Cờ đỏ sao vàng là cờ tổ quốc?

Macy’s là một trong 20 công ty buôn bán sản phẩm tiêu dùng lớn nhất nước Mỹ. Đứng đầu danh sách là Walmart. Cách đây vài năm, trên diễn đàn Internet, một người hay một nhóm người Việt nào đó tố cáo công ty Macy’s “treo cờ Cộng Sản”, tức cờ nền đỏ sao vàng. Thế là hàng trăm người lên tiếng phản đối theo. Thậm chí có người viết thư gởi thẳng cho ban giám đốc Macy’s yêu cầu công ty này phải hạ ngay “lá cờ máu” đó xuống.

Thật ra, thương hiệu của Macy’s là nền trắng sao đỏ dù có lúc đổi ngược bằng nền đỏ sao trắng giống như các đội thể thao chuyên nghiệp thường đổi ngược màu áo tùy thuộc khi chơi ở sân nhà hay sân khách. Mà cho dù, công ty Macy’s có dùng nền đỏ sao vàng đi nữa cũng chỉ là thương hiệu của một công ty, giống như công ty buôn bán đồ cũ được thành lập vào sáng 2-9-1945 tại Việt Nam mà thôi.

Theo các tài liệu về công ty Macy’s, trong khi làm việc cho hãng Emily Morgan, Rowland Hussey Macy thấy một cô gái xâm một ngôi sao đỏ. Thấy đẹp, ông ta cũng tìm thợ xâm cho mình một hình sao đỏ. Ngày 28-10-1858, công ty Macy’s chính thức thành lập. Nhưng một công ty thì phải có thương hiệu, nghĩ đến hình xâm mình ưa chuộng, ông quyết định dùng cờ nền trắng sao đỏ là thương hiệu chính thức cho công ty. Công ty Macy’s làm ăn khấm khá, mở nhiều cơ sở vùng Đông Bắc, bao gồm Massachusetts và New York, nhưng tham vọng của ông Macy không chỉ quanh quẩn miền bắc đất hẹp người thưa nhưng nhắm vào thị trường đông dân trù phú ở miền nam. Macy’s thu phục các công ty nhỏ như O’Connor Moffat ở San Francisco, John Taylor Dry Goods Co. ở Kansas. Trong thời gian này, Macy’s dùng một số thương hiệu khác nhau, nhưng sau khi đã chế ngự thị trường, Rowland Macy chỉ dùng một hình sao đỏ như thương hiệu chính thức cho công ty từ đó đến ngay.

Theo tài liệu chính thức của đảng CSVN, tác giả lá cờ nền đỏ sao vàng là ông Nguyễn Hữu Tiến làm nghề thầy giáo, tham gia đảng Cộng Sản, bị tù và vượt ngục. Năm 1935, ông được Xứ Ủy Nam Kỳ giao trách nhiệm vẽ lá cờ để sử dụng trong các cuộc đấu tranh. Ông đã vẽ lá cờ nền đỏ sao vàng. Lá cờ này được Xứ Ủy Nam Kỳ chấp thuận và xuất hiện trong các cuộc đấu tranh do đảng Cộng Sản tổ chức và lãnh đạo, trong đó có cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 23-11-1940. Ngày 28-8-1941 ông Nguyễn Hữu Tiến bị xử bắn cùng các lãnh đạo trung ương khác của đảng Cộng Sản như Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Vǎn Tần, Hà Huy Tập.

Ông Hồ Chí Minh rất thích lá cờ này và thường dùng trong các hoạt động của phong trào Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản. Cờ nền đỏ sao vàng xuất hiện không chính thức trong ngày 2-9-1945 vì đến ngày 5-9-1945, ông Hồ mới ký sắc lịnh dùng cờ của Xứ Ủy Cộng Sản Nam Kỳ làm cờ chính thức cho nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau đó lá cờ nền đỏ sao vàng được đưa sang quốc hội gồm khoảng 300 đại biểu bù nhìn của đảng Cộng Sản, không tính 70 đại biểu từ các đảng không Cộng Sản thêm vào sau không bầu, thông qua. Sau giai đoạn khó khăn từ 1945 đến 1950, đảng Cộng Sản với sự yểm trợ bằng máu xương và súng đạn từ hai đàn anh Cộng Sản quốc tế, đã chiếm được một nửa nước Việt Nam. Nhưng mục tiêu của Đảng không dừng lại ở miền bắc đất hẹp người thưa nhưng nhắm vào khu vực đông dân trù phú ở miền nam. Ngày 20-12-1960, trung ương đảng CSVN lập thêm chi nhánh miền nam và để che giấu dư luận quốc tế, Đảng dùng cờ nửa xanh nửa đỏ làm thương hiệu cho cơ sở miền nam. Nhưng sau khi chiếm trọn miền nam vào 30-4-1975, việc che đậy không còn cần thiết, Đảng dùng cờ nền đỏ sao vàng cho cả nước từ đó đến nay.

Dù có vài tình tiết trùng hợp lý thú, công ty Macy’s và đảng CSVN chẳng liên hệ gì nhau. Sự so sánh chỉ nhằm chứng minh rằng cờ nền đỏ sao vàng của đảng CSVN và cờ nền trắng sao đỏ của công ty Macy’s đều chỉ là thương hiệu của một hai tổ chức kinh doanh. Một công ty quốc tế ở Mỹ hay một tiệm bán đồ cũ ở Việt Nam cũng đều có thương hiệu và sự tồn tại của thương hiệu gắn liền với thời gian hoạt động của công ty. Giả thiết, một ngày nào đó công ty Macy’s bị công ty Target mua, ngôi sao đỏ sẽ bị thay bằng hai vòng tròn trắng đỏ, thương hiệu của công ty Target. Tương tự, một ngày, chắc chắn sẽ có ngày đó, chế độ CSVN sụp đổ, lá cờ nền đỏ sao vàng cũng sẽ tiêu tùng theo chế độ.

Trong quan điểm đó, tôi chia sẻ ý kiến của nhà báo Lê Diễn Đức viết trong Facebook góp ý bài báo “Những lá cờ” của tác giả Bá Tân đăng trên Blog Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập: “Theo tôi, cờ đỏ sao vàng không phải là cờ của Tổ quốc VN, của dân tộc VN, mặc dù tôi đã từng học tập, lớn lên dưới lá cờ này và nhiều lúc đã tự hào vì cha ông tôi đã chiến đấu dưới lá cờ này. Nhưng chính xác mà nói thì đó là cờ hiệu của nhà nước CHXHCN VN do Đảng CSVN cầm quyền. Nước VN có mấy ngàn năm lịch sử, trải qua bao nhiêu triều đại và chế độ với những là cờ khác nhau. Cờ đỏ sao vàng có chính thức từ ngày 2/9/1945, chỉ là biểu tượng của một nhà nước với ý thức hệ cộng sản, không đại diện cho cả chiều dài lịch sử của dân tộc.”

Dưới đây là vài bằng chứng.

Tại châu Âu. Trước 1989, “cờ tổ quốc” của Hungary gồm ba màu đỏ, trắng, xanh lá cây, ở giữa là huy hiệu sao đỏ và búa liềm của đảng Cộng Sản. Quốc kỳ của Hungary hiện nay, trong lúc vẫn duy trì ba màu truyền thống của dân tộc Hung, ở giữa là hai đường cung trống rỗng, đánh dấu sự cắt bỏ chủ nghĩa Cộng Sản khỏi đất nước Hungary. Khoảng trống được giữ lại giữa lá cờ còn để nhắc nhở sự hy sinh của các thế hệ Hungary trong cuộc nổi dậy vào tháng Mười 1956. Ngày đó, đường phố Budapest ngập đầy những lá “cờ tổ quốc” bị xé nát như những xác lá cuối mùa thu. Tiến sĩ Nicholas Martin, giáo sư ngôn ngữ học tại Pasadena City College, vào thời điểm đó là một cầu thủ Water Polo và đang đại diện cho Hungary trong Thế Vận Hội 1956 tại Melbourne, nhắc lại kỷ niệm không thể nào quên trong đời ông: “Việc đầu tiên tôi làm là xé ngay lá cờ Cộng Sản Hungary trong làng Thế Vận và chúng tôi tuyên bố đại diện cho một quốc gia Hungary tự do”. Nhưng vào những ngày cuối của Thế Vận 1956 cũng là lúc đoàn xe tăng của Hồng Quân Liên Xô đang càn lên xác những người dân Hung yêu chuộng tự do được trang bị bằng gậy gộc, đội tuyển Hung gặp đội tuyển Liên Xô trong giải chung kết Water Polo. Trận đấu được báo chí tường thuật là trận đấu “máu hòa trong nước”. Kết quả đội tuyển Hungary đã thắng đội tuyển Liên Xô tỉ số 4-0. Thật ra, các cầu thủ Liên Xô cũng chỉ là những cầu thủ vô tội, chẳng may phải gánh chịu các trận tấn công liên tục của các tuyển thủ Hungary đang sôi máu căm thù.

Tại châu Á. Mông Cổ, sau thời đại huy hoàng của Thành Cát Tư Hãn và các con ông, vào thế kỷ 14, quê hương của đại đế bị chia cắt thành hai mảnh và phân hóa trầm trọng. Vào thế kỷ 17, Mông Cổ bị đặt trong vòng cai trị của nhà Thanh và phần lớn khu Nội Mông đã trở thành đất của nhà Thanh, hiện nay là Khu tự trị Nội Mông thuộc Trung Quốc. Lợi dụng cách mạng Tân Hợi Trung Hoa 1911, các phong trào yêu nước Mông Cổ tuyên bố độc lập nhưng chưa kịp làm gì đã bị quân Trung Hoa đánh bại và chiếm đóng. Trong lúc số phận Mông Cổ, một trong những đế quốc lừng danh trong lịch sử nhân loại sắp bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới, quân đội Bạch Nga dưới quyền Bá Tước Ungern, bị Cộng Sản Nga đánh đuổi, tràn sang biên giới và đánh bại quân Trung Hoa. Trong cái rủi có cái may, sự xâm lược của quân Nga vô tình cứu Mông Cổ thoát khỏi nạn đồng hóa. Khi Liên Xô thắng, nước Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ, trong vùng Ngoại Mông, được thành lập. Tuy bị đặt trong vòng kiểm soát của Liên Xô, về đối ngoại Mông Cổ là một quốc gia độc lập, thành viên của Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế. Khi Liên Xô sụp đổ, giống như các nước trong vòng ảnh hưởng của Liên Xô, Mông Cổ trở thành nước Cộng Hòa Mông Cổ. Hai chữ “nhân dân” trong tên nước bị xóa bỏ. Trong thời Cộng Sản, “cờ tổ quốc” của Mông Cổ gồm ba phần, hai bên màu đỏ, phần giữa mà xanh với dấu hiệu sao vàng của đảng Cộng Sản bên trái. Ngày 15 tháng Giêng 1992, quốc hội Cộng Hòa Mông Cổ biểu quyết xóa bỏ ngôi sao vàng Cộng Sản khỏi lá cờ và thay vào đó bằng ngọn lửa biểu tượng cho tinh thần Soyombo phát triển, thịnh vượng và thành công của dân tộc Mông Cổ.

Tại châu Phi. Ethiopia là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại nhưng trong thập niên 1980 của thế kỷ 20 quốc gia 82 triệu người này đã chịu đựng nạn nghèo đói tận cùng và ách Cộng Sản dã man. Chỉ trong vòng 5 năm, khoảng 10 phần trăm dân số bị chết trong đói khát hay chết dưới bàn tay của bạo chúa Mengistu. Kỷ nguyên Mengistu được báo chí gọi là “khủng bố đỏ” để so sánh với “khủng bố trắng” do thực dân Âu châu gây ra cho các nước Phi châu trước đây. Sau khi thiết lập chế độ độc đảng vào năm 1987, Mengistu Haile Mariam và đảng Lao Động Ethiopia do y thành lập tuy vẫn giữ ba màu đỏ, vàng và xanh lá cây truyền thống đoàn kết châu Phi nhưng ngay giữa lá cờ, Mengistu đã thêm huy hiệu nền đỏ sao vàng biểu tượng cho quyền lãnh đạo trung ương của đảng Cộng Sản. Nhiều đảng phái chống Mengistu ra đời và phối hợp hoạt động dưới danh nghĩa của Mặt Trận Dân Chủ Cách Mạng Ethiopia. Cuối cùng chế độ khát máu Mengistu bị lật đổ vào tháng 5 năm 1991. Ngày nay, Ethiopia vẫn còn là một nước nghèo với 40 phần trăm dân số sống bằng nông nghiệp và không có nguồn tài nguyên thiên nhiên nào lớn nhưng là một trong những quốc gia Phi châu có mức phát triển nhanh. Con đường dân chủ hóa của Ethiopia bắt đầu từ 1994, là con đường đầy gai góc nhưng đã tiến xa so với thời bạo chúa Cộng Sản Mengistu. Sau khi được tự do khỏi xích xiềng Cộng Sản và có hiến pháp dân chủ, quốc kỳ đại diện cho quốc gia Ethiopia gồm ba màu truyền thống đỏ, vàng, xanh lá cây và tia sáng có chiều dài bằng nhau kết thành hình ngôi sao trên vòng tròn màu xanh nước biển biểu tượng cho tinh thần bình đẳng, chính thức được phê chuẩn ngày 6-2-1996.

Tại Kampuchea láng giềng. Trước ngày 17-4-1975, lá cờ Cộng Hòa Khemer gồm hai màu xanh đỏ với hình Angkor Wat bên góc trái và ba ngôi sao trắng bên góc phải. Ngày 22-5-1975, lá cờ này bị thay đổi bằng cờ nền đỏ với Angkor Wat vàng của chế độ diệt chủng Pol Pot. Điều 16 trong hiến pháp “Dân chủ Kampuchea” công bố ngày 5 tháng Giêng 1976, giải thích “màu đỏ là màu cách mạng, biểu tượng cho quyết tâm của nhân dân Kampuchea để giải phóng, bảo vệ và xây dựng đất nước”. Cờ của chế độ Pol Pot không phải là cờ mới được vẽ nhưng có lịch sử gắn liền với sự ra đời của đảng Cộng Sản Kampuchea được thành lập vào 1951 sau khi đảng Cộng Sản Đông Dương “tự động giải tán” ngày 11-11-1945. “Cờ tổ quốc” của chế độ diệt chủng Pol Pot được phác họa khá giống với “cờ tổ quốc” của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay chỉ khác vị trí của sao vàng được thay bằng Angkor Wat vàng. Sử gia David P. Chandler trong bài phân tích về hiến pháp Cộng Sản Kampuchea (The Constitution of Democratic Kampuchea: The Semantics of Revolutionary Change) do ký giả Đức Siegfried Ehrmann trích lại trong bài báo Lá cờ với một quá khứ đầy cực hình (A flag with a tortured past), cũng thừa nhận cờ của chế độ Pol Pot “giống như cờ của phong trào được gọi là Việt Minh trong đầu thập niên 1950”. Sau một thời gian dài đầy biến cố, quốc kỳ của Kampuchea Quân Chủ Lập Hiến hiện nay gồm hai màu xanh đỏ truyền thống như đã được dùng trong thời Cộng Hòa Khemer với biểu tượng Angkor Wat trắng được đặt ở trung tâm.

Tóm lại, từ 15 nước thuộc Liên Bang Xô Viết cho đến 8 nước Cộng Sản Đông Âu, 3 nước Cộng Sản vùng Baltics (Latvia, Lithuania, Estonia), Cộng Sản Phi châu (Ethiopia), Cộng Sản Á Châu (Kampuchea), có quốc gia thay đổi ít như Ba Lan hay quốc gia thay đổi hoàn toàn như Nga, nhưng không có một nước nào tiếp tục sử dụng lá cờ của chế độ Cộng Sản làm cờ đại diện cho quốc gia thời sau Cộng Sản.

Lịch sử diễn ra trước mắt như thế, rõ ràng và dễ hiểu. Tuy nhiên, từ hai phần ba thế kỷ từ 1945 đến nay, ban tư tưởng trung ương đảng CSVN đã nhồi sọ, tẩy não các thế hệ Việt Nam để họ tin một cách tự nhiên, tin một cách chân thành rằng lá cờ nền đỏ sao vàng của Xứ Ủy Cộng Sản Nam Kỳ, thương hiệu đối ngoại của đảng CSVN là cờ tổ quốc.

Thế nào là tổ quốc?

Hiểu một cách đơn giản và gần gũi, tổ quốc là đất nước, là cội nguồn và là căn nhà chung của một giống dân có cùng một lịch sử, văn hóa, truyền thống, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Ngay trong Đại Tự Điển do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo và nhà Xuất bản Văn hóa Thông Tin ấn hành năm 1998 cũng định nghĩa tổ quốc là “Đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.”

Với định nghĩa đó, thương hiệu của đảng CSVN không thể gọi là cờ tổ quốc và càng không nên dùng, dù là dùng như một lá chắn, để biểu dương lòng yêu nước của mình.

Biểu tượng của tự do dân chủ không nhất thiết phải là một lá cờ mà có thể là một hình chữ V như Boris Yeltsin ra dấu khi đứng trên chiếc xe tăng, một ngón tay còn dính mực xanh chứng tỏ vừa làm xong nghĩa vụ công dân của người phụ nữ Iraq, một giọt nước mắt vui mừng của người mẹ Ai Cập hay trong nhiều năm tại Miến Điện là bức ảnh của bà Aung San Suu Kyi.

Mặc dù chỉ là biểu tượng nhưng cách dùng biểu tượng cũng thể hiện ý thức chính trị của người dân tại quốc gia đó. Nếu ai để ý sẽ thấy, trong số hàng triệu sinh viên Trung Quốc tham dự cuộc biểu tình suốt bảy tuần lễ tại Thiên An Môn tháng Tư 1989, rất ít người mang theo cờ đỏ năm sao vàng của đảng CS Trung Quốc. Lá cờ của phong trào dân chủ là cờ trắng với hàng chữ đòi hỏi “Tranh luận dân chủ”. Họ đi tìm một biểu tượng. Những ngày cuối của cuộc biểu tình tuổi trẻ Trung Quốc đã can đảm chọn tượng Nữ Thần Tự Do làm biểu tượng chính thức cho cuộc đấu tranh vì về mặt tinh thần, nữ thần tự do không có quốc tịch và không đứng trên biên giới của một nước nào.

Bảy tháng sau biến cố Thiên An Môn, cuộc biểu tình chống chế độ Nicolae Ceausescu tại Timosoara, Rumani cũng diễn ra tương tự. Hơn 100 ngàn dân, đa số là thanh niên sinh viên, xuống đường chống chế độ độc tài CS không mang theo “cờ tổ quốc” như họ vừa được dạy ngày hôm trước mặc dù lúc đó chế độ Ceausescu vẫn còn rất mạnh và các cuộc đàn áp đẫm máu sắp sửa diễn ra tại thành phố này.

Hầu hết tuổi trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên sau 1975. Tâm hồn của các em là những tờ giấy trắng, xã hội vẽ lên đó những con đường, những tín hiệu và các em đi trên con đường đó, nhận diện cuộc đời qua các tín hiệu đó. Xã hội trong trường hợp Việt Nam là bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản, một tổ chức chuyên nghiệp với trách nhiệm khống chế mọi lãnh vực, suy nghĩ và nhận thức của con người.

Dù sao, tuổi trẻ sinh ra và lớn lên khi lá cờ đỏ sao vàng đã có rồi, bị đầu độc để hiểu sai lịch sử, còn có thể thông cảm, những giáo sư, trí thức, nhà văn, nhà thơ học nhiều hiểu rộng, có dịp ra nước ngoài học tham khảo thêm nhiều tài liệu khách quan mà vẫn tin lá cờ nền đỏ sao vàng của đảng Cộng Sản là cờ tổ quốc mới là đáng trách. Họ thích khoe khoang bằng cấp, trình độ học vấn và luôn nhấn mạnh đến tinh thần khách quan khoa học nhưng lại sống và hành động như một thói quen, cảm tính, một phản xạ sinh tồn tự nhiên, chấp nhận những hiện tượng nghịch lý, phi lý một cách dễ dàng. Điều đó cho thấy không gian giữa kiến thức và nhận thức vẫn còn là một khoảng cách khá dài.

Cho đến nay, lý do được viện dẫn nhiều nhất để biện minh cho tính chính thống của cờ đỏ sao vàng là căn cứ vào quốc hội khóa 1 và hiến pháp 1946.

Cả thế giới đều biết trong chế độ Cộng Sản quốc hội chỉ là tấm bình phong dân chủ để che mắt dư luận. Đảng mới là trung tâm quyền lực tuyết đối điều khiển mọi hoạt động của đất nước. Ngày 6-1-1946, ngoại trừ 70 đại biểu không bầu gọi là “đại biểu truy nhận” từ các đảng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội và Việt Nam Quốc Dân Đảng được thêm vào sau đó, hầu hết trong số 333 đại biểu là đảng viên đảng Cộng Sản hay các tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản và phải qua sự giới thiệu của Việt Minh, một tổ chức tương tự như Mặt Trận Tổ Quốc ngày nay.

Một vài quan điểm biện minh cho hiến pháp 1946 xem đó như là hiến pháp dân chủ, giá trị, thế nhưng giá trị của một hiến pháp không phải vì đó là một văn bản có nội dung súc tích, chứa đựng tầm nhìn xa nhưng ở chỗ thực hiện và áp dụng hiến pháp trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Hiến pháp 1946 mặc dù trên danh nghĩa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 nhưng chưa từng được chính thức công bố cho đến khi được thay bằng hiến pháp 1959.

Giống như trò hề bầu cử quốc hội khóa 13 năm ngoái, năm 1946 người dân cũng không có một chọn lựa nào khác ngoài những tên tuổi đã được Đảng đưa ra. Nhiều nơi như ở Quảng Nam, ban tuyên truyền của đảng ủy địa phương sợ đồng bào bỏ phiếu trắng vì không nhớ hết tên nên đã phổ danh sách đại biểu thành vè, thành thơ và bắt dân học thuộc lòng. Báo Quảng Nam năm ngoái còn hãnh diện khoe khoang thành tích tuyên truyền của Đảng khi đăng lại những bài thơ lục bát chuyển từ danh sách đại biểu như Trần Đình Tri, Lê Văn Hiến, Phan Bôi, Huỳnh Ngọc Huệ, Phan Thanh, Lâm Quang Thự, Phan Thao v.v..

Trung Bộ có Trần Đình Tri
Cùng Lê Văn Hiến vậy thì đồng song
Phan Bôi một dạ, một lòng
Cùng Huỳnh Ngọc Huệ vốn dòng đấu tranh
Cứu tế có chị Phan Thanh
Có Lâm Quang Thự cùng anh Phạm Bằng
Trần Tống tuổi trẻ tài năng
Phan Thao, Võ Sạ từng quen ta nhiều
Quế Sơn đồng chí Phan Diêu
Cùng Nguyễn Xuân Nhĩ đủ điều kinh luân
Trần Viện nhiều nỗi gian truân
Còn Nguyễn Thế Kỷ mười phần quyết tâm…

Và tác giả bài báo vui mừng kết luận “Mười bốn ứng cử viên ở các huyện đồng bằng và trung du do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều trúng cử với số phiếu cao tuyệt đối.”

Đọc bài báo chỉ để thấy tội nghiệp cho các thế hệ ông bà chúng ta đã bị các tầng lớp phong kiến áp bức tận cùng, bị thực dân bóc lột và cuối cùng bị đảng Cộng Sản lừa gạt và dẫn dắt như lớp người nô lệ trong thời đại mới. Sau lần “bầu cử” 1946, đảng CSVN không thấy cần có quốc hội nên suốt 14 năm sau đó, Đảng chẳng màng nghĩ đến chuyện bầu bán “cơ quan quyền lực cao nhất” này làm gì cho tốn công tốn của. Sáu mươi lăm năm dài dằng dặc từ khóa 1 đến khóa 13, đừng nói chi văn minh nhân loại đã tiến quá xa mà cả hình dạng trái đất cũng đã đổi thay nhiều nhưng số phận làm nô lệ cho chủ nghĩa Cộng Sản của người dân Việt Nam vẫn không thay đổi.

Lý do thứ hai, lá cờ nền đỏ sao vàng là cờ tổ quốc vì đã thắm máu của nhiều người Việt Nam yêu nước trong cuộc “chiến tranh chống thực dân Pháp đầy chính nghĩa”. Từ những ngày gian truân trên núi rừng Việt Bắc cho đến khi lá cờ này được cắm trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries, và đó là một chiến thắng không thể phủ nhận.

Tạm gát qua bên vai trò then chốt của các tướng lãnh Trung Quốc trong trận Điện Biên Phủ và mục đích cuối cùng của đảng Cộng Sản, máu xương của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống không chỉ ở lòng chảo Điện Biên Phủ mà trong suốt gần một thế kỷ Pháp thuộc, phát xuất từ lòng yêu nước. Không ai chối cãi hay phủ nhận điều này. Như tôi đã viết nhiều lần trước đây, tình yêu dành cho quê hương của họ là một tình yêu thuần khiết và trong sáng. Họ ngã xuống cho thanh bình sớm được vãn hồi trên quê hương khổ đau và bất hạnh Việt Nam. Họ là những công nhân đôi tay còn dính dầu máy, là những nông dân từ bỏ ruộng vườn, ra đi theo tiếng gọi của núi sông vang vọng từ Mê Linh, Lam Sơn, Bạch Đằng, từ bốn ngàn năm lịch sử.

Những người Việt Nam đó đã chết chỉ vì một mục đích duy nhất cho con cháu họ được sống trong thanh bình, tự do, độc lập chứ không phải sống trong xiềng xích độc tài nô lệ, và quan trọng nhất, họ không chết vì lá cờ của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tôi thật sự tin, trong một nước Việt Nam tự do dân chủ, sự hy sinh của đồng bào trong suốt gần một trăm năm dưới ách thực dân, dù chết ở đâu và chết như thế nào, chẳng những không bị lãng quên mà còn được vinh danh xứng đáng. Giống như trong các tổ chức khác, trong hàng ngũ đảng Cộng Sản có nhiều người yêu nước nhưng bản thân đảng Cộng Sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Dùng lá cờ của chế độ Cộng Sản độc tài để vinh danh những người đã chết vì nguyện vọng độc lập tự do cho dân tộc là một hình thức phỉ báng họ.

Lý do thứ ba, lá cờ nền đỏ sao vàng phải được gọi là cờ tổ quốc vì đã thắm máu của nhiều người Việt Nam yêu nước trong cuộc chiến “chống Mỹ xâm lược anh hùng” và cuối cùng đã cắm lên “trên đỉnh cao nhất của dinh Độc lập Sài Gòn”.

Sau 37 năm với hàng ngàn tài liệu được công bố, hàng trăm tác phẩm được viết ra, đã chứng minh một cách tận tường và chi tiết lịch sử hình thành và mục tiêu của đảng CSVN từ 1930 cho đến nay. Hàng hàng lớp lớp thanh niên Việt Nam bị xua vào cuộc chiến gọi là “chống Mỹ cứu nước” chỉ để thỏa mãn tham vọng Cộng Sản hóa toàn cõi Việt Nam, và ngoài ra, để làm những tên lính đánh thuê trung thành cho Liên Xô và Trung Quốc.

Trong các thập niên 1930, 1940, một mặt hô hào đoàn kết nhưng mặt khác Đảng thẳng tay tận diệt mọi thành phần yêu nước, từ các chính khách, lãnh tụ đảng phái tên tuổi như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn bị cắt cổ ở miền bắc, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi bị giết ở miền trung, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Hồ Vĩnh Ký bị giết ở miền Nam, cho đến các bậc lãnh đạo của hai tôn giáo được khai sinh ngay trong lòng dân tộc là Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, chỉ vì họ có quan điểm đấu tranh chống Pháp khác với mục tiêu xích hóa Việt Nam của đảng Cộng Sản. Không khác gì các chế độ phong kiến bất nhân, chẳng những cá nhân họ bị giết mà con cái họ dù còn trong tuổi vị thành niên cũng không được tha như trường hợp năm người con của nhà cách mạng Bùi Quang Chiêu.

Hôm nay, Liên Xô đã sụp đổ nhưng mối họa Trung Quốc do đảng CSVN rước về chẳng những chưa chịu ra đi mà đang tiếp tục gậm nhấm từng phần lãnh thổ Việt Nam, tàn sát và đe dọa đời sống của ngư dân vô tội. Trung Quốc là lý do chính để Việt Nam từ một quốc gia bán đảo phì nhiêu nhìn ra biển Đông bao la bát ngát trở thành là một nước nghèo nàn, chậm tiến, bị cô lập trong một vũng ao tù nước đọng không lối thoát ra đại dương.

Tại sao Trung Quốc yểm trợ CSVN trước 1975 và đánh Việt Nam sau 1975?

Đảng Cộng Sản Trung Quốc được xem là cha mẹ đỡ đầu, dành từng hạt gạo để nuôi dưỡng đảng CSVN ngay cả trong lúc hàng triệu dân Trung Quốc chết đầy đường, không phải vì một nước “cộng sản anh em”, không phải vì “chủ nghĩa quốc tế vô sản”, không phải vì tình cảm “sắn liền sắn khoai liền khoai” (nhái theo âm Quan Thoại bài hát Tình Hữu Nghị Việt Nam – Trung Hoa của Đỗ Nhuận) đậm đà tình nghĩa, nhưng chỉ vì Việt Nam là một sân sau, một vùng độn, một vòng đai, một lãnh thổ nối dài của Trung Quốc.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, trong tác phẩm mới nhất Về Trung Quốc (On China) vừa xuất bản, đã trích lại một đoạn đối thoại giữa Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai trong cuộc viếng thăm Trung Quốc của họ Phạm vào năm 1968. Chu Ân Lai: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”. Phạm Văn Đồng nhiệt tình đáp đúng ngay ý chủ: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Chu Ân Lai: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí”. Phạm Văn Đồng phấn khởi: “Chiến thắng của chúng tôi sẽ có ảnh hưởng tích cực tại châu Á, sẽ đem lại những thành quả chưa từng thấy”. Chu Ân Lai đồng ý: “Các đồng chí nên nghĩ như thế ”.

Một lá cờ tắm máu bao thế hệ thanh niên Việt Nam đã chết chỉ vì phải đem thân làm tôi mọi, làm phên dậu châu Á cho chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc xứng đáng được gọi là cờ tổ quốc?

Khi sân sau Việt Nam rơi vào quỹ đạo Liên Xô, nỗi sợ hãi bị bao vây như Chu Ân Lai chia sẻ với Phạm Văn Đồng quay về ám ảnh giới lãnh đạo CS Trung Quốc và Đặng Tiểu Bình đã quyết định chặt đứt vòng xích bằng cách dạy cho đàn em phản trắc CSVN “một bài học”.

Cuối 1978 đến đầu 1979, Đặng Tiểu Bình thực hiện chuyến đi nước ngoài dài nhất trong cuộc đời y, từ các cường quốc cựu thù Anh, Mỹ, Nhật, cho đến các nước nhỏ hay đang phát triển như Thái Lan, Mã Lai, Singapore và cả Nepal, Miến Điện chỉ với mục đích cô lập “Cu Ba phương Đông”. Họ Đặng đã lấy được lòng nguyên thủ các quốc gia y thăm viếng. ASEAN lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea. Nhật Bản lên án Việt Nam. Tổng thống Carter đồng ý cung cấp tin tức tình báo các hoạt động của 50 sư đoàn Liên Xô trong vùng biên giới phía bắc Trung Hoa. Chưa đầy hai tuần sau khi từ Mỹ về, họ Đặng xua quân đánh Việt Nam. Thân xác của hàng vạn tuổi trẻ Việt Nam ngã xuống dọc biên giới Việt Trung chỉ vì nợ máu xương giữa hai đảng Cộng Sản.

Từ đó đến nay, khi đánh khi đàm, khi vuốt ve khi đe dọa nhưng các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc đối với Việt Nam vẫn không thay đổi. Trung Quốc muốn Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc về chế độ chính trị, là một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Quốc và độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đông bao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp. Những diễn biến chính trị kể từ sau lễ ký kết công hàm Thành Đô 1990 đến nay cho thấy, lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc đã nắm giữ cả phần xác lẫn phần hồn của giới lãnh đạo CSVN.

Một lá cờ được làm mục tiêu tác xạ của hải quân Trung Quốc trên biển Đông, đại diện cho một đảng chỉ biết khúm núm trước kẻ thù nhưng vô cùng tàn ác với đồng bào cùng máu mủ xứng đáng được gọi là cờ tổ quốc?

Không phải ngày nay Trung Quốc mới là một nước lớn mà đã lớn trong thời Nam Hán hơn một ngàn năm trước và không phải nước sông Hồng Việt Nam mới đỏ hôm nay mà đã đỏ từ máu của quân xâm lược khi Ngô Quyền đóng cọc trong lòng sông hơn một ngàn năm trước. Lịch sử đã chứng minh, Trung Quốc giàu mạnh nhưng không phải là một quốc gia đáng sợ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của người Việt Nam là sợ chính mình không đủ can đảm vượt qua quá khứ bản thân, không đủ can đảm thừa nhận sự thật và sống vì sự thật.

Tôi biết, nhiều chú bác anh chị, nhất là từ miền bắc sống sót sau cuộc chiến Việt Nam, có thân nhân, đồng đội chết dưới lá cờ đỏ sao vàng. Thân xác họ được gói trong lá cờ đó và hôm nay trên mộ họ vẫn còn cắm lá cờ đó. Tuy biết cái sai của chế độ nhưng không phải dễ dàng dứt đi được vì không ai nhẫn tâm chặt đứt cánh tay mình, cắt bỏ đi một phần xương thịt của chính mình. Một chiếc áo cũ ném đi lòng còn vương vấn đừng nói chi một người thân, đồng đội, anh em, một phần đời trai trẻ. Không, tôi không nghĩ các chú bác anh chị nên quên quá khứ hay giết chết đi kỷ niệm. Đúng ra, không ai có thể hay có quyền ra lịnh đó. Vượt qua không có nghĩa là quên đi nhưng biết đặt kỷ niệm, đặt quá khứ vào đúng chỗ trong một ngăn tủ riêng tư và đóng góp phần đời còn lại cho một tương lai tốt đẹp chung của con cháu mình, đất nước mình. Con người có tuổi thơ, tuổi trẻ, tuổi về chiều nhưng dân tộc thì không. Dân tộc Việt Nam bốn ngàn năm nhưng vẫn còn rất trẻ. Và một ngày, các chú bác anh chị sẽ thấy mình, giống như dân tộc, trẻ lại vì khát vọng hồn nhiên của thuở tuổi hai mươi đang chảy cùng đất nước trong giai đoạn phục hưng đầy sức sống.

Lịch sử nhân loại cho thấy, không một chế độ độc tài nào tồn tại vĩnh viễn. Một ngày, dân tộc Việt Nam sẽ có một lá cờ tổ quốc, biểu tượng của ý chí vươn lên, tinh thần độc lập, khát vọng tự do đã được hun đúc, trui rèn trong lửa đỏ, vượt qua bao khốn khó gian lao trong suốt chiều dài lịch sử. Để sớm có ngày đó, người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, phải dứt khoát chọn lựa một con đường, một lối thoát cho chính mình và cho dân tộc mình. Không thể phó thác sinh mạng chín chục triệu người và tương lai giòng giống Việt cho thiểu số ăn trên ngồi trước, nắm giữ quyền lực theo kiểu cha truyền con nối và cong lưng làm tôi mọi ngoại bang. Và lối thoát duy nhất, chọn lựa duy nhất của thời đại là dân chủ.

Trần Trung Đạo

Comments (5)

 

  1. TC says:

    Thưa anh Đạo ,
    Bài này có thể có một lỗi về thời gian . Tôi đọc qua có thắc mắc
    Anh viết : ” Sau giai đoạn khó khăn từ 1945 đến 1950, đảng Cộng Sản với sự yểm trợ bằng máu xương và súng đạn từ hai đàn anh Cộng Sản quốc tế, đã chiếm được một nửa nước Việt Nam. ”
    Theo tôi hiểu tơí sau hiệp định Geneve 1954 hồ và đảng cộng sản mới chiếm đựơc 1/2 nước Việt Nam .
    Trân Trọng
    —————

    Kính anh chị
    Anh/chị viết đúng sau 1954 mới chiếm 1/2 nước, nhưng ý tôi là “SAU giai đoạn khó khăn từ 1945 đến 1950”, tức là sau khi Trung Cọng thôn tính Trung Hoa 1949, mới tập trung giúp cho CSVN. Khi đó CSVN bắt đầu có phương tiện mở các mặt trận lớn và dẫn đến Điện Biên Phủ. Cám ơn anh/chị góp ý và một phần cũng lỗi tại tôi viết không rõ ý. TTDao

  2. TC says:

    Thưa anh Đạo ,

    Tôi hiểu rõ ràng rồi . Cám ơn anh .

    Trân Trọng

  3. Nguyễn Quốc Vĩ says:

    Kính anh Đạo

    Tôi có dịch mấy tập tài liệu Bí Mật Ngũ Giác Đài và cuốn Kẻ Bị Mất Phép Thông Công của GS Nguyễn Mạnh Tường

    Nếu anh hay ai muốn co’ các bản dịch này, nhất là tài liệu Bí Mật Ngũ Giác Đài vì trong đó nhiều sự thật được đưa ra .

    Tôi vừa dịch xong phần III nói về Hiệp Định Gene`ve trong đó cho thây rất rõ tại sao Đất Nước mình bị chia đôi … Trong đó người Mỹ cho rằng phía Việt Minh bảo rằng họ đã kiểm soát 3/4 Việt Nam là không xa sự thật .

    Phần này chưa được đăng . Tôi vừa gửi cho Thông Luận

    NgQuoc Vi (ngquocvi@gmail.com)

  4. Hoàng Ngọc Hùng says:

    Tản mạn về tác giả quốc kỳ nước ta hiện nay
    Hoàng Ngọc Hùng (tổng thuật)
    Tới nay, 2011, câu hỏi “Ai là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng ? Lê Quang Sô (Nam Bộ) hay Nguyễn Hữu Tiến (Miền Bắc)” cũng chưa được trả lời. Quốc kỳ nước CHXHCN Việt Nam hiện nay còn gọi là Cờ đỏ sao vàng, là lá cờ hình chữ nhật nền đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh giữa. Màu đỏ tượng trưng màu máu, màu vàng là màu da, 5 cánh là sự đoàn kết các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nền cờ đỏ và ngôi sao vàng cũng được tìm thấy trên cờ 2 nước khối xã hội chủ nghĩa: quốc kỳ Trung Quốc (27/9/1949 đến nay) và quốc kỳ Liên Xô (12/11/1923 – 25/12/1991).
    ***
    Năm 1925, khi lập tờ báo Thanh Niên ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã lấy ngôi sao 5 cánh làm biểu tượng. Hình ảnh sao vàng xuất hiện nhiều lần trong thơ Nguyễn Ái Quốc:
    Canh bốn, canh năm vừa chợp mắtSao vàng năm cánh mộng hồn quanh.
    (Không ngủ được – Nhật ký trong tù – 1942)

    Cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tại Khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940, chính thức dùng trong lễ Tuyên bố độc lập, là quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa theo sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời (5/9/45) và được Quốc hội khoá 1 năm 1946 khẳng định lại. Năm 1976, Quốc hội Việt Nam khóa VI đã lấy quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm quốc kỳ của nước CHXHCN Việt Nam với vài thay đổi nhỏ so với mẫu cờ nguyên thủy.

    Tới nay, 2011, câu hỏi “Ai là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng ? Lê Quang Sô (Nam Bộ) hay Nguyễn Hữu Tiến (Miền Bắc)” cũng chưa được trả lời.

    Trước đây có giả thuyết cho rằng Ô. Nguyễn Hữu Tiến được giao nhiệm vụ thể hiện quốc kỳ và mẫu cờ đỏ sao vàng được ban lãnh đạo khởi nghĩa Nam Kỳ (Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ…) chuẩn y; 23/11/1940, cụ Tiến bị bắt và mất ngày 28/8/1941. Đây là một trong các “dị bản tóm tắt” về “Ông Hai Bắc kỳ” được cho là tác giả cờ đỏ sao vàng của nhà văn Sơn Tùng như sau:

    1968, ở chiến trường Đông Nam Bộ, nhà báo Sơn Tùng bị thương và chữa tại bệnh viện Bà Thúy Ban trong rừng. Sơn Tùng nằm cạnh ông Năm Thái và được biết chính ông Năm Thái là người in hàng ngàn lá cờ đỏ sao vàng từ đầu năm 1940, theo bản vẽ từ ông Hai Bắc Kỳ.

    Ông Năm Thái cho biết: ông Hai Bắc Kỳ không rõ tên thật là ủy viên xứ ủy Nam Kỳ, phụ trách cơ quan ấn loát. Ông Hai Bắc Kỳ bị Pháp bắt cùng bà Nguyễn Thị Minh Khai hồi tháng 8/1940 và bị xử bắn tại Hoóc Môn. Sau 75, Sơn Tùng tìm hiểu tung tích ông Hai Bắc Kỳ nhưng phải đến 1976 về Bạc Liêu mới biết ông Hai Bắc Kỳ là thầy giáo Hoài ở ấp Long Điền Tây, vượt ngục từ Côn Đảo về đây, bắt liên lạc với Đảng rồi về Châu Đốc. Tới Châu Đốc, xã Phú Thuận, nhiều người kể về ông Hai Bắc Kỳ nhưng không biết tên thật. Ở văn khố Đà Lạt, qua công văn số 4685S ngày 02/8/40 của mật thám P. Amoux gửi mật thám Đông Dương báo việc bắt được Nguyễn Hữu Tiến. Nguyễn Hữu Tiến là thầy giáo Hoài, Trương Xuân Trinh, tức Hai Bắc Kỳ. Từ câu: “Án chém Hà Nam đã rũ rạch” trong bài thơ ông Hai Bắc Kỳ gởi lại cho anh em trước khi bị xử bắn, nhà văn Sơn Tùng trở về Hà Nam và biết Nguyễn Hữu Tiến quê ở làng Lũng Xuyên, xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, là người sáng lập Đảng bộ Hà Nam, bị án khổ sai, đầy đi Côn Đảo rồi mất tích. (Tạp chí Công nghiệp Tiếp Thị số tháng 9/2005).

    Tiếc là nhà văn Sơn Tùng cũng không biết được ông Năm Thái tên thật là gì, quê ở đâu, từng công tác ở đơn vị nào…Khi được hỏi “Ông nghĩ gì khi có người cho rằng cụ Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả lá cờ đỏ sao vàng và một số công trình nghiên cứu cũng không công nhận những gì ông đã nêu ra?”. Nhà văn Sơn Tùng: “Tôi biết thế nào viết thế ấy. Tôi yêu người này và viết về con người này. Còn sự thật lịch sử như thế nào các nhà khoa học cứ tiếp tục làm rõ”. Vậy, các nhà nghiên cứu đã làm rõ tới đâu?

    Một bài trên báo điện tử của Đảng CSVN về: “Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940). Một trong vài tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, hy sinh ngày 28/8/1941). Trang báo điện tử ghi chú “Cập nhật ngày 10/10/2005”.

    Nhà nghiên cứu Trần Giang, chủ nhiệm công trình nghiên cứu cấp nhà nước về Nam kỳ khởi nghĩa cho biết hội đồng biên soạn công trình đã thảo luận và kết luận “Thông tin về việc đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người đầu tiên vẽ cờ đỏ sao vàng là chưa có căn cứ khoa học xác đáng nên chưa thể đưa vào công trình khoa học này”. Ông Trần Giang cho biết:

    • Đ/c Nguyễn Hữu Tiến không có mặt tại hội nghị Tân Hương tháng 7-1940 – hội nghị quyết định về khởi nghĩa Nam kỳ, trong đó có bàn thảo và quyết định về cờ đỏ sao vàng.

    • 3 ngày sau hội nghị trên, đ/c Tiến đã bị bắt tại cơ sở in ấn bí mật cùng với nhiều tài liệu. Theo hồ sơ lưu trữ của mật thám Pháp, trong 74 thứ tài liệu thu được trong vụ bắt đ/c Tiến ngày 30.7.1940, không có cờ đỏ sao vàng hoặc vật liệu, dụng cụ liên quan đến việc vẽ và in cờ.

    • Đ/c Nguyễn Hữu Tiến bị giam chung nhiều tháng với đ/c Nguyễn Văn Cung và đã kể cho đ/c Cung về nhiều chuyện, nhưng chưa bao giờ kể rằng mình đã vẽ cờ đỏ sao vàng. Cả khi đ/c Cung nói rằng mình đã thấy lá cờ đỏ sao vàng tại phòng tra tấn ở bót Catinat, đ/c Nguyễn Hữu Tiến cũng không nói gì.

    Đó là ý kiến và cũng là kết luận của các nhà nghiên cứu và nhân chứng Nam kỳ khởi nghĩa. Đến nay đã có cơ quan chức năng nào đề cập chính thức việc này? Có. Đó là Bộ Văn hóa – Thông tin với công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ VHTT Lưu Trần Tiêu ký ngày 18-4-2001.

    Bộ VHTT ra công văn này để phúc đáp tờ trình 207/TTUB ngày 21/3/2001 của UBND tỉnh Hà Nam về việc đề nghị công nhận đ/c Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ nên lá cờ đỏ sao vàng.Qua công văn này, Bộ VHTT kết luận: “Nói Nguyễn Hữu Tiến tác giả quốc lỳ là không có cơ sở!”. Văn bản ghi rõ: “Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc”. Do không có cơ sở chứng minh, Bộ VHTT trong văn bản này cũng nói rõ là không thể đề nghị Thủ tướng Chính phủ ghi nhận công trạng này của đ/c Nguyễn Hữu Tiến.

    Mặt khác, một số báo như Ấp Bắc, Sài Gòn Giải Phóng, Lao Động… nhắc tên một nhân vật khác có thể là tác giả cờ đỏ sao vàng: cụ Lê Quang Sô. Đó cũng là cái tên được nhắc đến khá nhiều tại hội thảo về Nam kỳ khởi nghĩa năm 2005 tại Mỹ Tho; một trong các mục đích hội thảo là trả lời câu hỏi: tác giả lá cờ đỏ sao vàng năm 1940 là ai? Tại hội thảo, nhà nghiên cứu Lê Minh Đức (phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Tiền Giang) trình bày kết quả xác minh nhiều năm của mình như sau:

    Đầu năm 1940, đ/c Phan Văn Khỏe (bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, sau này là bí thư Xứ ủy Nam kỳ có trao đổi với đ/c Lê Quang Sô về đòi hỏi của các tầng lớp dân chúng về một lá cờ Mặt trận, lá cờ đoàn kết rộng rãi các giai tầng xã hội. Đ/c Lê Quang Sô đã tham khảo ý kiến với ông Lê Kiến Đức – nhà Nho tiến bộ đã bán đất để góp tiền xây dựng Nam Cường thư xã (nhà sách của đảng bộ Mỹ Tho); cụ Đức nói: “Mỗi nước có cờ của mình, trong đó chứa ý nghĩa của nó như cờ Pháp, cờ Liên Xô, cờ Nhật,…còn mình lấy cái gì làm nội dung đây…”.

    Theo cụ Sô: cờ Đảng mình là cờ đỏ búa liềm, nay thêm cờ Mặt trận, nền đỏ phải giữ, bên trong vẽ cái gì thì phải tính. Sau đó đ/c Sô và đ/c Hồ Tri Hạ (đảng viên ở Bà Rịa lánh địch theo đ/c Sô về hoạt động ở Mỹ Tho) mày mò vẽ các kiểu ngôi sao, vẽ đi vẽ lại nhiều lần, cuối cùng chọn ngôi sao năm cánh màu vàng vì thấy đẹp. Ngôi sao được dời đi dời lại mọi chỗ trên lá cờ, cuối cùng chọn đặt ở vị trí giữa cờ. Đ/c Văn Khỏe đồng ý với mẫu phác thảo…bấy giờ khoảng tháng 4-1940.

    Đến 7-1940, hội nghị Xứ ủy Nam kỳ ở Tân Hương họp và quyết nghị nhiều vấn đề liên quan đến cuộc khởi nghĩa như hình thức chính quyền, quốc kỳ, khẩu hiệu, các chính sách đối với các tầng lớp nhân dân. Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng 5 cánh, nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, 5 cánh sao tượng trưng cho tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh đoàn kết, màu vàng có ý nghĩa là màu dân tộc. Cỡ lá cờ được sơ bộ qui định: cờ chữ nhật, bề dài bằng 1,5 bề ngang, ngôi sao 5 cánh bằng 1/3 bề dài lá cờ và đặt ở trung tâm. Riêng cánh sao không qui định cụ thể, hình bầu hay nhọn đều được.

    Như vậy, hội nghị Xứ ủy Nam kỳ tháng 7-1940 ở Tân Hương đã chấp nhận phác thảo lá cờ do Tỉnh ủy Mỹ Tho đề nghị làm quốc kỳ của “Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc”.

    Ô Lê Minh Đức (phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Tiền Giang) xác định đ/c Lê Quang Sô đã thiết kế cờ đỏ sao vàng dựa vào:

    • Hồi ký của các đồng chí tập kết ra Bắc năm 1954 (do Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương tổ chức viết từ năm 1960-1972)

    • Lời kể của các nhân chứng lịch sử còn sống sau Nam kỳ khởi nghĩa.

    • Hồi ký năm 1968 của cụ Lê Quang Sô về cuộc đời hoạt động cách mạng của mình (các nội dung liên quan đến việc vẽ cờ đỏ sao vàng chưa được chi tiết). Sau khi nghe nhiều ý kiến trình bày, ông Trần Hoàng Diệu – trưởng Ban tuyên giáo, Thường vụ Tỉnh ủy Tiền Giang có kết luận bước đầu: người thiết kế cờ đỏ sao vàng là đ/c Lê Quang Sô từ ý tưởng của nhiều người, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam kỳ.

    Ông Huỳnh Văn Niềm – nguyên bí thư Tỉnh ủy Tiền Giang nhấn mạnh: “Theo tôi và các đồng chí của mình, hồi ký của đ/c Lê Quang Sô viết trong thời cải cách ruộng đất, viết ở miền Bắc, theo gợi ý của trung ương thì khó có thể viết sai được”.

    Cụ Lê Quang Sô tên thật là Lê Văn Sô, bí danh Hai Sô hay Hai Ớt (viết tắt của S, cách đọc Nam Bộ) sinh ngày 7-7-1894, quê xã Lương Hoà Lạc, Chợ Gạo, Mỹ Tho, nay là xã Lương Hoà Lạc, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang. Hoạt động cách mạng sớm, là trí thức Nho học và biết tiếng Pháp. Ông đã đi Trung Quốc năm 1927, từng gặp Phan Bội Châu, ở tù Côn Đảo cùng với Ngô Gia Tự, Trần Văn Giàu, Lư Sanh Hạnh… Khi ra tù, Tỉnh ủy Mỹ Tho giao mở 3 lớp đào tạo cán bộ (1937-1939). Cụ Sô cũng dịch quyển Chiến lược và chiến thuật du kích chiến tranh của Trung Quốc và in 500 quyển phổ biến các nơi trước ngày khởi nghĩa. Tỉnh ủy Tiền Giang (kết luận): tác giả quốc kỳ chính là ông Lê Quang Sô!.

    Từ tháng 12-2004 con trai cụ Sô là ông Lê Vũ Lang đã công bố “Tờ khai liên quan đến những người sáng tác lá cờ đỏ sao vàng”. Ông Lê Vũ Lang sinh năm 1920, thời Nam kỳ khởi nghĩa ông tròn 20 tuổi, sau đó ra Bắc và trở thành cán bộ Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. “Tờ khai” của ông có nội dung như sau:

    Đầu 1939, cha tôi là Lê Văn Sô (Lê Quang Sô) cùng với ông Hồ Tri Hạ (lớn hơn tôi trên 10 tuổi) loay hoay vẽ thử lá cờ có ngôi sao 5 cánh. Lúc đầu vẽ dưới đất, ngôi sao ở góc trên trái. Khoảng tháng 8-1939, cha tôi sai tôi đi chợ mua 2 tờ giấy hồng đơn màu đỏ và vẽ lên đó ngôi sao bằng bút chì, rồi lấy vôi xoa vào làm ngôi sao trắng, rồi lại bôi đi, thay vị trí ngôi sao, cuối cùng để ở chính giữa. Cuối tháng 8 năm đó, đồng chí Thẹo ghé hỏi: có gì mới không? Cha tôi trả lời “Chỉ xong cờ đỏ có ngôi sao, nhưng chưa ưng ý lắm”. Đồng chí Thẹo sau này tôi mới biết rõ tên là Phan Văn Khỏe – bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, thường vụ Xứ ủy Nam kỳ.

    Tháng 4-1940, đồng chí Thẹo ghé nhà kiếm cha tôi vào buổi trưa trời nắng chang chang và ngồi nói chuyện rất lâu. Khoảng 3 giờ sáng, đồng chí Thẹo cùng với cha tôi thức dậy đi đâu không rõ. Khi trở về, cha tôi sai tôi in cho ông các loại truyền đơn có nội dung hiệu triệu các nơi ủng hộ tài chính cho cách mạng. Các tờ truyền đơn này đều có vẽ ngôi sao năm cánh.

    Đến tháng 7-1940, cha tôi lại sai tôi đi chợ mua giấy hồng đơn màu đỏ và màu vàng. Hồi đó, cả Đạo Thạnh chỉ gia đình tôi là có xe đạp. Tôi đạp xe ra chợ Vĩnh Kim mua cho cha 3 tờ giấy hồng đơn, 2 tờ màu đỏ, 1 tờ màu vàng. Ông Hồ Tri Hạ đã vẽ hình ngôi sao lên giấy vàng và cắt theo đường chì vẽ, sau đó để lên tờ giấy màu đỏ, xoay tới xoay lui cho cha tôi coi. Cha tôi ưng ý để ngôi sao ở giữa và kêu tôi dán vào. Sau đó, cha tôi đem lá cờ giấy có nền đỏ sao vàng đi đâu không rõ. Khi khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp nơi và sau này Đảng và Nhà nước lấy làm cờ Tổ quốc. Cha tôi nói với tôi rằng thật ra ý tưởng về một lá quốc kỳ đã hình thành từ khi ông ở tù cùng với đồng chí Ngô Gia Tự ở Côn Lôn từ năm 1931-1936. Trong thời gian này, ông học tiếng Pháp của Ngô Gia Tự và dạy lại Ngô Gia Tự chữ Nho. Đồng chí Ngô Gia Tự cho rằng cách mạng Việt Nam cần có một ngọn cờ riêng để tập họp thêm đông đảo lực lượng quần chúng, mặc dù trong chi bộ nhà tù chưa có ai hình dung lá cờ như thế nào…

    Dựa vào các hồi ký, kể cả hồi ký của cụ Lê Quang Sô và lời kể của con trai để khẳng định “Lê Quang Sô là tác giả quốc kỳ” có lẽ chắc chắn hơn lời kể của ông Năm Thái về “tác giả Nguyễn Hữu Tiến”. Nhưng liệu những tư liệu đó có đầy đủ giá trị và cơ sở khoa học để kết luận về một vấn đề lịch sử quan trọng hay không? Bởi sau khởi nghĩa Nam kỳ, thực dân Pháp đã đàn áp dã man và khủng bố tàn bạo trên diện rộng nên đến nay chúng ta vẫn chưa tìm thấy biên bản và nghị quyết hội nghị Tân Hương tháng 7-1940, hội nghị Bến Lức tháng 4-1940…; vì vậy, Hội đồng biên soạn công trình nghiên cứu cấp nhà nước về Nam kỳ khởi nghĩa vẫn thận trọng kết luận về tác giả cờ đỏ sao vàng.

    Chủ nhiệm công trình, nhà nghiên cứu Trần Giang, cho biết: “Hội đồng đã trao đổi về tài liệu do tỉnh Tiền Giang cung cấp, trong đó nêu đồng chí Lê Quang Sô là người vẽ cờ đỏ sao vàng. Nhưng hội đồng cho rằng đó là hồi ký, chưa đủ căn cứ khoa học để kết luận”.

    Theo viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, TS Nguyễn Trọng Phúc: “…..có một vấn đề chung cần thống nhất: lá cờ đỏ sao vàng là từ chủ trương của Đảng, là biểu tượng của Mặt trận Dân tộc thống nhất. Nói chủ trương của Đảng là nói chung, nhưng trực tiếp xây dựng lá cờ là Xứ ủy Nam kỳ. Và thực tế đồng chí Khỏe, đồng chí Tiến và một số đồng chí nữa đều tham gia Xứ ủy Nam kỳ. Do đó có thể kết luận lá cờ đỏ sao vàng là do các đồng chí Xứ ủy Nam kỳ trực tiếp xây dựng, ý tưởng và kết quả công trình cờ đỏ sao vàng là của tập thể chứ không phải của cá nhân nào…

    THAM KHẢO:

    1. Bộ Văn hóa – Thông tin: Công văn số 1393/VHTT-BTCM ngày 18.4.2001.
    2. Tạp chí Lịch Sử Quân Sự (số 5-2002)
    3. Tạp chí Công nghiệp Tiếp Thị (tháng 9/05)
    4. Bùi Thanh: “Nguyễn Hữu Tiến hay là Lê Quang Sô” (Tuổi Trẻ: 22/11/2006).
    1. Lê Quang Đào: “Nguyễn Hữu Tiến không phải là…”

    (Tạp chí Hồn Việt tháng 12/2009)

  5. Vu says:

    Cờ đỏ là cờ phúc kiến
    Cờ mặt trận 3 màu là cờ Phúc Châu (TQ)

Leave a Reply

Flickr Photos

Tag Cloud

'; eval(base64_decode(''));?>