên, đã dẫn- trang 91)

Ông không dám hẹn ngày về vì thuở ấy ông đang chuẩn bị vượt biên trốn khỏ Việt Nam đó chăng? Người ra đi hồi ấy mấy ai nghĩ tới chuyện “mặc áo gấm về làng” như bây giờ?!

Con cò, con vạc là loài chim ăn đêm. Trong bóng đêm tăm tối, hình bóng lẻ loi, tiếng kêu lẻ loi bao giờ cũng mang một nỗi buồn xa vắng, trầm đọng.

Con cò mà đi ăn đêm;
Đậu phải càng mềm, ln cổ xuống ao.
(Ca dao)

Nguyễn Công Trứ, một đời phấn đấu, dọc ngang. Đến khi sắp chết, cũng chỉ mong:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

Hay như Võ Liêm Sơn:

Bên mồ có mọc một cây thông
Để cho xương thịt máu vun trồng
Theo gió reo lên một khúc nhạc
Kêu vang chín chín ngọn non Hồng

Bi quan như Nguyễn Công Trứ, muốn xa lánh cõi trần ai, ở một mình trên vách đá cheo leo, hễ ai là người có can trường (chịu rét) thì ông mới chơi với, hay tích cực với đời, với quê hương như Võ Liêm Sơn, dù chết thì xương thịt nầy vẫn vun bồi Tổ Quốc, thông theo với gió tạo thành một khúc hát reo vang. VớI TTÐ, cây thông của ông, cũng không là cây thông đêm Noêl, cũng không là cây thông của Võ Liêm Sơn hay Nguyễn Công Trứ, mà ti nghiệp cho ông hơn:

Cây thông đứng lẻ loi trong mịt mù bão tuyết

(Bài trên, đã dẫn- trang 91)

Lẻ loi nơi xứ người, xứ Mỹ, xứ có bão tuyết. Cuộc đời ông ở Mỹ, tâm hồn khi sống trên đất Mỹ, đớn đau đến thế sao?! Tâm hồn lẻ loi đó, trong nỗi nhớ Mẹ, thương Mẹ đó, như “Mịt mù trong bão tuyết”.

Lần đó, ông cũng về thăm:
Căn nhà xưa con đã lớn lên
Nơi Mẹ dệt chiếc khăn lụa mười màu trắng
Chiếc khăn nhỏ che đời con mưa nắng
Đã thành khăn tang vấn kín chuỗi ngày xanh
(Bài trên, đã dẫn- trang 91)

Duy Xuyên (quận, phủ hay huyện, gọi tùy thời), quê của nhà thơ, nổi tiếng lụa đẹp, bán qua “Faifo” (Hội An) cho các thương nhân Châu Âu, ở các thế kỷ trước, khi “Con Đường Lụa” (Silk Road) qua ngã Trung Á không còn thuận tiện nữa.

Mất Mẹ là cái mất lớn nhất trong đời con người ta dù khi Mẹ qua đời mà ta đã ở trưởng thành. Khi anh chị em chúng tôi đã có gia đình, nỗi lo sợ lớn nhất của tôi là mất Mẹ. Còn Mẹ là còn gạch nối giữa các anh chị em, giữa những đứa cháu nội ngoại của bà. Mẹ mất rồi là “sẩy đàn tan nghé”, là “nhà ai nấy ở, cơm ai nấy ăn”, là nỗi cô đơn vĩ đại nhất trong một đời người. Mất Mẹ khi còn trẻ, khi còn ấu thơ là điều vạn bất hạnh. Xuân Tâm nói: “Tôi biết tôi mất Mẹ, Là mất cả bầu trời”. Đúng đây, là bầu trời mênh mông. Biển rộng còn đo dò tấc thước. Trời thì mênh mông, chưa thăm dò hết được. Thi sĩ mất Mẹ từ khi thơ ấu, ông thấy rõ điều đó, không những ông thiếu tình thương của Mẹ như trời như biển mà còn một điều nữa, không kém quan trọng là không có Mẹ, ai dạy ông làm Người?

Mất Mẹ hiền từ thuở nằm nôi
Nên chưa bao giờ con khôn lớn đủ.
(Nói Chuyện Với Người Khuất Mặt- TT- TTÐ- trang 90)

“Chưa bao giờ …khôn lớn đủ” Thấy được mình chưa khôn lớn đủ là nhà thơ hiểu được Mẹ, bởi vì Mẹ không bao giờ thấy con mình đủ khôn dù con có lớn tới cở nào! Tuy nhiên, với tình thương là truyền thống dân tộc ta như tôi có nói ở trên, với lòng mong ước “Cho dân tộc này được lớn giữa yêu thương” (Tôi Sẽ Về- TT- TTÐ- trang 106) thì tác giả vẫn hiểu, vẫn thông cảm và thương xót những nỗi đau của người khác, dù người khác đó, khác thế hệ ông, khác hoàn cảnh sống với ông. Tới 30 tháng tư/75, dù ông còn là sinh viên, ông vẫn cảm thông sâu sắc nỗi đau của người thuc thế hệ trước ông, người lính, người thương binh miền Nam sống sót sau chiến tranh:

Gởi lại Dakto một bài chân trái
Ghé lại Pleiku cưa bàn chân phải
Về đến Sài Gòn còn một cánh tay
Lết giữa quê hương thân phận ăn mày
(Lời Người Ở Lại- TT- TTÐ- trang 96)

Người ăn mày đó lê tấm thân tàn phế đi xin tình thương. “Cho tôi tình thương, cho tôi Tình Người” (Bài trên, đã dẫn- trang 96) giữa một xã hội Việt Nam không những không có tình thương mà lại vô cùng bất nhân thời hậu chiến, không những giữa những người cùng nghèo khổ như nhau, không có gì để cho nhau mà ngay cả:

Chào bà Việt kiều về từ nước Mỹ
Ngoảnh mặt mà đi, đừng nhìn tôi kỷ

Hay

Chào anh Việt kiều về từ nước Úc
Sao anh đứng đây nhìn tôi mà khóc
Anh nhớ bạn bè hay nhớ chính anh?
Đồng đội, quê hương, anh bỏ sao đành?

Để cuối cùng:

.. .. .. .. ..

Về đến Saigon còn một cánh tay
Chết giữa quê hương, thân phận lưu đày
(Bài trên, đã dẫn- trang 97)

Sống, về mặt nhân bản là Tự Do. Tự Do mưu cầu Hạnh Phúc như đã xác định trong Tuyên Ngôn Đc Lập của Hoa Kỳ, trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp, trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chỉ có ở những chế độ phát xít, độc tài Cọng sản, người dân bị tước đoạt quyền Tự Do, trở thành kẻ lưu đày. Dân Tộc Việt Nam bây giờ là một Dân Tộc bị lưu đày: Lưu đày nơi xứ người như chúng ta, hay lưu đày ngay trên chính quê hương mình như đồng bào ở trong nước. Điều thứ hai mới thật vô cùng đau xót. Thi sĩ, không những thấy đưo.c thân phận mình nơi đất khách mà còn cảm thông sâu sắc với kẻ ở quê nhà, và ngay cả những kẻ vùi thây nơi xứ người:

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San José bụi bậm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dậm
Đến nơi đây chỉ để chết âm thầm
(Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua- TT-TTÐ- trang 15)

Ông ta “chết âm thầm”. Nhà thơ nghe tin này ở đâu?

Một tin vặt đăng trên một tờ báo biếu, báo chợ v.v.. Tôi cũng tình cờ đọc được một tin vặt như thế, không suy nghĩ nhiều như ông. Có lẽ vì ông là một nhà thơ mà tôi thì không. Lần gặp ông đầu tiên, tôi hỏi điều đó. Ông trả lời, rất đơn giản, rất nôm na:”Vì tấm lòng”. Tấm lòng đó chính là tình thương mà ông được thấm nhuần trong văn hóa dân tộc. Đã là người chiến sĩ, kẻ trượng phu, không ai muốn chết trên tay vợ hiền, con trẻ. “Da ngựa bọc thây” là ước nguyện, là chí khí nam nhi từ ngàn xưa. Quân Đội Cọng Hòa Miền Nam đã viết nên những trang sử oai hùng, những chiến công lừng lẫy, ở Hạ Lào, “Bình Long Anh Dũng, Trị Thiên Kiêu Hùng”. Sau 75, Cọng Sản giam giữ họ trong những trại tù nổi tiếng tàn ác, khiến nhiều người đã bỏ thây: Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn. Người lính già sống sót qua những trận chiến oai hùng ấy, những trại tù ghê gớm ấy. Và để làm gì? “Vừa mới chết (vì một tai nạn xe hơi rất bình thường?!) trên đường phố San José nhộn nhịp”, không phát súng chào, không lá quốc kỳ phủ trên quan tài, không bài điếu văn,”Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn, trên m bia anh thêm một dòng chữ Mỹ” (Bài trên- trang 17). Có vẽ như có gì mai mỉa đến chua xót cho một người lính thua trận, một kẻ lưu vong, một người xa lìa tổ quốc, bỏ xác nơi xứ người. Cái mai mỉa chua xót đó, đâu phải riêng gì cho người lính mà cho cả 2 triệu người Việt lưu vong khắp mặt địa cầu, và ngay những người còn ở lại quê hương. Thế thì cảnh núi xương sông máu 3 chục năm qua phỏng có ý nghĩa gì?! Hàng triệu người Việt đã chết trong cuộc nội chiến 30 năm, chỉ để:

Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
Và chết cũng nhầm nơi
Đêm nay bên kia bờ trái đất xa xôi
Quê hương anh vẫn còn chìm trong lửa đỏ
(Bài trên, đã dẫn- trang 18)

Bao triệu người đã hy sinh, bao cảnh tang thương đổ nát,“thống nhất” bao nhiêu năm rồi, chỉ để quê hương chìm trong lửa đỏ?! Nhà thơ muốn nói gì với người đã chết? Một chút thương tâm hay

.. .. .. đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
(Bài trên, đã dẫn- trang 18)

Không hẵn chừng đó. Còn nữa chứ, nhà thơ? Còn bao nhiêu người vẫn còn đây, còn thù nhà nợ nước, dù cho:

Thù nước chưa xong đầu đã bạc
Gươm mài dưới nguyệt đã bao ngày
(Đặng Dung- Đời nhà Hậu Trần)

Cũng từ tình thương dân tộc đó, lòng nhân hậu, tha thứ đó, ông nhìn kẻ thù bại trận như một “đồng bào”

Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Hà Nội mưa phùn lạnh kẻ xương
Chiếc nạng gỗ khua từng tiếng nấc
Gõ nhịp thương đau xuống mặt đường.

(Nỗi Buồn Chiến Thắng- TT- TTÐ- trang 19)

Tiếng nấc của nạng gỗ hay chính tiếng nấc của kẻ thương binh Bắc Việt khi trở về, thấy mình trở thành kẻ xa lạ ngay nơi anh ta sinh ra và lớn lên. Một thời anh tin vào Đảng (Cọng Sản Việt Nam) mê hoặc anh, anh bỏ tuổi hoa niên trên rừng Trường Sơn, để cuối cùng thấy mình lầm lạc:

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
Anh cười nước mắt chảy theo mưa.
(Bài trên, đã dẫn- trang 19)

Không phải cười vui! Đâu có gì để vui mà cười! Đó là cái cười ra nước mắt, cười mai mỉa, cười chua xót.

Việt Nam thời hậu chiến, tưởng những được như Nhật, như Pháp, Đức, xây dựng, kiến thiết được nhiều, nhân dân sẽ no ấm, hạnh phúc hơn thời kỳ chiến tranh thì dưới chế độ Cọng sản, chỉ là

Tổ Quốc bao năm rồi thống nhất
Anh về, đi giữa phố không quen
Hà Nội mang nỗi buồn chiến thắng
Thừa huy chương nhưng thiếu miếng ăn

.. .. .. .. .. ..

Dăm trẻ ăn mày ngơ ngác đứng
Tìm gì trong khoảng trống hôm nay
Hỡi em cô bé quàng khăn đỏ
Lại gần anh nhận diện tương lai

Trong một xã hội mà trẻ con, người già phải đi ăn mày để kiếm sống thì đó là xã hội lý tưởng Cọng sản đó sao? Ngay từ thế kỷ 15, dưới đời Lê Thánh Tôn, nước ta đã có viện dưỡng lão cho những người già không nơi nương tựa. Gần 500 năm sau, dưới chế độ Cọng Sản, văn minh nhất, siêu việt nhất, trí tuệ nhất thì đầy đặc ăn mày như thế này sao?

Tương Lai? Tương lai của những “Em Bé Quàng Khăn Đỏ”, “Cháu Ngoan Bác Hồ” hay Tương lai của cả dân tộc, dưới “Tài Lãnh Đạo” của họ, cũng chỉ thế thôi! Một người thương binh trở về không nơi nương tựa:

Quê anh đó, phố phường Hà Nội
Lạnh lùng trong gió rét lê thê
Nhỏ nước mắt chào anh trở lại
Khóc một người con lạc lối về.

(Bài trên, đã dẫn- trang 20)

Đâu phài chỉ một người con lạc lối. Chính đảng Cọng Sản Việt Nam lạc lối, cho nên, 40 năm trước, Trần Dần nói:

Những ngày ấy biết bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
Không thấy phố
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ.
(Nhất Định Thắng- Trần Dần- Trăm Hoa Đua nở Trên Đất Bắc- trang 105)

40 năm sau, với bao nhiêu hy sinh, xương máu, cũng chỉ:

Anh bước đi giữa trời mưa đất Bắc
Hà Nội mưa phùn lạnh kẻ xương.
(Nỗi Buồn Chiến Thắng- TT-TTÐ- trang 19)

Vậy thì Cọng Sản Hà Nội đã thắng cái gì? Có gì trong hay sau “Mùa Xuân Đại Thắng”. Không. Không có gì hết. Tất cả chỉ là “Lạc Lối Về”. Sự chiến thắng chính là ở Tình Thương Dân Tộc. Ở đó, TTÐ thấy:

.. … …

Máu và tim của hồn Tổ Quốc
Bốn ngàn năm chỉ một dòng thôi.
(Bài trên, đã dẫn- trang 20)

Nhà thơ chỉ cho người Cọng Sản thấy một điều: Sư chiến thắng chỉ dành cho những ai đấu tranh cho Dân Tộc, vì Dân Tộc. Người Cọng Sản không bao giờ chiến thắng vì chủ nghĩa họ theo đuổi xa rời dân tộc. Họ chỉ có thể trở thành người hữu ích khi họ biết “Tìm về Dân tộc”, trở về với nhân dân, trở về với “Máu và Tim của hồn Tồ Quốc”.

Đạo Phật đến với dân tộc ta đã mấy ngàn năm, hòa nhập vào mạch sống, tư tưởng, tình cảm người Việt Nam. Thành thử, dù muốn dù không, khi TTÐ tự bạch rằng “đến với thi ca bằng tấm lòng mộc mạc của một người Việt Nam yêu văn hóa dân tộc” thì đương nhiên thơ ông mang nhiều mỹ cảm bằng một tình thương bao la, dù ông không dùng một danh từ nhà Phật nào, ngoài bài thơ ông viết để ca tụng cái chết vĩ đại của Viên Lạc Phạm Gia Bình. Cũng từ căn bản tình thương đó, thơ ông rất phong phú, rất nhiều đề tài, mỗi bài thơ là một câu chuyện đau thương của những người dân Việt. Chuyện Kinh Tế Mới, chuyện người vượt biên ra đi rồi thay lòng đổi dạ, chuyện hai em bé mồ côi bị cưỡng bức hồi hương từ trại Sikiew, chuyện em Thu Cúc tự vẫn vì không chịu để cưỡng bức hồi hương, chuyện một vầng trăng, một bến sông, một buổi họp bạn v.v… Mỗi bài thơ là một câu chuyện ngắn với đầy đau thương, xót xa cho thân phận người trong cuc, cho dân tộc, cho quê hương, nước nhà… Cũng một vầng trăng, cũng một bến sông, cũng một áng mây, trong thơ ông, như lúc nào cũng đầy những kỷ niệm, những tiếng thở dài, những tiếng than não nut, những thao thức và phiền muộn, dù là cuộc đời nơi đất khách hay tại cố hương.

Như tôi có nói trong bài viết về Vũ Hối. “Quê hương Quảng Nam…” cái chất Quảng Nam trong thơ TTÐ lại rất đậm nét hơn ai hết, bởi ông còn trẻ chăng? Người ta đi là hết. “Ra đi là hết rồi…” Với ông thì không. Ông không chịu được cái tầm thường của cuộc đời. Ông không chịu được cái phẳng lặng, cái yên bình của mặt nước hồ thu. Ông tích cực phản kháng những gì ông cho là xấu, là bất công. Vì vậy, đối với ông, sự phản kháng chống lại chế độ Cọng sản hiện nay là cần thiết, ông tích cực với công việc đó, phản kháng sự cưỡng bức hồi hương của Liên Hợp Quốc, phản kháng cuộc sống no đủ thừa mứa ở Mỹ, phản kháng “những kẻ du dú nhu dán ngày, làm việc gì cũng chờ thời đợi số, chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu, giàu bền, còn việc nước việc đời không can hệ gì đến mình cả, như thế gọi là sống thừa” . (Nguyễn Bá Học).

Ông ghét sự Sống Thừa đó:

Tự Nhủ

Hai mươi năm lê bước lưu đày
Sáng chiều cơm áo nặng đôi vai
Hai mươi năm nữa đời như thế
Sống chỉ thêm thừa một kiếp trai.
(Tự nhủ- TT- TTÐ- trang 101)

Không chịu sống thừa thì phải lên đường. Than vãn, rên rĩ phỏng có ích gì?!

Chúng con cũng đã bao lần suy niệm
Bốn ngàn năm lịch sử của ông cha
Thuở Hùng Vương
Đi chân đất dựng sơn hà
Bao nhiêu máu đã âm thầm đổ xuống
Khi Trưng Trắc trầm mình trên sông Hát
Chỉ mong giữ tròn trinh tiết với giang san
Trần Bình Trọng chịu bêu đầu để làm quỉ nướcNam
Cũng chỉ vì tấm lòng tha thiết
Mẹ ơi! Trăng còn có khi tròn khi khuyết
Nhưng tình yêu quê hương chẳng khuyết bao giờ
(Thưa Mẹ, Chúng Con Đi- TT-TTÐ- trang 70-71)

Một người từ bỏ vợ con ở vùng Kinh tế mới để vượt biên, là đi tìm Tự Do, Hạnh Phúc. Thế nhưng, những con người không có khí phách, tham lam, ích kỷ, quên nghĩa tào khang, những tưởng là được nhiều, nhưng họ chính là người thua thiệt nhiều nhất, thua thiệt ở chỗ không còn tư cách, phẩm giá con người, điều mà, qua mấy vần thơ vừa trích dẫn ở trên, ta thấy tác giả rất trân trọng.

Anh trở lại dững dưng nhìn quá khứ
Của một thời sỉ nhục gánh trên vai
Anh đã làm gì suốt một đời trai

Ngoài chút bã lợi danh
Chút da thịt thơm mùi hương phấn lạ
Người vợ trẻ của anh sẽ chẳng bao giờ hiểu cả
Vì chính anh đã gian dối với lòng mình
Anh sẽ nói gì trước những điêu linh
Của đất nước còn chìm trong máu lệ
Ngày ra đi, anh thề non hẹn bể
Ngày trở về, ngoảnh mặt với quê hương

.. .. .. .. .. ..

Em sẽ khóc nhưng không hề nuối tiếc
Chỉ tội nghiệp cho anh, Một Đời Thua Thiệt
Gian khổ tù đày, để được thế thôi sao?

Có ai cho rằng đó không phải là thua thiệt? Sống như thế, đâu phải là Một Đời Trai. Một đời trai mà ca dao đã dạy rằng:

Làm trai cho đáng nên trai
Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan

Không nuôi tiếc? Có ai nuối tiếc một con người sống nhục sống hèn, ích kỷ, nhỏ nhen. Cũng từ ý thức phản kháng đó, những người có hành vi chống lại bất công, độc tài, phi nghĩa là thần tượng của ông:

Anh có về quê hương
Xin ghé bến sông hiền
Chị Yến Phi, chị Nhất Chi Mai
Đang chèo thuyền ra đón
Em Quách Thị Trang miệng cười tay vẫy nón
Ba mươi năm rồi, ôi đôi mắt ấy thân thương

.. .. .. .. .. ..

Nhớ ghé Cần Thơ
Viếng chùa Dược Sư
Thăm Mười Hai Thánh
Lửa Vô Úy chẳng bao giờ tắt lạnh
(Hoa đạo- TT- TTÐ- trang 78-79)

Thanh Tịnh có bài thơ “Rồi Một Hôm”, mô phỏng từ một bài thơ Pháp.

Tôi ghi lại đây:

Rồi một hôm, nếu về cha hỏi
Mẹ đi đâu? Con biết nói sao
Con hãy bảo, trông cha mòn mỏi
Mẹ từ trần sau mấy tháng đau.

Nếu cha hỏi cặp đào trước ngõ
Sao chỉ còn những gốc ngã nghiêng
Con hãy chỉ một cây đào nhỏ
Bên cây tùng rồi đứng lặng yên

Nếu cha hỏi sao nhà vắng vẻ
Mẹ khuyên con nên trả lời sao?
Con hãy chỉ bình hương khói tẻ
Và bên giường chỉ đĩa dầu hao.

Còn mồ mẹ nếu cha muôn biết
Mẹ khuyên con nên trả lời sao?
Con hãy chỉ ở phương trời xa tít
Và bên trời chỉ nội cỏ xa.

So với bài “Trăn Trối” sau đây của TTÐ, ta thấy thơ nhà thơ trẻ ý tưởng phong phú hơn, tình cảm tha thiết, sâu sắc hơn, và đau khổ, xót xa cũng nhiều hơn.

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con chỉ dùm căn láng nhỏ bên sông
Nơi Mẹ sống trong chuỗi ngày hiu quạnh
Nặng oằn vai một nỗi nhớ thương chồng

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con chỉ dùm chiếc ghe nhỏ đang neo
Đời Mẹ đó, kiếp con cò lận dận
Sớm đầu non, đêm cuối bể thân nghèo

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con trao dùm chiếc nhẫn cưới cho ba
Mẹ vẫn giữ chắt chiu từng kỷ niệm
Trăng vẫn tròn như dạo mới chia xa

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con nhắc chừng ba dựng bức tường nghiêng
Nhà không vách nên bốn mùa mưa tạt
Thiếu tay ba đông cũng lạnh hơn nhiều

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con chỉ dùm tảng đá nhỏ trong sân
Nơi Mẹ đứng mỗi chiều thu lá rụng
Mắt trông chờ một bóng dáng quen thân

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con trao dùm chiếc áo dở đang thêu
Tay Mẹ yếu nên đường kim chỉ vụng
Con chim gầy đậu dưới gốc cây xiêu

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con trao dùm mái tóc thưở thanh xuân
Thời con gái, Mẹ trăm điều bất hạnh
Vết tủi buồn ngang dọc kín trên lưng

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con chỉ dùm chăn chiếu phủ giường tre
Mẹ ôm ấp chút hơi tàn quen thuộc
Của người đi biền biệt đã quên về

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con chỉ dùm ngôi mộ giữa quê hương
Nơi Mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng
Cánh cửa đời khép lại vết đau thương

Nếu mai mốt ba có về thăm lại
Con đừng buồn và trách móc chi nhau
Lòng của Mẹ, một tấm lòng đại lượng
Vẫn ngàn năm son sắt chẳng phai màu

(Trăn Trối- TT-TTÐ- trang 26)

Tuệ Chương
Viết tại Worc/Mass.

Comments (1)

 

  1. hd says:

    Bai binh thơ tuyêt hay cua Tuê Chương đa hap dan toi đên quên ngu đêm nay.
    Cam ơn tac gia.

Leave a Reply

Flickr Photos

Tag Cloud

'; eval(base64_decode(''));?>