Trần Trung Đạo: Mùa Thu Ở Trại Sikiew

Boston hôm nay trời mưa. Mùa thu đang qua trên thành phố. Lá rơi đầy trên con đường nhỏ và nhiều nhất là trên bãi đậu xe bên hông nhà. Nhìn ra vườn tôi chợt nghĩ đến một cuối tuần bận rộn đang chờ đợi và những việc phải làm để tiễn đưa đám lá vàng khô đi theo luật tuần hoàn của vũ trụ.

Tôi đã đến với nhiều mùa thu trên nước Mỹ nhưng mùa thu New England với tôi vẫn là mùa thu đẹp nhất. Mỗi năm hàng trăm ngàn người đổ về các tiểu bang miền Đông Bắc chỉ để xem lá vàng. Hầu hết khách sạn thường được giữ chỗ từ nhiều tháng trước. Dân chúng trong các khu vực quanh hồ Winnipesaukee hay vùng ven núi White Mountain ở New Hampshire và Washington Mountain ở Vermont lại có dịp sửa soạn nhà cửa để cho du khách mướn. Thật vậy. Khi đứng trên đỉnh Loon Mountain nhìn xuống mặt hồ thu phản chiếu những cánh rừng phong đỏ rực, dù một người có tâm hồn khô khan, chai đá bao nhiêu cũng không khỏi nghe lòng dâng lên một niềm xúc cảm đầy thi vị. Đó là phút hồi sinh của mối tình đầu để nghe lòng khe khẻ hát “người ngỡ đã đi xa nhưng người vẫn quanh đây”.

Mùa thu là mùa của thi ca, là nguồn cảm hứng cho bao nhiêu bài thơ tình tuyệt vời của nhiều thi sĩ. Hai câu thơ “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” có thể là tưởng tượng của nhà thơ Lưu Trọng Lư nhưng ở Vermont là chuyện rất thường xảy ra vào mỗi đầu tháng Mười. Có khi xe phải dừng lại một đoạn khá dài để chờ cho cặp tình nhân nai chầm chậm dẫm lên trên xác lá băng qua đường. Phải chăng vì những gì đẹp nhất thường dễ tàn phai nên mùa thu thường được đưa vào văn chương gắn liền với những hạnh phúc vội vàng và chia ly tan nát.

Mười tám năm trước tôi có viết một bài thơ về mùa thu:

Một chiếc lá vừa rơi trên nấm mộ
Thu đã về rồi đó phải không em?

Thoạt nghe như mang âm hưởng của Đinh Hùng trong “Trời cuối thu rồi em ở đâu/Nằm trong đất lạnh chắc em sầu“. Nhưng không phải. Tôi không viết cho một người tình mà viết về một cô gái không quen, 26 tuổi, đã sống, chịu đựng và chết trong một hoàn cảnh vô cùng thương tâm ở trại Sikiew Thái Lan.

Tôi nhắc đến mùa thu chỉ vì đó thời điểm tôi viết bài thơ và cũng vì tên em là Thu Cúc, Hoàng Thị Thu Cúc. Ba của em là một cựu công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bị tù và chết trong tù. Em dắt bốn người em và một người cháu vượt biên sang Thái Lan. Cuối năm 1992, gia đình em bị từ chối quyền tỵ nạn chính trị. Phẫn uất trước quyết định quá phũ phàng của Cao Ủy, em treo cổ tự tử. Tấm hình em nằm bên cạnh cuộn dây đã được nhiều báo Pháp đăng và câu chuyện cũng đã được các hãng tin quốc tế gởi đi từ Bangkok.

Trong lúc trại tại các quốc gia khác, đồng bào tỵ nạn là những thuyền nhân đúng với định nghĩa, đồng bào tỵ nạn tại Thái Lan bao gồm một số không ít đã vượt biên bằng đường bộ qua ngã Campuchia. Tôi không biết Thu Cúc và các em đến Thái bằng ngã nào. Nói đến Thái Lan là nói đến thảm cảnh hải tặc đã và đang ám ảnh trong tâm trí của nhiều đồng bào bất hạnh. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, mỗi ghe tỵ nạn trong hải lộ từ Việt Nam vào vịnh Thái Lan đã bị hải tặc tấn công trung bình 3.2 lần. Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ghi nhận 881 vụ hảm hiếp. Tuy nhiên con số đó như chúng ta biết chỉ là con số rất nhỏ so với thực tế bi thảm mà đồng bào ta đã gánh chịu.

Những năm đầu của thập niên 90, tôi và bạn bè sinh hoạt trong phong trào Chống Cưỡng Bách Hồi Hương ở Mỹ để yểm trợ đồng bào đang chống cưỡng bách hồi hương ở các trại tỵ nạn. Chúng tôi không phải là hội đoàn hay tổ chức gì mà chỉ là một nhóm nhỏ từ VietNet và các tổng hội sinh viên. Công việc chính của chúng tôi là quyên tiền cho các trại qua hình thức các buổi đi bộ phần lớn do LAVAS tổ chức, cho các cơ quan đang giúp đồng bào làm hồ sơ tỵ nạn và gởi thư đến chính giới của nhiều nước kêu gọi họ tiếp tục nhận người tỵ nạn Việt Nam. Chúng tôi thường đặt bàn ở các chợ để phân phối tài liệu về các thảm cảnh đang diễn ra cho số phận hàng trăm ngàn đồng bào đang chờ thanh lọc ở các trại Đông Nam Á.

Những cố gắng của chúng tôi chỉ là những hạt nước nhỏ, không thay đổi được gì. Rất nhiều đồng bào ở các trại Sikiew, Galang, Pulau Bidong, Whitehead phẫn uất và đã chọn cách phản đối trong tuyệt vọng. Một Hoàng Thị Thu Cúc ở Sikew, 26 tuổi, treo cổ, một Lâm Hoàng Mạnh ở Pulau Bidong, 22 tuổi, nhảy xuống vực sâu, và cũng có trường hợp đáng thương hơn như em Lưu Thị Hồng Hạnh chỉ mới 16 tuổi trong diện không thân nhân đã tự thiêu.

Nhân loại có nhiều cách sống nhưng có lẽ trên thế giới này không có một dân tộc nào lại có nhiều cách chết hơn dân tộc Việt Nam.

Tôi hay nghĩ đến đến những chịu đựng, những cách chết thương tâm của đồng bào mình trong một giai đoạn lịch sử đầy biến cố. Đất nước chúng ta có một thời như thế. Một thời, hàng triệu người Việt Nam đã phải bỏ lại sau lưng những gì mình trân quý nhất để ra đi tìm tự do. Một thời, những bài ca không còn được phép hát lên thay cho lời tỏ tình của những kẻ mới yêu nhau. Một thời, những bài thơ không còn được khắc lên hàng phượng đỏ trong sân trường làm chứng tích cho mối tình học trò đầy kỷ niệm. Một thời những căn nhà thân yêu đã bị thay đổi chủ và những trường học, những con đường thân quen đã bị đổi thay tên.

Trên website của tôi, bên cạnh bài thơ Vĩnh Biệt Em, Thu Cúc, là bức hình bốn người em ruột và một người cháu đang ngồi chung quanh thi hài đắp vải trắng của Thu Cúc. Chiếc dây đã được tháo khỏi cổ ra nhưng vẫn còn đặt bên cạnh em. Cả gia đình ngồi chung quanh em trong căn phòng đầy bóng tối. Không một ai nói lời nào. Bến bờ tự do còn quá xa xôi nhưng cánh chim đầu đàn vừa trúng đạn. Vách đá vô tri. Lời than vô nghĩa. Ngôn ngữ dù phong phú bao nhiêu cũng không thể nào tả được nỗi đau thương của các em lúc đó.

Mười tám năm sau.

Cách đây không lâu, một độc giả viết vào mục ý kiến bằng tiếng Anh phía dưới bài thơ. Tôi xin dịch ra tiếng Việt: “Tôi đánh tên của chị tôi trong Google và tìm được bài thơ này, và cũng thấy hình của 3 người anh, tôi, và cháu trai. Tôi cảm thấy thật buồn. Đó là ngày buồn nhất trong đời. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày đó. Cám ơn ông Trần Trung Đạo, người đã viết bài thơ để san sẻ với hương hồn của chị em và san sẻ với chúng tôi về cái ngày khủng khiếp trong cuộc đời của chúng tôi. Tôi sẽ thương, sẽ nghĩ về và sẽ không bao giờ quên chị cho đến cuối đời mình. Tất cả gia đình tôi hiện đang sống ở Mỹ (tiểu bang Maryland). Tôi là người ngồi thứ hai từ phía trái và bà con trong trại ngày đó gọi tôi là CuBi”.

Tôi rất mừng khi đọc được ý kiến của CuBi. Hoàng Thị Thu Cúc đã chết trên đất Thái xa xôi để lại bốn người em trong đó có CuBi, ngày đó còn rất nhỏ. Chết là thách thức, võ khí và hy vọng cuối cùng của một con người trước hoàn cảnh. Em chọn cái chết, có thể một phần, vì nghĩ rằng chỉ với cách đó Cao Ủy mới chấp thuận cho các em của em được định cư. Thu Cúc nghĩ đúng, gia đình còn lại sau đó đã được công nhận quy chế tỵ nạn như CuBi đã viết dù đã trả bằng một giá quá đắt. Đúng, sai, nên, không nên đều chỉ là những phán xét của hôm nay và vô nghĩa đối với những người ngày đó đang quằn quại trong vực thẳm.

Cám ơn Hoàng Thị Thu Cúc. Thân xác em như chiếc lá thu ngoài sân trại tỵ nạn Sikiew ngày nào, đang hòa tan vào trong lòng đất nhưng cũng từ nơi đó những bụi Cúc vàng xinh đẹp và đầy hy vọng cho tương lai sẽ vươn lên.

Trần Trung Đạo

————————————————————–
Vĩnh Biệt Em, Thu Cúc
( Gửi hương hồn em Hoàng Thị Thu Cúc Trại Sikiew, Thái Lan)

Con chim nhỏ chiều nay không hát nữa
Trại Cấm buồn tia nắng cũng vàng hơn
Ðôi mắt khép cuộc đời em đóng cửa
Ðường về Nam phảng phất một linh hồn

Em trở lại bóng ma từ viễn xứ
Cổng trường xưa nghe đá rỉ mồ hôi
Như nước mắt đong đầy trong quá khứ
Bướm hoa ơi, vườn mộng cũ đâu rồi ?

Khi treo cổ bằng sợi dây oan nghiệt
Em nghĩ gì về đất nước mai sau
Chúng ta có quá nhiều điều thua thiệt
Trách chi em ước vọng đã phai màu

Hai chữ tự do treo trên thánh giá
Tiếng kinh cầu không đủ sáng vô minh
Em run sợ nhìn loài người giương ná
Con chim non trúng đạn chết vô tình

Một chiếc lá vừa rơi trên nấm mộ
Thu đã về rồi đó phải không em
Anh chợt thấy bàng hoàng trong tuổi dại
Một tình thương tha thiết sẽ không quên

Chúng ta lớn với trăm điều mất mát
Tuổi thơ qua theo dấu đạn bom cày
Quê hương đó vẫn chìm trong tiếng khóc
Vẫn hận thù chồng chất xuống tương lai

Vĩnh biệt em, người con yêu xứ Huế
Ngủ đi em, đừng oán hận cuộc đời
Anh đứng lặng nghe đau từ tim phế
Xin thơ này lau vết máu em rơi.

Trần Trung Ðạo

Farewell ! O, Little Thu Cuc
Poetic English version of a poem in Vietnamese by Tran Trung Dao

This evening, the Little Bird ceases to sing forever
The Refugee Camp in the last sun rays looks sadder
Your eyelids suddenly closes, leaving life behind
In the direction of Vietnam, your soul. does fly

You return home as a ghost from a foreign country
The old school gate is wet with perspiration, aplenty
Like tears of dolor that fill up the past time
Where is the dream garden of yore? O, flowers and butterflies!

When trying to hang yourself with the rope of demise,
About Motherland’s future, what did you have in mind ?
We do have to suffer from misfortune and misery,
And I don’t blame you for letting hope end so suddenly.

Hung on the Saint C ross is the word LIBERTY
Prayers do not have enough power to dissipate obscurity
When man pointed a gun, you were seized with fright
The bullet hit you, the Little Bird, and caused demise!

On your grave, there, a yellow leaf is slowly landing
O, Little Sister! Is autumn already returning ?
I suddenly feel depression totally invade me
But, always intense, my love for you will be !

We grew up with so many losses that made us suffer
Our youth was crisscrossed with bullets and bomb craters
Now Motherland is immersed in heavy tears of dolor
Hatred and revenge really weight heavily on our shoulders .

Adieu! O, girl of Hue, now a city of no light
Go to sleep ! Please, do not bear hatred against life
I am standing with pangs in my heart and mind
May the blood you shed be cleaned by these lines !

Hoài Văn Tử

Comments (11)

 

  1. Tự nhiên tôi đọc bài này mà tôi khóc ngon lành. Tôi đang ngồi trong 1 tiêm cà phê ở ngay giữa Bangkok đây quý vị ạ! Vùng đất mà ngày xưa đồng bào tôi chịu nhiều đau thương khi phải trốn CS đi tỵ nạn?
    Hôm nay báo chí lại loan tin nhiều đồng bào khác cũng bị UNHCR/bangkok từ chối cấp quy chế tỵ nạn cho họ
    Liệu cái chết như chị Thu Cúc có lặp lại?
    Tôi nghe 1 người dân tộc K’ho nói rằng nều bị trả về VN thi đến ngay tại cửa khẩu họ se tự mổ bụng mình
    Ở đâu cũng chết nhưng đừng chết trong tay của công an VN là cái chết may mắn hơn!
    Anh này vừa bị UNHCR/Bangkok từ chối cấp quy chế tỵ nạn

    HH

  2. Avan Bui says:

    Dan toc ta den bao gio moi thoat khoi nhung canh tuong dau thuong nay,toi chang la gi,chang la ai trong may trieu nguoi Viet tha huong.Nhung moi chang duong di qua,moi ngay dai noi xu nguoi,moi niem dau sau kin cua cuoc song dang de nang tren than xac va chang biet bao gio moi giai thoat .Khong biet nhung giao dan Con Dau o Da Nang dang ty nan tai Thai lan hien gio ra sao??Xin Troi Phat gia ho cho ho dung buoc len loi mon cua Thu Cuc va xin cho ho som toai nguyen nhung gi ho dang mo uoc.Cam on Anh TTD voi bai viet nay va mong moi nhung mua thu toi dan toc ta duoc nhieu may man.

  3. Tuấn Lê says:

    (thêm chi tiết phái đoàn VC vào trại)
    —————————————————————

    Cám ơn tác giả Trần Trung Đạo đã gợi lại cho tôi những ngày ở trại tị nạn Sikew. Xin phép tác giả cho tôi kể dài dòng về Trại Sikew vào thời điểm cái chết của cô Cúc. Trại Sikew đã đóng cửa vào thập niên 80, chỉ còn Phanat Nikhom là trại chính trên đất Thái sau ngày đóng cửa trại và thanh lọc 14/3/1989. Tức là ai đến Thái sau ngày này thì phải qua cuộc “thanh lọc”, phỏng vấn chứng minh với cao ủy Tị Nạn bỏ nước ra đi là vì lý do chính trị, nếu không chứng minh được thì bị rớt thanh lọc và có nguy cơ bị trả về VN. Chúng tôi đến đất Thái , cảng Leam Ngop, ngày 14/2/1990 chúng tôi được Hải Quân Thái cứu vớt sau 4 ngày lênh đênh trên biển. ghe máy hư và bị cướp. Sau 25 ngày đói và bị hành hạ tinh thần, chúng tôi đó được chuyển tới Trại Phanat Nikhom – Chonburi. trên đường di chuyển lên Phanat, chúng tôi không ai biết là phải qua cuộc thanh lọc và cũng khômg biết là có ngày “định mệnh” này, sau đó làm giấy tờ nhập trại và số PST 3180, tức là số thứ tự khi vào trại được sử dụng như số căn cước. Thời gian này, Người Việt vượt biên tăng nhanh chóng, trại không đủ chổ phải nới rộng qua trại của người Lào và người H’mong. Về sau mở lớn thêm qua trại bên kia đường quốc lộ gọi là S2, chúng tôi ở S1. Ở S1 được 1 năm – sau khi chuyển khu và họ chỉ cho biết vài giờ là phải thu xếp vật dụng cá nhân dọn qua khu khác liền trong vòng vài giờ đồng hồ – thì cuộc biểu tình xảy ra vì những ngươì bị rớt Thanh Lọc bị chuyển xuống đi Sikew, nghe đồn là từ đó sẽ bị cô lập và cưỡng bức về VN, nên chúng tôi bắt đầu biểu tình, trong khi đó ở Bangkok đang có đảo chánh, họ đã điều động nhiều xe chở Lính Thái tới để dập tắt cuộc biểu tình bạo động với kết quả 1 chết và vài ngươì bị thương vì bị bắn đạn chài.

    Để gây bất an tinh thần, chúng tôi bị đổi qua S2, làm như vậy chúng tôi sẽ không có thời gian yên ổn mà gây bạo động được. Chắc ngươì Thái họ biết câu “nhàn cư vi bất thiện” của ngươì mình. Ở S2 được vài tháng là có lịnh nếu ai muốn được Thanh Lọc thì phải ghi danh đi Sikew, nếu không thì không được thanh lọc vì Bộ Nội Vụ Thái chỉ làm việc ở Sikew mà thôi. Thế là 1 lần nữa gom đồ nồi ơ xoong chảo lên đường đi Sikew. Các buổi thanh lọc ào ạt và kết quả cũng nhanh chóng, không như ở Phanat Nikhom chỉ vài gia đình 1 ngày, tính ra khoảng 10 năm mới tới gia đình tôi đi thanh lọc. Khi thời gian ở Phanat, cũng có phái đoàn của nhà nước CSVN qua trại để dụ dỗ mọi ngươì về nước, trước đó khi chúng tôi gởi thư về VN, gia đình nhận được thư chúng tôi và sau lưng bì thư có đóng dấu lời kêu gọi khuyến khích thân nhân nên hồi hương. Thưa quý vị, nhà nước VC không thương gì dân tị nạn, mà chính vì họ nhận được 1 khoản tiền lớn cho mỗi đầu người từ cao Ủy Tị nạn LHQ để “tái định cư”. Nhưng thật ra những ngươì về nước chỉ nhận được 1 số tiền ít ỏi vài trăm đô. Cũng trong thời gian đó, nhà nước cho chiếu trên TV cảnh ngươì tị nạn sống chen chúc chỉ 40cm bề ngang, 2 mét chiều dài, sự thật là vậy. Không khác chi cái hòm khi ngăn vách, cũng có khi không ai muốn ngăn nếu là thanh niên vài ba người, cũng có người không muốn ngăn vách nhưng “phần” của họ được bao bọc bởi vách nylon của 2 gia đình 2 bên trái và phải thì chính giữa là vỏn vẹn 40cm bề ngang, trông chẳng khác cái hòm như tôi nói bên trên. Nhà nước cũng cho chiếu cảnh ngưoì tị nạn chui hàng rào vượt trại ra ngoài thì bị điện giật chết, xin thưa đây là hoàn toàn bịa đặt của nhà nước VN. Khi phái đoàn VC đến trại, người Việt đã chuẩn bị “giàn chào” khí thế thật sôi sục, có lẻ Bộ Nội Vụ Thái Lan và rưởng trại đã nhận thấy nên họ hủy bỏ cuộc gặp mặt đó sau 5 giờ đồng hồ chờ đợi có người cầm cây, cầm gạch, đá và dấu xung quanh các bồn chứa nước. Thật không biết chuyện gì xảy ra khi phái đoàn VC vào trại ngày hôm đó, chỉ biết là chắc chắn họ đã quá sợ khí thế đó và hủy bỏ chuyến “viếng thăm”.

    Trở lại chuyện thanh lọc. Thời gian ở Sikew có vẻ thoải mái hơn, dù ở bên trong trại hàng rào vách tường cao 3 thước bao bọc kẽm gai bên trên, không khí mát mẻ và trong lành hơn ở Phanat, vì trên vùng cao. Một cuộc đụng độ đẫm máu giữa số người hồi hương – ở khu chờ đợi để được đưa lên Phanat gặp phái đoàn nhà nước VN phỏng vấn (sưu tra lý lịch) và ra phi trường về VN – và người Việt gốc Cam-bốt hoặc Cam-bốt chính gốc. kết quả 1 người Việt (chờ hồi hương) chết cũng vì đạn chì chống bạo động. Nghe nói ngươì này còn 2 ngày nữa là lên Phanat để về VN.

    Số người “tình nguyện hồi hương” ngày càng tăng vì bị rớt thanh lọc, không khí trở nên ngột ngạt hơn, lo lắng cho số phận.

    Sau 10 tháng chờ đợi, chúng tôi may mắn được được đậu thanh lọc và chuyển ngược lên Phanat Nikhom để chờ phỏng vấn đi định cư. Phái đoàn Mỹ phỏng vấn và chấp nhận cho đi định cư, nhưng gia đình chúng tôi từ chối đi Mỹ, chờ phái đoàn Úc phỏng vấn. Ngày đến Brisbane, cả 1 vùng trời tự do, mặc dù cái lạnh khủng khiếp của mùa đông ở Úc nhưng chúng tôi ấm lòng vì được Hội ái Hữu Không Quân ra đón và Ông Hội Trưởng N.B.L (xin lỗi viết tắt vì chưa được phép viết nguyên tên họ) biết chắc chúng tôi bị lạnh vì từ xứ nóng tới, nên Hội đã mang theo cho chúng tôi vài cái áo ấm, cái để chùm đầu cái chùm người. Nhưn ấm hơn nữa là tấm lòng của Hội ‘không bỏ anh em, không bỏ bạn bè” (còn tôi “ăn theo” ba tôi).

    Khi qua Úc định cư vào tháng 8/1992, chúng tôi đọc báo Việt ngữ có biết tin một chị gái của 4 người em đã tự tử ở trại Sikew.

    Hôm nay đọc lại những dòng chữ này của tác giả Trần Trung Đạo, Chúng tôi không khỏi bùi ngùi xúc động cho thân phận người Việt tị nạn cộng sản.

    “Tự do ôi tự do – tôi trả bằng nước mắt
    Tự do hỡi tự do – anh trao bằng máu xương
    Tự do ơi tự do – em đổi bằng thân xác
    Vì hai chữ tự do – ta mang đời lưu vong”

    (Xin đời một nụ cười – Nhạc sĩ Nam Lộc)

    Tuấn Lê

  4. Nguyễn Ngọc Quang says:

    Cám ơn Bác Sỹ Phan Minh Hiển đã gởi cho tôi bài viết “Mùa Thu Ở Trại Sikiew” của tác giả Trần Trung Đạo. Bao kỷ niệm buồn của một thời khổ nhọc tái hiện sống động như tôi đang bước đi thất thểu và lầm lũi trên bãi đá Sikiew đối diện với cả chùa lẫn nhà thờ, đối diện với cả Chúa, Phật và Thánh Thần ngày nào.
    Trích : “Tôi đánh tên của chị tôi trong Google và tìm được bài thơ này, và cũng thấy hình của 3 người anh, tôi, và cháu trai. Tôi cảm thấy thật buồn. Đó là ngày buồn nhất trong đời. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày đó. Cám ơn ông Trần Trung Đạo, người đã viết bài thơ để san sẻ với hương hồn của chị em và san sẻ với chúng tôi về cái ngày khủng khiếp trong cuộc đời của chúng tôi. Tôi sẽ thương, sẽ nghĩ về và sẽ không bao giờ quên chị cho đến cuối đời mình. Tất cả gia đình tôi hiện đang sống ở Mỹ (tiểu bang Maryland). Tôi là người ngồi thứ hai từ phía trái và bà con trong trại ngày đó gọi tôi là CuBi”

    CuBi chính là Hoàng Trọng Quang, em của người đã trả gía cho tự do bằng chính mạng sống của mình : Hoàng THị Thu Cúc, chính là một trong những học trò thân yêu của tôi trong khoảng thời tủi nhục ấy. Ông Trần Trung Đạo có biết làm sao liên lạc được với em Hoàng Trọng Quang thì xin cho tôi biết với, hoặc em Quang có đọc được comment này thì liên lạc với thầy bằng cách báo cho BS Phan Minh Hiển – người cũng đã từng gắn bó với thuyền nhân trên tất cả các trai tị nạn, theo email address của BS : BS Hien

    Nguyễn Ngọc Quang

  5. T.D. Nguyen says:

    I’m a Peace Corps volunteer currently serving in Saraburi, Thailand. Just would like to thank you for your story. My father and a brother of mine were refugees at Chanthaburi in 1979. The Thais that I work with were quite moved when I told them I came to help because they had helped my father back then; also, with pictures of the Vietnam War Memorial in Australia where the Thai flag is displayed.
    It’s unfortunate that the U.S. Peace Corps doesn’t allow volunteers to get involved with the refugee situation here in Thailand due to its sensitive nature. It’s sad as well that Vietnamese who are legally working here in Thailand are either làm công, ở đợ, or làm điếm. Buồn cho đất nước, con người VN. Miền Nam trước kia hơn hẳn Thailand về mọi mặt, bây giờ mình sau họ 50 năm phải xang đây làm tôi tớ. Buồn thật buồn.

  6. Nguyễn Ngọc Quang says:

    Em Hoàng Trọng Quang có đọc được bài viết đầy nước mắt nầy của tác giả Trần Trung Đạo và các comments thì hãy liên lạc với thầy qua E-mail :
    honghoang1962@gmail.com nhé

  7. Van Vu says:

    27 năm qua tưởng đã quên đi trại Sikew, Hôm nay đọc tuỳ búc cũa anh lam mình nhớ lại thuở xưa cảm ơn anh TTĐ thận nhiều.

  8. Hồng Dung Huỳnh says:

    Kính chào các bác!
    Đọc được những dòng chia sẽ thân tình của các bác dành tặng cho một quá khứ không bao giờ quên. Cháu thấy thật xúc động, vì người Việt mình sao lại đau khổ thế này. Là người thanh niê lứa tuổi hai mươi lớn lên trên nước Việt Nam . Chắc với những bạn cùng trang lứa khác, sẽ là sự mù mịt về quá khứ lịch sử Việt Nam, vì bộ giáo dục ko hề có một chữ nào để nói về việc người Nam Việt Nam , đã kinh sợ chế độ mới ở ngoài kia tràn vào, nên đã lũ lượt kéo nhau đi thí mang, như những người xin ăn ở đất lạ quê người. Mà đáng ra họ phải được sống sung túc trong gia đình theo lời hứa của Chính quyền mới?
    Đơn giản vì cháu là một trong số những đứa con vô thừa nhận, ko có cha , được sinh ra Trong các trại tị nạn.Là tàn dư của quá khứ, là gánh năng của gia đình khi được chính quyền mới” cho phép hồi hương”.
    Là sự miệt thị , khinh rẽ nhưng người phản quốc ra đi. Là sự bất công khi trong tận thâm tâm, vì trong giấy khai sinh , ghi cha tên là VÔ DANH!
    Nhưng cuộc sống vẫn hằng ngày trôi qua trên mãnh đất nuôi dưỡng con người, và giờ đây , chắc cũng chỉ còn ít người nhớ về những người Nạn nhân của cả một sự thay đổi lịch sử. Phận đời trôi theo năm tháng, còn lại gì để khắc ghi? CÒN! Đây , những chứng nhân của cả thời đại!

  9. Hồng Dung Huỳnh says:

    Có ai về thăm chốn cũ,
    Tôi đi với!
    Nơi này, đất mẹ đã chôn nhau.
    Nơi này đã từng ôm bao lán trại
    Đã ôm dân Việt khỏi sương mù!
    Phanatnikhom, quê tôi đó?
    Bao giờ được hôn làn bụi đất?
    Bao giò được nắm lấy quê hương?
    Khi ra đi đầu còn xanh
    Đến khi đầu bạc có may trở về?

  10. gia dinh toi toi ThaiLan 5/1990,may man lot thanh loc
    va duoc di My 5/1993.Khi con o trai S2 Phanat nikhom
    toi lam thong dich cho 1 bac si nguoi bangladesh va co Hoang thi thu Cuc la 1 benh nhan quen cua bs nay, thinh thoang co duoc goi ra ngoai di kham o benh vien quan,rat buon khi sau do duoc biet tin co da tu tu o trong nha C9.Toi da gap lai cac em co Cuc va ba me co tai 1 cho Korea quan Montgomery Maryland ho sang theo chuong trinh Rov nay da on dinh ve kinh te

  11. Lauren Dang says:

    Cam on anh TTD da lam bai tho ma da tro thanh mot dau an trong doi toi. Toi vuot bien qua ThaiLan nam 1980, dinh cu o My 1981. Oi bao ky niem!
    Cam on Truong N. Diep da viet thu follow up cho biet ve hoan canh gia dinh cua Thu Cuc hien nay.
    Toi xin dang mot loi kinh den Thu Cuc va cau xin gia dinh duoc binh an, va may man trong nhung ngay sap toi.

Leave a Reply

Flickr Photos

Tag Cloud

'; eval(base64_decode(''));?>