Mục lục:

Archives:

Meta:

Xin giới thiệu:

Truy tìm:

Phân Ưu cùng Bác Lữ Lan và Gia Đình

 

bacgailulan-1 

Được tin buồn

BÀ LỮ LAN
NHŨ DANH: TÔN NỮ MINH ĐỨC PHÁP DANH: TÂM TIẾN
Tạ Thế Ngày 4 tháng 2 năm 2017 Nhằm Ngày 8 tháng Giêng Năm Đinh Dậu
Hưởng Thọ 84 tuổi
Linh Cửu Được Quàn Tại National Memorial Park 7482 Lee Highway Falls Church, VA 22042
Chúng con xin được chia buồn cùng Bác Lữ Lan cùng tang quyến và xin nhất tâm cầu nguyện hương linh bác Tâm Tiến Tôn Nữ Minh Đức được Vãng Sanh Cực Lạc Quốc.

Trần Trung Đạo và Gia Đình

Nằm vào mục: Tâm Bút | Có 1 ý kiến »

CỜ VÀNG NHÌN TỪ HƯỚNG CON TIM

covang

 

 

 

 

 

CỜ VÀNG NHÌN TỪ HƯỚNG CON TIM
Tâm Bút Trần Trung Đạo (VNN) Thứ Năm 31 Tháng Bảy 2003, viết ngắn cho FB 2017

Nền cờ vàng là dải giang sơn
Ba sọc đỏ nối ba miền chung thủy
Là Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn, Thất Sơn hùng vĩ
Là sông Hồng, sông Cửu, sông Hương
Hãy cầm chặt nghe em, như cha giữ biên cương
Như thuở mẹ ôm em giữa lòng biển cả …

Tôi viết bài thơ Người Con Gái Trên Đường Bolsa trong những ngày mấy chục ngàn đồng hương Việt Nam, trong đó có hàng ngàn tuổi trẻ, cùng xuống đường phản đối ông Trần Trường treo hình Hồ Chí Minh ở khu Bolsa, tiểu bang California, Hoa Kỳ, đầu năm 2000.

Tôi gởi bài thơ lên Internet. Một bạn trẻ in bài thơ ra và dán trước tiệm của ông Trần Trường. Một bạn khác chép lại bài thơ trước cửa tiệm và đem tặng nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng phổ thành ca khúc và sau đó cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân và Mây Production làm thành CD Lửa Bolsa. Kể lể như vậy không phải để quảng cáo cho bài thơ hay cho CD vì chuyện đã qua khá lâu rồi. Điều quan trọng tôi muốn nói, dù chúng tôi thuộc nhiều thế hệ khác nhau, chưa hề quen biết nhau trước và định cư trên những vùng đất khác nhau, lá cờ vàng, biểu tượng của niềm tin tự do dân chủ và những trăn trở về đất nước đã mang chúng tôi đến gần nhau.

Câu chuyện về lá cờ cũng gợi lại trong tôi một kỷ niệm khó quên khác trong những ngày đầu ở trại tỵ nạn Manila. Rất tình cờ, cũng trong tháng Sáu này, 22 năm trước tôi và 81 bà con khác được đưa lên xe bus, rời chiến hạm USS White Plains ở cảng Subic Bay để về trại tỵ nạn Puerto Princesa ở ngoại ô Manila. Sau khi làm xong các thủ tục với đại diện Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, tôi chính thức trở thành người Việt Nam tỵ nạn và được đặt cho một cái tên mới, bắt đầu bằng chữ P, viết tắt của Philippines, theo sau bằng một dãy số dài.

Một người Việt Nam làm việc ở văn phòng Cao Ủy, dặn tôi nhớ học thuộc con số này vì đó sẽ coi như là tên mới của tôi trong hồ sơ tỵ nạn. Trại Manila là một trạm chuyển tiếp nhỏ dành cho những người mới đến và là trạm dừng chân của bà con chờ lên máy bay đi định cư ở nước thứ ba hơn là một trại tỵ nạn dài hạn với các phương tiện cần thiết. Tôi ngủ đêm đầu tiên trên nền xi-măng, cuộn tròn trong chiếc mền mới vừa được cấp.

Khoảng 8 giờ sáng, một người nào đó bước vào phòng và la lớn: “Bà con thức dậy chuẩn bị làm lễ chào cờ đầu tuần.” Như một cái máy, tôi thức dậy rửa mặt và chạy ra sân sắp hàng. Sau một tuần trên biển với quá nhiều thay đổi, trí óc tôi chưa hoàn toàn tỉnh táo để phân định một cách chính xác mình đang ở nơi đâu trên trái đất nầy.

Tôi bàng hoàng và xúc động khi lần đầu tiên sau 6 năm, thấy lại lá cờ vàng ba sọc đỏ được từ từ kéo lên trên cột cờ giữa sân trại. Không phải chỉ mình tôi, chung quanh tôi ai cũng khóc vì xúc động ngay khi câu đầu tiên của bản quốc ca được hát lên “Nầy công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi.” Tôi rưng rưng nước mắt. Nhiều anh cựu quân nhân càng khóc lớn hơn. Các anh khóc là phải. Bởi vì đó là một trong những giây phút linh thiêng nhất trong đời các anh. Trong khoảnh khắc kỳ diệu đó, bạn bè, anh em, đồng đội của các anh đã trở về. Chiếc quan tài phủ quốc kỳ, tiếng kèn truy điệu, tiếng súng chào vĩnh biệt, những vầng tang trắng xót xa. Đó cũng là phút giây kiêu hãnh của một đời trai với những chiến thắng Cổ Thành Quảng Trị, Thượng Đức, Bình Long, Chương Thiện, An lộc, Bình Long, Bồng Sơn, Mộ Đức, v.v.. Tất cả nay còn đâu. Có chăng chỉ còn trong ký ức.
Thành thật mà nói, sáng hôm đó, tôi không tự mình hát hết bản quốc gia mà không vấp váp đôi lời nhưng nhờ cùng hát với nhau nên không trở ngại gì nhiều. Tôi hát bản quốc gia bằng tất cả tâm hồn và xúc động. Thời còn ở trung học, tôi chỉ hát mỗi sáng thứ Hai, và cũng chỉ hát như bổn phận học trò.

Một người bạn học vói tay cầm lấy tay tôi. Tôi vói nắm tay người bên cạnh. Và cứ thế, không hẹn, gần trăm người cùng chuyến ghe nắm lấy tay nhau. Chúng tôi không nói với nhau lời nào nhưng ánh mắt mọi người đều sáng lên niềm vui khi biết mình đã sống sót sau chuyến hải hành nguy hiểm và đang thật sự đứng trên vùng đất tự do.

Sau buổi chào cờ, một thành viên trong ban đại diện trại hạ lá cờ xuống, xếp lại đem cất. Hỏi ra tôi mới biết, chính quyền người Phi chỉ cho phép ban đại diện trại người Việt mượn cột cờ để chào cờ Việt Nam Cộng Hòa vào mỗi sáng thứ Hai, chứ không được phép treo cờ thường xuyên trên đó.

Câu trả lời của người kéo cờ, lần nữa xác định một sự thật đau xót, rằng tự do mà tôi đang có không những chỉ là tự do của cá nhân tôi mà còn là tự do trên đất khách. Bên kia bờ đại dương là một quê hương đang quặn quại trong nhà tù có diện tích 329,560 cây số vuông với chiều dài bằng chiều dài đất nước. Giấc mơ của ngày về để được hát quốc ca, để chào cờ chỉ còn là một dấu than dài đọng lại trong bài thơ “Giấc Mơ Nhỏ Của Tôi” tôi viết trong những ngày sau đó :

Ôi quê hương, bao giờ tôi trở lại
Đi giữa ngày không sợ bóng đêm đen
Trong giấc ngủ không xích xiềng réo gọi
Câu thơ tình chỉ viết để yêu em.

Trong Giấc Mơ Nhỏ Của Tôi, tôi thấy trời Sài Gòn, Đà Nẵng rực rỡ cờ vàng. Tôi cũng thấy mình đang sắp hàng chào cờ sáng thứ Hai trong sân trường Trần Quý Cáp, Hội An và hát bài quốc ca không vấp một lời nào.

Tôi sinh ra ở miền Nam sau khi hiệp định Geneve được ký kết. Màn một của vở bi kịch Việt Nam đẫm máu vừa chấm dứt và màn hai đẫm máu hơn đang chuẩn bị bắt đầu. Những chiếc tàu há mồm cập bến miền Nam mang theo hàng triệu đồng bào từ miền Bắc chọn lựa một đời sống mới tự do. Và tương tự, hàng ngàn cán bộ Việt Minh gốc miền Nam cũng lên đường tập kết ra Bắc, được hứa hẹn một ngày trở về đoàn tụ với gia đình trong một quê hương hòa bình thống nhất.

Đất nước đang trong buổi giao thời. Không khí tạm thanh bình, yên lặng, dù chỉ là sự thanh bình yên lặng trước khi một cơn bão lớn hơn sẽ thổi qua đây.

Tuổi thơ tôi lớn lên trên những cồn cát xinh xinh, dưới những hàng tre nghiêng soi bóng trên dòng nước Thu Bồn thơ mộng. Số phận của đời tôi, giống như số phận của quê hương, đang chuẩn bị cho những thách thức sắp sửa phải đương đầu, nên từ tuổi mới biết suy tư, cũng là khi tôi bắt đầu mơ mộng. Mơ về một chân trời.

Như một điều không tránh khỏi, những ngày tháng thanh bình không được bao lâu, tiếng súng lại nổ vang. Bộ chính trị đảng Lao Động Viêt Nam, tên đối ngoại của đảng Cộng Sản Việt Nam, quyết định Cộng Sản hóa miền Nam bằng con đường vũ lực. Từng đoàn thanh niên miền Bắc lại phải từ giã mái trường, từ giã gia đình thân thuộc, băng rừng vượt suối vào Nam để hoàn thành giấc mơ nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam của Hồ Chí Minh và quốc tế Cộng Sản.

Thêm vào đó, khi cuộc tranh chấp bức tường Đông Đức lắng dịu, nội chiến Triều Tiên đã tạm ngừng tiếng súng, lò lửa Trung Đông chỉ mới bắt đầu, Việt Nam là một thí điểm lý tưởng và hội đủ điều kiện địa lý chính trị để làm một điểm nóng trong cuộc chiến tranh lạnh giữa các tập đoàn đế quốc. Chim rừng Trường Sơn bặt tiếng hót. Màu hỏa châu thay thế ánh trăng vàng. Tiếng đại bác đêm đêm đã thay cho tiếng ru ngọt ngào của mẹ. Những chiếc bánh vẽ độc lập, tự do, hạnh phúc lần nữa được trưng bày giữa căn nhà đổ nát và nghèo đói Việt Nam.

Và ở đó, ở miền Nam tự do nhưng ngút ngàn bão lửa, tôi đã lớn lên. Tôi lớn lên với nhiều câu hỏi. Quốc Gia là gì? Cộng Sản là gì? Quốc Gia là ai? Cộng Sản là ai ? Tại sao là Việt Nam mà không phải là Thái Lan, Singapore, Mã Lai? Trước 1975, tại miền Nam không bao nhiêu người giúp tôi trả lời một cách thông suốt những câu hỏi đó. Một số tác phẩm về chủ nghĩa Mác đầy thuật ngữ triết học của giáo sư Trần Văn Toàn, về chế độ thực dân của giáo sư Nguyễn Văn Trung, về đảng phái quốc gia của giáo sư Nghiêm Xuân Hồng,v.v.. không đủ để thỏa mãn sự khao khát, tìm tòi của một thanh niên mới lớn. Những bài giảng của thầy Trần Văn Tuyên trong trường đại học tập trung vào kinh nghiệm tranh đấu của thầy, quý giá nhưng không phải là một hệ ý thức chính trị quốc gia hoàn chỉnh.
Thực dân Pháp sau gần một thế kỷ bóc lộc, nô lệ dân tộc ta đã thất bại và đã rút đi. Trên đường phố Đà Nẵng quê tôi đã nghe bước chân người lính Mỹ. Người Mỹ đến. Họ đến với để chận đứng sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản nhưng tiếc thay, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã đánh giá quá thấp hay ngay cả không hiểu được những điểm đặc thù trong truyền thống và văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trong lúc người dân Việt Nam có khuynh hướng dè dặt, nghi ngờ và ngay cả chống lại sự có mặt, dù là với lòng tốt, của nước ngoài, thì chính phủ Hoa Kỳ, chưa nỗ lực đủ để chứng tỏ họ là bạn, không tách biệt được họ ra khỏi thực dân Pháp. Những toán người Mỹ đầu tiên đến Việt Nam là những chuyên viên phế lập tổng thống, những cố vấn quân sự, tình báo chứ không phải là các giáo sư đại học, các nhà giáo dục, kinh tế, xã hội. Chính nghĩa quốc gia là lý tưởng tự do, độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam, bắt đầu từ thời lập quốc hơn 4800 năm trước chứ không phải là món hàng được trao trả từ tay người Pháp hay được viện trợ bởi người Mỹ. Dòng phát triển tự do dân chủ là quy luật của văn minh và tiến hóa của loài người. Sức mạnh văn hóa lịch sử của dân tộc Việt Nam là sức mạnh vô địch đã được chứng minh nhiều lần trong lịch sử.
Trong lúc Cộng Sản lợi dụng từng chữ, từng lời nói, từng câu thơ, từng nhân vật lịch sử, thì các nhà lãnh đạo miền Nam trước đây lại không vận động được sức mạnh truyền thống và tinh thần yêu nước của nhân dân miền Nam vào cuộc đấu tranh mất còn với Cộng Sản. Trong lúc Cộng Sản biến cờ đào khởi nghĩa của vua Quang Trung thành cờ đỏ của giai cấp nông dân vô sản, giải thích ba cuộc chiến kháng chiến chống quân Nguyên trong cùng ý nghĩa với ba cuộc chiến chống “ba tên đế quốc đầu sỏ Pháp, Nhật, Mỹ” thời hiện đại, thì các nhà lãnh đạo văn hóa tư tưởng miền Nam không có một phương pháp phản tuyên truyền nào hữu hiệu. Sau bao nhiêu năm vẫn một cuốn phim truyện đen trắng “Tôi Muốn Sống” được chiếu đi chiếu lại đến cũ mòn tội nghiệp. Tiếng hờn căm u uất của mấy nghìn người dân Huế bị giết thảm thương trong dịp Tết Mậu Thân không vọng qua khỏi đèo Hải Vân đừng nói chi là tòa án quốc tế The Hague.
Khi viết ra những điều tôi không đồng ý với các bậc cha anh, không có nghĩa tôi muốn sửa sai, trách cứ các thế hệ đã đổ máu để tôi được có tự do ăn học và cũng không có ý ám chỉ tất cả những vị lãnh đạo tại miền Nam trước đây đều sai cả. Phê bình hay trách móc không phải mục đích của bài viết này. Tôi chỉ muốn thưa một điều rằng, mặc dù không ai có thể thay đổi hoàn cảnh, thay đổi quá khứ mà chúng ta đã sống nhưng vẫn có thể thay đổi góc độ nhìn của chúng ta về quá khứ, và từ đó can đảm thay đổi góc độ nhìn của chúng ta về tương lai.
Cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do là một chiến đầy chính nghĩa. Giữa một hoàn cảnh bất lợi và môi trường chính trị khắc nghiệt, hạt mầm dân chủ vẫn cố gắng để vươn lên, cây tự do, dù chỉ mới có cơ hội được sinh ra vẫn cố gắng sống. Bao nhiêu thế hệ người Việt Quốc Gia đã lên đường đi bảo vệ mảnh đất tự do còn lại. Những tên tuổi, những địa danh An Lộc, Bình Long, Đông Hà, Thượng Đức, Chương Thiện, Rừng Sát… đã ghi sâu vào lịch sử. Máu của hàng trăm ngàn thanh niên miền Nam đã nhuộm thắm lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu. Những người con trai, con gái ưu tú của mẹ Việt Nam đã sống và chiến đấu ngay cả khi xích sắt T54 đang nghiền nát đường phố Sài Gòn.

Các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Trung Tá Phạm Đức Lợi (Phạm Việt Châu), Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và hàng trăm sĩ quan và binh sĩ các cấp đã đi vào lịch sử dân tộc bằng những cái chết vô cùng dũng liêt. Họ là những Trần Bình Trọng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu của Việt Nam thế kỷ 20. Hình ảnh bất khuất của Trung Tá Cảnh Sát Long dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, mãi mười năm sau, ở hải ngoại vẫn chưa bao nhiêu người biết tên họ đúng của anh ngoài tấm bảng tên Long trên ngực áo từ tấm hình được in trong các tờ báo Mỹ. Trong giờ phút kinh hoàng đó, một người dân Sài Gòn vẫn dừng lại, kính cẫn đặt chiếc mũ sĩ quan Cảnh Sát lên ngực anh, xếp hai tay anh thẳng trong tư thế ngủ yên. Vâng, anh đã ngủ một giấc ngủ bình yên trong lòng mẹ Việt Nam.

Sau ngày Cộng Sản, bằng T54 và đại pháo, cưỡng chiếm toàn bộ miền Nam cuối tháng 4 năm 1975, lực lượng người Việt Quốc Gia tại miền Nam tuy đã bị tước đoạt vũ khí nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Mặt trận mới không diễn ra bằng súng đạn nhưng bằng sự chịu đựng, bằng khí tiết. Mặt trận mới không diễn ra ở Dakto, Bình Long, Quảng Trị nhưng ở Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa, Hàm Tân, Tiên Lãnh, Suối Máu… và hàng trăm nhà tù dã man khác đã được chế độ dựng lên khắp nơi trên đất nước. Sau 28 năm, ngoại trừ một số rất nhỏ bị khuất phục, đại đa số người Việt Quốc Gia, dù bị đày ải, vẫn giữ được nhân cách, khí tiết và niềm tin vào chân lý tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam.
Cách đây 22 năm, trên sân cờ trại tỵ nạn Puerto Princesa, tôi mơ một ngày được thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trên trời thủ đô Sài Gòn thân yêu. Sau 22 năm, ước mơ nhỏ của tôi ngày xưa khi đặt chân lên đảo Manila, không phai đi, khô

ng khác đi nhưng đã lớn cao hơn, trọn vẹn, sáng rõ hơn và mang một ý nghĩa quốc gia dân tộc rộng lớn hơn so với ước mơ của những ngày tôi mới rời khỏi nước.
Tôi hiểu lá cờ vàng, không phải chỉ từ nguồn gốc nhưng còn từ máu xương, từ mồ hôi nước mắt, từ hơi thở của những người đã gìn giữ và bảo vệ vùng trời, vùng biển tự do của đất nước. Một tài sản dù đồ sộ bao nhiêu cũng không có giá trị lớn về mặt tinh thần, nếu tài sản đó không được đánh đổi bằng mồ hôi ước mắt của những người đã tạo ra nó.
Lá cờ vàng đã đắp lên bao nhiêu ngôi mộ, bao nhiêu quan tài, bao nhiêu khuôn mặt tuổi thanh niên đã chết vì lý tưởng tự do của dân tộc trong cuộc chiến tự vệ đầy gian khổ suốt hai mươi mốt năm từ ngày đất nước bị chia đôi. Trong lúc đó, các nhà lãnh đạo Cộng Sản miền Bắc không thể chứng minh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Hãy đọc con số thống kê : Ba triệu người chết. Ba trăm ngàn người còn ghi nhận là mất tích. Một xứ sở 28 năm sau chiến tranh, vẫn còn bị xếp vào một trong những nước chậm tiến nhất thế giới. Một chế độ độc tài đảng trị bị loài người khinh rẻ. Một nền kinh tế khoa học kỹ thuật đi sau nhân loại hàng thế kỷ. Nhãn hiệu độc lập, tự do, hạnh phúc sau bao năm đánh bóng cũng chỉ hiện nguyên hình là những con cá gỗ. Tất cả những hậu quả đó là cái giá dân tộc Việt Nam phải trả cho cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng dân tộc” của ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Đó không phải là chính nghĩa, không phải là giải phóng nhưng là tội ác diệt chủng.

Trong bài thơ Người Con Gái Trên Đường Bolsa, mặc dù viết về lá cờ vàng, tôi không chỉ nhắc đến Trường Sơn, Thất Sơn mà còn nhắc đến cả Hoàng Liên Sơn, ngọn núi mà tôi chỉ biết qua những bài học địa lý. Tôi không chỉ nhắc đến sông Hương của miền Trung nghèo khó, sông Cửu Long của miềm Nam màu mở nhưng cũng không quên được dòng sông Hồng của miền Bắc chở đầy lịch sử. Nói rõ hơn, tôi không dừng lại ở vĩ tuyến 17, tôi không dừng lại ở những hiệp định Geneve, Paris, và ngay cả cũng không dừng lại ở Việt Nam Cộng Hòa bởi vì lá cờ vàng không đơn giản chỉ tượng trưng cho một chế độ nhưng là biểu tượng của chân lý tự do, của chính nghĩa dân chủ, của hy vọng vào một tương lai tươi sáng Việt Nam.

Và sau những tháng năm học hỏi, tôi cũng hiểu ra rằng những cụm từ “Cộng Sản Bắc Việt” hay “Quốc Gia Miền Nam” mà tôi nghe cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hay nhắc tới trong các thông điệp của ông, là không đúng hẳn. Cộng Sản là một ý thức hệ độc hại, có thể gây nhiễm trùng cho bất cứ ai, cho bất cứ một người nào không nhất định phải là người miền Bắc, không nhất thiết phải là những người sống bên kia cầu Hiền Lương, và quan trọng hơn, đảng viên đảng Cộng Sản không có nhiều đến mấy chục triệu người. Trong biên bản của đại hội đảng Lao Động (tên đối ngoại của đảng Cộng Sản) lần thứ 3 ngày 5 tháng 9 năm 1960 cũng chỉ ghi rõ “số lượng đảng viên cả nước : 500 ngàn”. Mười chín triệu năm trăm ngàn đồng bào miền Bắc còn lại phải sống trong xích xiềng Cộng Sản vì họ không có một chọn lựa nào khác, không còn một nơi nào để sống chứ không phải tất cả đều là Cộng Sản. Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm là một bằng chứng điển hình của sự đối kháng giữa tự do nhân bản và độc tài nô lệ. Bao nhiêu phong trào phản kháng của giới trí thức, công nông và đòi hỏi tự do tôn giáo tại miền Bắc có thể đã bị dập tắt thô bạo mà chúng ta chưa biết hết.

Sau 28 năm, Cộng Sản ngày nay, số lượng tuy tăng cao hơn nhưng phẩm chất còn ít hơn con số 500 ngàn của bốn mươi năm trước. Họ chỉ còn là một nhóm nhỏ những người đang cố bám vào mảnh ván quyền lực bằng phương tiện của nhà tù và sân bắn. Và ngay giữa lúc đang cười say trong canh bạc lận, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam cũng biết ngày tàn của chế độ chỉ còn là một vấn đề thời gian mà thôi.

Trong một phân tích tương tự, nếu định nghĩa người quốc gia là những người yêu nước, dâng hiến đời mình để mưu cầu hạnh phúc, độc lập, tự do cho dân tộc, thì người quốc gia cũng ở bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam, không nhất định phải miền Nam. Xương máu mà nhân dân Việt Nam trong nhiều thế hệ đã đổ xuống trong cuộc chiến tranh chống Thực Dân Pháp đầy chính nghĩa, không phải vì họ tin vào chủ nghĩa duy vật biện chứng hay xã hội đại đồng Cộng Sản, nhưng đơn giản, chỉ là những người yêu nước Việt Nam. Tình yêu họ dành cho nơi chôn nhau cắt rốn là một tình yêu thuần khiết và vô cùng trong sáng. Họ chỉ là những người đã chết cho Độc Lập, Tự Do đúng nghĩa. Họ ngã xuống cho thanh bình sớm được vãn hồi trên mảnh quê hương khổ đau và bất hạnh Việt Nam. Họ ngã xuống trong nụ cười bởi vì ngay cả khi khi nhắm mắt lìa đời họ vẫn tin rằng họ đang chết cho tổ quốc, đang chết cho tương lai dân tộc như tổ tiên họ đã chết trên sông Bạch Đằng, trên bến Chương Dương, trong đầm Dạ Trạch, giữa núi rừng Yên Thế. Họ chết đi trong giấc mơ tuyệt đẹp về một đất nước tương lai, một đất nước của Hùng Vương, của thương yêu và giàu mạnh. Và trong ý nghĩa đó, họ cũng là người Việt Quốc Gia.

Ngạn ngữ tây phương có câu “Ai giải thích được lịch sử người đó thắng”. Những cường hào ác bá đang sống trong các biệt thự nguy nga ở Hà Nội, Sài Gòn ngày nay không phải là những người làm nên lịch sử nhưng chỉ là những kẻ, trước đây, làm công việc giải thích, bóp méo lịch sử cho phù hợp với tham vọng xích hóa Việt Nam của Đệ Tam Quốc Tế, và ngày nay, để tiếp tục sống huy hoàng trên những thống khổ triền miên của dân tộc Việt Nam. Những phản ứng tức tối của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam trước việc các thành phố lớn nhỏ ở Mỹ nối tiếp nhau công nhận lá cờ vàng cho thấy sự sợ hãi của họ trước một sự thật lịch sử mà họ không còn có thể che đậy, dấu diếm, lừa gạt được ai hay giải thích cách nào khác hơn nữa. Lịch sử cuối cùng sẽ thuộc về những người đã làm nên lịch sử.

Ngày nay, đối lực giữa sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam và thiểu số đặc quyền đặc lợi Cộng Sản đã hoàn toàn chênh lệch. Niềm tin dân tộc chưa bao giờ sáng hơn lúc này. Sức mạnh dân tộc chưa bao giờ mạnh hơn lúc này. Không giống như những năm đầu thập niên 90, khi những lực lượng, tuy chống đối nhà nước Cộng Sản nhưng vẫn còn đậm màu quá khứ và nặng tính địa phương như “Sĩ phu Bắc Hà”, “Kháng chiến Nam Bộ”, thì ngày nay, đoàn kết dân tộc là mẫu số chung, là điểm tựa, là vũ khí và sức mạnh trong cuộc cánh mạng dân tộc và dân chủ tại Việt Nam.

Trận tuyến ngày nay là trận tuyến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa dân chủ và phản dân chủ, giữa bảo vệ tổ quốc và bán đứng đất đai tổ quốc. Người Việt trong nước và hải ngoại không còn ai bận tâm việc bác sĩ Phạm Hồng Sơn là người tỉnh nào, luật sư Lê Chí Quang là người miền nào. Điều làm mọi người cảm thấy hy vọng và an ủi là hầu hết các khuôn mặt đấu tranh trong nước hiện nay thuộc thế hệ trẻ và trung niên như Phạm Hồng Sơn 34 tuổi, Lê Chí Quang 32 tuổi, Nguyễn Khắc Toàn 47 tuổi, Nguyễn Vũ Bình 35 tuổi. Lớp tuổi của họ là lớp tuổi để làm một chiếc cầu cảm thông giữa các thế hệ, là lớp tuổi trưởng thành trong kinh nghiệm, đầy đủ hiểu biết và nhất là, không phải mang trên vai hành lý nặng nề.

Mẫu số chung tinh thần dân tộc mà tôi vừa thưa ở trên không những chỉ giá trị đối với những người đã từng hy sinh, từng đổ máu dưới bóng cờ vàng, mà còn mở ra cánh cửa của chính nghĩa tự do và bao dung dân tộc cho cả những người chưa hề thấy lá cờ vàng. Cái chung tinh thần đó vượt lên trên mọi hiệp định, mọi vĩ tuyến, mọi chia cách, mọi tôn giáo, thế hệ, trong hay ngoài nước. Cái chung tinh thần đó, có thể đang sôi sục trong lòng tôi hay tạm ngủ quên trong lòng anh chị nhưng chắc chắn đã và đang hiện hữu trong mỗi người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước. Nếu chúng ta biết đánh thức cái chung tinh thần đó dậy, sống trọn vẹn với cái chung đó, tôi tin rằng đại gia đình dân tộc Việt Nam sẽ sớm một ngày đoàn viên trong hạnh phúc. Dân tộc Việt Nam không hề đặt bút ký thỏa ước Patenotre, hiệp định Geneve hay hiệp định Paris. Tất cả chỉ là sự áp đặt của các đế quốc đã diễn ra dưới nhiều hình thức trong những thời điểm khó khăn của vận mệnh đất nước. Trong suốt hai thế kỷ qua, dân tộc Việt Nam liên tục là nạn nhân đáng thương, bị xâm lược bởi các ý thức hệ ngoại lai vong bản. Không một người Việt Nam yêu nước nào muốn thấy quê hương chìm đắm và tiếp tục chìm đắm trong lạc hậu, độc tài triền miên như thế này.

Khi còn nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy lá cờ vàng từ góc độ của một sân trường trung học. Khi lớn lên, học hỏi thêm, tôi nhìn lá cờ vàng từ góc độ của chế độ mà tôi đã sống, từ miền Nam tự do mà tôi đã ra đi, từ đất nước của Hùng Vương mà tôi yêu quý. Và hôm nay, tôi nhìn lá cờ vàng từ hướng trái tim của một em bé Việt Nam vừa mới sinh ra, đang đập theo nhịp đập của tương lai dân tộc.

Bởi vì cuối cùng, chỉ có người Việt Nam mới thấm thía được nổi đau Việt Nam và chỉ có người Việt Nam mới ôm ấp và đeo đuổi giấc mơ tự do dân chủ cho chính mình và tương lai của con cháu mình. Nếu tất cả chúng ta cùng biết đau một nổi đau chung và cùng biết đeo đuổi một giấc mơ Việt Nam chung như thế, tôi tin tưởng rằng lá cờ vàng chính nghĩa chắc chắn sẽ có một vị trí xứng đáng trong lịch sử và mãi mãi phất phới bay giữa lòng dân tộc Việt Nam.
Trần Trung Đạo

 

Nằm vào mục: Tâm Bút | Có 5 ý kiến »

TẤT CẢ ĐỀU LÀ THUYỀN

IMG_1171Khi chương trình thăm viếng trong tang lễ Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đã xong. Một khoảng trống hiếm hoi trong hai ngày tấp nập, đó là lúc mọi người được mời ra ngoài để chuẩn bị lễ di quan nhưng nhân viên nhà quàn chưa đậy nắp quan tài.

Tận dụng khoảng trống đó, tôi lại đứng với anh một chút. Đặt tay lên người anh. Im lặng nhìn anh lần cuối. Anh không còn cười, dĩ nhiên, và tôi cũng không nói. Thời gian chỉ một hai phút nhưng với tôi thật là dài. Biết anh lần đầu vào thập niên 1990 và được anh cho phép gọi bằng anh. Tôi học ở anh quá nhiều nhưng khi anh còn sống chưa bao giờ có một dịp để cám ơn anh dù đôi lời khách sáo, nói chi là một bài viết về kiến thức mênh mông và hành trình hoạt động da đạng của anh.

Chúng tôi lái xe suốt đêm. Chiều thứ Sáu nào cũng vậy, xa lộ Boston trở thành một bải đậu xe. Chúng tôi dừng lại ở Exit 11 trên đường I90 West để đón thêm hai anh bạn. Họ đứng bên đường chờ gần hai tiếng đồng hồ. Giữa tháng Ba, mùa đông New England chưa qua hết. Sương đêm đóng một lớp dày trên hai vai áo nhưng không ai than trách. Vài giọt sương trên tóc đâu lạnh bằng cái lạnh của buổi tiễn đưa.

Tôi đến chào chị Bích. Chị vòng tay ôm lấy đứa em từ xa mới về. Bác đứng cạnh bên nhắc nhở chị vài lần sắp đến giờ làm lễ nhưng chị chưa buông tay. Hai chị em đứng yên một lúc khá lâu trong linh thiêng huyền diệu của tình người. Không ai nói với nhau lời nào. An ủi hay chia buồn đều không còn đủ nghĩa. Giữa lúc ồn ào và khói hương nghi ngút nhưng trong lòng nghe tịch lặng làm sao.

Hoa anh đào sắp nở dọc bờ sông Potomac nhưng với chị mùa xuân sẽ mãi mãi không về. Dòng sông của đời chị đang cạn dần và nhánh cây khô sẽ chỉ khô thêm. Một chiếc ghế trước hiên nhà sẽ được xếp lại. Căn phòng sẽ rộng hơn. Người phát thư sẽ không còn giao những gói sách gởi về từ nhiều nơi trên thế giới. Chị không đọc nữa, nếu có chăng chỉ tìm đọc lại những tờ thư cũ đã nhạt màu. Ngọn gió đông phương đã thổi lại phương đông nên nơi chị ở sẽ là những buổi chiều không gió. Những ngày tháng tới chị sẽ sống như một người mất bóng, loay hoay đi tìm một nửa khác của mình. Thương chị rất nhiều khi nghĩ tới ngày mai.

Trong hai ngày thứ Sáu 11 và thứ Bảy 12 tháng Ba, hàng ngàn người đã đến, không chỉ trong vùng Maryland, Virginia, Washington DC mà còn từ Dallas, Houston, California, Ottawa, Boston và nhiều nơi khác tôi không biết hết, để tiễn đưa anh. Trong các trang mạng xã hội, hàng ngàn tin nhắn tiếc thương và chuyển lời kính tiễn hương linh anh. Trong số những người đến có nhiều người chưa hề gặp mặt anh. Tại sao? Anh tài năng đa diện như nhiều người nhắc đến? Anh học cao hiểu rộng? Anh là chủ tịch, lãnh đạo của nhiều tổ chức, hội đoàn?

Không, họ đến chính là để cám ơn tấm lòng của anh đối với quê hương.

Anh đến với mọi người và lắng nghe lời nói của mọi người. Dù là một buổi dạy các sinh viên gốc Việt hát dân ca hay một hội nghị quốc tế về Biển Đông cũng đều được anh quan tâm và chuẩn bị một cách chi tiết như nhau. Anh không ngồi trong phòng lạnh để viết bài đăng báo nhưng dấn thân bằng cách lên đường. Hai năm trước tôi đến Châu Âu và ghé thăm một lãnh đạo cộng đồng. Anh chị chủ nhà mời tôi ở lại và còn nói thêm “Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cũng ở lại nhà này”. Tôi qua California và ở lại nhà một người quen, chủ nhà cũng nói, “Phòng anh ngủ là phòng dành cho khách, giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cũng mới ngủ ở phòng này”. Tôi đến Dallas cũng vậy, nhà của Bs Nguyễn Văn Hào, một người quen chung là nơi chúng tôi trọ suốt thời gian ở đó. Tuy nhiên, trên hành trình vô cùng chông gai anh đã bước lên, bên cạnh những ủng hộ, thân tình, kính trọng cũng có rất nhiều điều tiêu cực đến với anh. Tiêu cực được hiểu là những lời phê bình vượt giới hạn đạo lý và đạo đức của con người. Dù khen hay chê, cuối ngày, trên môi anh vẫn nở một nụ cười bao dung và thanh thản.

Anh là bậc đạo sư, bậc thầy của tôi vì anh đọc những lời tiêu cực mà vẫn an nhiên. Với tôi, để được bình an, tôi phải tránh xa những vùng tiêu cực. Đức tính bao dung, cảm thông và tự tại đó đã làm Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trở thành chiếc cầu của những người yêu nước Việt đang cố tìm một điểm chung để ngồi xuống với nhau. Muốn gì, trước hết phải ngồi xuống và biết lắng nghe. Chiếc cầu đó vừa gãy và sẽ còn rất lâu hay có thể không một người nào thay thế được.

Nhắc đến chiếc cầu, tôi chợt nhớ câu chuyện về cụ già Dupont ở Thụy Sĩ. Mỗi đêm trong suốt hai mươi mùa đông cụ đã cắm một chiếc lều bên cầu Lausanne để tìm cách cản ngăn những người bị bịnh trầm cảm tự tử cho đến ngày cụ qua đời. Tương tự, anh Nguyễn Ngọc Bích, suốt bốn mươi mốt năm đã dâng hiến cuộc đời cho lý tưởng tự do. Rất nhiều người tự hào về lý tưởng nhưng không bền bỉ và tận tụy như anh và chỉ lý tưởng khi nào chính họ không bị phê bình, phán xét.

Anh cũng là người như tất cả chúng ta, mang theo trong máu các đặc tính tốt xấu từ lúc sinh ra nhưng hơn nhiều trong số chúng ta là anh tha thứ. Anh tranh luận khi cần tranh luận nhưng với một tâm trong sáng, không hận thù và nhất là biết khi nào dừng lại. Trong Phật giáo, tôn giáo của anh, đó là hạnh nhẫn nhục. Người cầu đạo cần nhẫn nhục để đắc đạo cho bản thân mình, anh nhẫn nhục để hoàn thành mục đích cao cả của đời anh là mang lại tự do dân chủ nhân bản do dân tộc Việt Nam. Câu chuyện về thiền sư Hakuin khi bị hàm oan đã nói “Thế à” và khi được giải oan cũng chỉ nói “Thế à” có thể chỉ là một bài giảng theo cách “oan ức không cần biện bạch” thuần túy về thiền học để dạy người học đạo về hạnh nhẫn nhục. Anh không cần học bài giảng đó bởi vì “Thế à” vốn đã là cách sống thật của anh.

Giữa thập niên 1990, khi chúng tôi, một nhóm chuyên viên trẻ, đến vấn kế vận động quốc hội Mỹ về nhân quyền, anh khuyên nên thành lập các ủy ban nhân quyền, càng nhiều càng tốt và không nhất thiết phải đông người vì chính phủ hay quốc hội Mỹ có thể không quan tâm đến cá nhân một cử tri nhưng một ủy ban thì là chuyện khác. Cũng từ quan điểm đó, những đoàn thể, tổ chức mà anh thành lập hay lãnh đạo, đều là những chiếc ghe anh mượn để tìm cách đưa đất nước sang bờ tự do dân chủ. Anh ra đi rất nhẹ nhàng, nhanh chóng, thảnh thơi bởi vì anh trả lại chứ không vác theo những chiếc thuyền gỗ nặng nề như vài người khác.

Những năm sau này, tôi may mắn được gần gũi anh nhiều. Sau những bữa cơm, bên những tách trà, nhiều khi hết chuyện tích cực để nói, chúng tôi đem chuyện tiêu cực ra để “giải lao”. Khi tôi đem một quan điểm của người nào đó khác với quan điểm của anh ra bàn, câu mà tôi nghe nhiều nhất ở anh là “Các anh đó cứ ….”. “Các anh đó cứ cho rằng tôi ham danh, ham quyền chức”. “Các anh đó cứ phê bình tôi thay đổi quan điểm, lập trường chính trị”, “Các anh đó cứ chưa đọc nội dung đã vội kết luận” v.v… Bao giờ anh cũng dùng câu “Các anh đó cứ”, rất ít khi nào tôi nghe anh nhắc đích danh một người nào. Anh vô cùng trí thức vì kính trọng nhân cách của mọi người dù trong đó có người không đồng ý với anh. Một trong những bài học anh để lại cho các thế hệ Việt Nam là bài học về nhân cách.

Một danh ngôn quen thuộc “Hãy sống như anh sẽ chết ngày mai và học như anh sẽ không bao giờ chết”. Anh sống đúng với nội dung câu nói đó. Anh nghiên cứu và viết về mọi thứ kể cả về thức ăn, một lãnh vực mà anh không quan tâm lắm nhưng vẫn viết bởi vì có ích cho người khác. Anh chạy đua với thời gian vì hơn ai hết anh hiểu sức khỏe của mình có hạn tuy nụ cười vẫn tràn đầy, tinh thần vẫn lạc quan. Là một cựu hướng đạo sinh, anh nhảy cò cò với các cháu một cách hồn nhiên nhưng dĩ nhiên anh biết sinh trụ dị diệt là định luật không ai tránh khỏi.

Khi quan tài anh hạ xuống trời sương mù nhưng không một giọt mưa hay tiếng khóc. Mọi người dường như đã nuốt nước mắt ngược vào lòng. Giờ phút cuối cùng, bác Nguyễn Văn Đặng của Hội Cao Niên, thổi bài Ngày Về của Hoàng Giác để “Anh Bích nghe”. Anh Bích không còn nghe nữa mà đã về quê hương nhưng tiếng kèn còn vang vọng trong tâm hồn của những người còn lại. Trong nỗi đau thường có mầm hạnh phúc. Tiếng kèn xúc động của bác Đặng cũng là lời nhắc nhở mọi người hãy sống một cuộc đời như anh Bích cho quê hương, đất nước và tình người để rồi ngày cuối của cuộc đời mình, sẽ được tiễn đưa trong tiếc thương và trong tình cảm đậm đà như thế.

Tôi vẫn còn là đứa bé mồ côi. Những gì tôi biết, tôi hiểu, tôi viết phát xuất từ những lời khuyên nhủ, khuyến khích của những người như anh. Khi anh khen tôi, tôi hãnh diện và sung sướng nhưng không phải với tư cách một nhà văn hay nhà thơ cùng vuông chiếu mà là một đứa con, một học trò. Tôi cám ơn những người đi trước không bằng diễn văn đầy những tĩnh từ bóng bẩy nhưng trong tận đáy lòng tôi dòng suối tình thương vẫn chảy êm đềm. Bên dòng suối đó, có anh từ trên cao nhìn xuống và bên dòng suối đó anh vẫn còn sống, ít nhất cho đến ngày tôi cũng sẽ ra đi.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tâm Bút | Có 1 ý kiến »

TT Thích Hạnh Tuấn, bông mai quý trong vườn xuân đạo hạnh

tthanhtuan-hthuyenquang
Tôi đi Texas về và đang chuẩn bị đi tiếp thì nghe tin Hòa Thượng Thích Hạnh Tuấn, trụ trì chùa Trúc Lâm ở Chicago, viên tịch. Thật quá bất ngờ và đau xót. Vẫn biết Sinh Trụ Dị Diệt là một chu kỳ diễn ra trong từng sát na của vạn vật và đời sống nhưng khi còn là một con người biết vui mừng, biết đau khổ, cuộc chia tay với người mình thân thương nào cũng đều kèm theo nỗi xót xa.

Chùa Trúc Lâm ở Chicago chỉ cách Boston một chuyến bay rất ngắn nhưng tôi không thể đến để đảnh lễ giác linh thầy. Công việc do công ty giao đã có kế hoạch từ trước, tôi đang cố gắng nhưng vẫn chưa tìm ra người thay thế. Cũng may, một lễ cầu siêu và tưởng niệm Hòa Thượng sẽ được trang nghiêm tổ chức tại chùa Phật Giáo ở Roslindale, Massachusetts vào Chủ Nhật 8 tháng 11, 2015. Gia đình tôi sẽ đảnh lễ giác linh Hòa Thượng ở Boston. Ở đâu rồi cũng chia tay, tôi tự an ủi mình như thế. Chúng tôi sẽ ngồi nơi thầy đã ngồi, sẽ tụng những bài kinh mà thầy đã từng tụng mỗi Chủ Nhật của nhiều năm trước.

Hòa Thượng sinh năm 1956 tại thôn Giáo Đông, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam và xuất gia từ thuở nhỏ với Hòa Thượng Thích Như Vạn, Trụ trì Tổ Đình Phước Lâm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ngôi tổ đình uy nghiêm cổ kính đó từng ghi dấu chân của nhiều bậc cao tăng, thạc đức. Năm 1917 tại tổ đình Phước Lâm, hai tăng sĩ trẻ từ Huế vào thọ Tỳ Kheo trong Đại Giới Đàn Minh Hải. Hơn nửa thế kỷ sau, hai vị tăng sĩ trẻ đó đã trở thành Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Và hôm nay, Tổ Đình Phước Lâm cũng là nơi đào tạo nên Hòa Thượng Thích Hạnh Tuấn, một bậc tăng tài. Từ những ngày gặt lúa trên cánh đồng khô cháy ngoài thị xã Hội An và theo học Trung Học Trần Quý Cáp cho đến khi ngồi trong giảng đường của Harvard Divinity School là một chặng đường dài gian nan, thử thách nhưng cũng chứa đầy ý chí vươn lên không phải ai cũng làm được.

Quảng Nam cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của người đã góp phần lớn nhất để tạo dựng nên Gia Đình Phật Hóa Phổ, tiền thân của Gia Đình Phật Tử Việt Nam, một tổ chức mà Hòa Thượng Hạnh Tuấn mang hoài bão thống hợp. Hòa Thượng ra đi sớm và nguyện ước chưa thành, nhưng đã gieo xuống một hạt giống tốt và tôi tin hạt giống đó sẽ nảy mầm, lớn lên và nở hoa thơm ngát. Những giọt máu dù tuần hoàn khắp nơi trong cơ thể môt ngày đều trở về tim. Trong môt thế giới nhiễu nhương và thù hận, Phật giáo với các giá trị từ bi và trí tuệ sẽ là niềm hy vọng cuối cùng của nhân loại, trong đó có Việt Nam.

tthanhtuan1Bổn sư của Hòa Thượng cũng là bổn sư của tôi và đương nhiên cùng có Pháp Danh bắt đầu bằng chữ Thị. Thầy là Thị Trạm và tôi là Thị Nghĩa. Ngày chúng tôi gặp nhau trên nước Mỹ, Thượng Tọa báo tin bổn sư của chúng tôi đã viên tịch. Tôi cảm thấy lòng buồn. Có thể Bổn Sư chẳng hề nghĩ đến tôi, một đệ tử trong hàng ngàn đệ tử tại gia của Thầy. Nhưng đó không phải là điều quan trọng, mà quan trọng vì ngài là một trong Tam Bảo mà mỗi người Phật Tử nên tôn kính. Thầy trò chúng tôi đã nối nhau bằng một mối dây đạo tính thiêng liêng. Sợi dây đó đứt đi trong kiếp nầy, tự nhiên tôi cảm thấy đau buồn. Hòa Thượng Hạnh Tuấn tặng tôi tấm hình của bổn sư chúng tôi. Tôi thỉnh bức hình về thờ để nhớ đến ngài, nhớ đến những kỷ niệm không thể nào quên trong thời thơ ấu đầy nước mắt ở quê hương.

Chín năm trước, tôi được Hòa Thượng gọi đến dự khánh thành Chùa Trúc Lâm. Trong dịp này tôi may mắn được đảnh lễ rất nhiều bậc tôn đức, trong đó có Đại Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ mà tôi thường được dâng trà khi còn rất nhỏ ở chùa Viên Giác, Hội An. Dù rất bận, Hòa Thượng cũng dành một sáng sớm để đưa tôi đi dạo một vòng quanh chùa và trao đổi với nhau vài chuyện về Giáo Hội, về quê hương và về Gia Đình Phật Tử. Thầy tặng tôi bức hình thầy được chụp chung với đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang trong những ngày khó khăn và can đảm ở Quảng Ngãi. Ước mơ của Hòa Thượng về tương lai Phật Giáo và GĐPT cũng là mơ ước của tôi. Có khác chăng, ngài an nhiên tự tại trong đại nguyện cứu đời còn tôi vẫn bước thấp bước cao trên con đường đầy gai góc đã qua, đang đi và có thể còn dài.

Hôm khánh thành Chùa Trúc Lâm, Hòa Thượng tổ chức một đêm Thơ thiền với nội dung rất hay và hình thức sáng tạo. Trong không gian đầy thi vị và đạo vị, chư tôn đức tăng ni và cư sĩ Phật Tử ngồi chung quanh những chiếc bàn nhỏ, mỗi bàn có thắp một ngọn nến. Các thầy đọc thơ của Đại lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác và của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. Tôi còn nhớ đêm đó Hòa Thượng Thích Như Điển ngâm bài “Nhớ Chùa” của Thi Sĩ Huyền Không thật cảm động vì Đại lão Hòa Thượng vừa viên tịch vài hôm trước. Chín năm qua rồi nhưng tôi vẫn còn nghe đâu đây lời giảng của Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu về thơ Tuệ Sỹ và âm thanh trầm bổng của Thượng Tọa Thích Tâm Hòa qua những bài thơ “Khung Trời Cũ”, “Hận Thu Cao” của Hòa Thượng Tuệ Sỹ. Hòa Thượng Hạnh Tuấn thích thơ và cũng thích ngâm thơ. Những bài thơ thầy thường ngâm là những bài tôi viết về Chùa Viên Giác và quê hương xứ Quảng của chúng tôi.

Hòa Thượng thuộc thế hệ tăng sĩ tài năng đức độ trẻ được đào tạo tại Việt Nam trước 1975 và Hoa Kỳ sau 1985. Trong thời gian theo học tại Đại Học Harvard, thầy thường đến giảng pháp tại các chùa Phật Giáo vùng New England, nhiều nhất là Chùa Phật Giáo Việt Nam tại Roslindale, thuộc tiểu bang Massachusetts. Hòa Thượng cũng thường đến tham dự các sinh hoạt của các đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng và Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts trong các dịp lễ.

Một ngày, những đám mây đen sẽ tan và giông bão sẽ qua đi. Có thể rất gần hay còn xa, nhưng tôi tin ngày đó sẽ đến. Chư tôn đức tăng ni, các cư sĩ, các huynh trưởng GĐPT sẽ ngồi xuống, lắng lòng ôn lại một chặng đường đầy khó khăn của Phật Giáo Việt Nam. Con đường mà hơn hai ngàn năm trước ngài Phú Lâu Na đã từng đi qua, sẽ mãi mãi còn in dấu chân của chư tôn đức, trong đó có Hòa Thượng Thích Hạnh Tuấn. Hòa Thượng đã cống hiến rất nhiều cho đạo pháp và cho tương lai của các thế hệ GĐPT Việt Nam. Thầy là một trong những bông mai quý hiếm đã nở ra trong mùa xuân đạo hạnh. Không nhiều người biết và thầy cũng ít kể ai nghe nhưng những người biết đều thừa nhận sự đóng góp của Hòa Thượng đối với Phật Giáo Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1990 thật to lớn và ảnh hưởng lâu dài trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.

Con kính đảnh lễ và tiễn đưa giác linh thầy.

Thị Nghĩa Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tâm Bút | Góp ý »

Nguyễn Xuân Phước, cánh hạc vừa bay

nxpmf-fbheader

Mặt hồ Irving buổi trưa im vắng chợt nghe như có tiếng chim bay. Vâng, cánh hạc Nguyễn Xuân Phước vừa từ giã chúng ta hôm nay 22 tháng 6, 2015.

Nguyễn Xuân Phước, người cha thân yêu của Rebecca Bội Anh và Matthew Mạnh Tường Nguyễn, luật sư, nhà tranh đấu cho nhân quyền và người bạn thân thiết của rất nhiều người Việt trong nước cũng như đang sống khắp năm châu vừa qua đời sau hơn một năm chiến đấu với căn bệnh ung thư máu ngặt nghèo.

Nguyễn Xuân Phước sinh ngày 26 tháng 1, 1954 tại Khánh Bình, một làng nhỏ rất đẹp nằm bên bờ sông Thu Bồn, thuộc quận Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.

Anh sinh ra và lớn lên trong gia đình kính Chúa và có niềm tin sâu xa vào ân điển cứu độ của Chúa Cứu Thế. Thân phụ anh, Cố Mục sư Nguyễn Xuân Ba, là một trong những Mục sư đầu tiên của đạo Tin Lành tại Việt Nam. Các anh của anh cũng đều là Mục sư, gồm có Mục Sư Nguyễn Xuân Hồng, cố Mục sư Nguyễn Xuân Hà, Mục sư Nguyễn Xuân Đức, Mục sư Nguyễn Xuân Bình và Mục sư Nguyễn Xuân Sơn.

Nguyễn Xuân Phước tốt nghiệp Trung Học Petrus Ký niên khóa 1972 và du học tại Hoa Kỳ trong cùng năm. Anh được UC Berkeley nhận và tốt nghiệp Cử nhân Kinh Tế tại đại học danh tiếng này vào năm 1978. Sau một thời gian làm việc tại Đông Nam Á, anh trở lại Mỹ để học Luật tại Rutgers University và tốt nghiệp Tiến Sĩ Luật Khoa (Doctor of Jurisprudence) năm 1996. Đầu năm 1997, anh mở văn phòng luật sư tại Dallas.

Ngoài khả năng chuyên môn, Nguyễn Xuân Phước dành thời gian và công sức để đóng góp vào các đề án nhân quyền dân chủ cho Việt Nam. Anh tích cực yểm trợ cho phong trào “kết nghĩa dân chủ” và các “Ủy Ban Yểm Trợ Dân Chủ Quốc Nội” tại hải ngoại. Anh góp phần sáng lập nhiều tờ báo và cố vấn luật pháp cho nhiều đoàn thể tại Dallas. Anh là cây bút thường xuyên về các vấn đề luật pháp cho các báo tại Dallas, giải đáp các thắc mắc về luật pháp cũng như tham gia Diễn Đàn Văn Hóa Lịch Sử trên đài phát thanh.

Trong quan hệ quốc tế, Nguyễn Xuân Phước và các bạn anh đã đi nhiều nơi tại châu Âu như Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary để học hỏi kinh nghiệm phục hưng đất nước sau CS. Tại Á Châu, anh đến Miến Điện, Thái Lan, Nam Hàn, Philippines, Singapore. Tại Nam Hàn, anh đã làm việc với các thành viên của lãnh tụ đối lập Kim Dae-jung, người sau đó trở thành Tổng thống Đại Hàn nhiệm kỳ 1998-2003. Riêng tại Miến Điện, anh đã tìm cách liên lạc các thành phần dân chủ thuộc đảng Liên minh Dân tộc Dân chủ (National League for Democracy) đối lập của bà Aung San Suu kyi khi bà còn bị tù. Sau khi bà Aung San Suu kyi được tự do, năm 2013, Nguyễn Xuân Phước đã trở lại Miến Điện lần nữa trong nỗ lực vận động dân chủ cho Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.

Từ 2005 trở về sau, Nguyễn Xuân Phước đã đệ trình hàng loạt danh sách tù nhân lương tâm đang bị CS giam giữ tại Việt Nam lên Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.

Trong lãnh vực tin học, mặc dù không phải là chuyên viên điện toán, anh đã tự học các phương pháp xây dựng trang mạng khi kỹ thuật Mạng lưới Toàn cầu hình thành vào cuối thập niên 1990. Nguyễn Xuân Phước cũng là một trong những người đầu tiên mở rộng chiến dịch vận động chữ ký qua phương pháp Internet.

Trong quan điểm chính trị, Nguyễn Xuân Phước có một lập trường Quốc Gia Dân Tộc và Dân Chủ ôn hòa nhưng dứt khoát. Trong tiểu luận xuất sắc viết nhân dịp 30-4 2004, anh khẳng định:

“Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến đất nước thành một nhà tù vĩ đại. Hơn 300.000 quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà đã bị giam giữ vô hạn định. Đây là thảm hoạ lịch sử mà cái tàn ác của vua Gia Long khi ngài trả thù nhà Tây Sơn cũng không thể nào so sánh được. Và suốt lịch sử 5000 năm của dân tộc cũng không có một thời đại nào có cuộc trả thù khủng khiếp như thời kỳ Cộng Sản thống nhất đất nước… Cộng Sản là hiểm hoạ lớn nhất của loài người từ trước đến nay” và anh khẳng định chỉ có “tính hợp pháp của nhà cầm quyền là điều kiện tiên quyết và là nhu cầu cấp bách để xây dựng một nền chính trị dân bản bền vững. Và nền chính trị dân bản bền vững là nền tảng để mở ra thời đại phục hưng dân tộc, làm bệ phóng cho giai đoạn cất cánh về kinh tế toàn dân và để bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ.”

Về tương lai dân tộc, Nguyễn Xuân Phước ôm ấp một “Giấc Mơ Việt Nam”:

“Mỗi lần đến ngày 30 tháng Tư là một cơ hội để chúng ta suy nghĩ về những thất bại lịch sử và để mơ đến “Giấc Mơ Việt Nam”. Để từ những nơi xa xôi trên trái đất đến những trung tâm vận động phục hưng dân tộc ngay tại trong nước, mọi người Việt đều phải cùng nhau chia sẻ một viễn tượng về sinh mệnh dân tộc và hướng đi tới của đất nước. Từ đống tro tàn của lịch sử, những con phượng hoàng sẽ cùng nhau cất cánh. Từ đó, mọi người Việt sẽ cùng nhau tái tạo một nước Đại Việt mới, một tổ quốc Đại Việt của thời đại 2000 với không gian Việt trải dài khắp nơi trên thế giới, một tổ quốc của mọi người mang dòng máu và văn hoá Việt không phân biệt chính kiến, tôn giáo hay bất cứ một quá khứ chính trị nào.”

Nguyễn Xuân Phước yêu nước Việt và yêu lịch sử dân tộc Việt. Anh không những dành nhiều thời gian để học sử, viết về lịch sử Việt Nam mà còn sống với các sự kiện lịch sử. Khoảng đầu năm 2000, xúc động khi được đọc về hành trình tỵ nạn của Hoàng Tử Lý Long Tường, anh đã đến tận Nam Hàn để thăm hỏi ông Lý Xương Căn, trưởng tộc của họ Lý tại Nam Hàn. Buổi gặp gỡ gia đình họ Lý đã củng cố niềm tin trong anh về Việt Tính như anh nhắc lại sau đó:

“Điều tôi biết chắc chắn là qua câu chuyện của dòng họ hoàng tử Lý Long Tường, chúng ta thấy rằng, Việt tính vẫn tồn tại qua không gian và thời gian. Và tôi tin rằng một ngày không xa, tinh thần Việt ấy sẽ được phục hưng trên đất nước chúng ta. Ngày ấy tổ quốc Đại Việt sẽ hồi sinh. Ngày ấy Thăng Long và Sài Gòn sẽ phải được trả lại cho dân tộc và lịch sử. Và tôi tin rằng ngày ấy sẽ không có một đảng phái, một tôn giáo nào, một cá nhân nào chiến thắng, mà chỉ có dân tộc Việt là kẻ chiến thắng”.

Truyền thống văn hóa, các bài học lịch sử và khí tiết của các anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Đặng Dung luôn là niềm thôi thúc để anh nghiên cứu và sáng tác. Anh viết không nhiều nhưng những tiểu luận văn hóa, chính trị, lịch sử của anh cho chúng ta thấy niềm tin vào lịch sử dân tộc của anh vô cùng sâu đậm. Dưới đây là 10 tiểu luận tiêu biểu của Nguyễn Xuân Phước đã được phổ biến rộng rãi trên internet:

– Bách Việt trong lòng Đại Việt
– Nhân ngày 30-4 xem lại bài học thống nhất đất nước
– Từ Phan Liêu, Đặng Dung đến Nguyễn Trãi, tâm sự của một thế hệ.
– Bàn về hai chữ văn minh
– Bài học phục hưng dân tộc
– Những nghịch lý lịch sử của thế kỷ 20 và hành trình đi tìm tính chính thống lịch sử ở thế kỷ 21
– “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại…”
– Một số vấn đề pháp lý quanh hiệp định biên giới Việt-Trung.
– Xét lại giá trị pháp lý và tính chính thống của Hiến Pháp Việt Nam hiện nay
– Thân Thanh Triều nên mất nước.

Nick trên internet của Nguyễn Xuân Phước là Ngàn Cánh Hạc. Anh Đỗ Thành Công, bạn của Nguyễn Xuân Phước viết bài thơ Ngàn cánh hạc tặng anh và đọc cho anh nghe bên giường bệnh trong lần ghé thăm đầu tháng 5, 2015:

ngàn cánh hạc
chiều chưa tắt nắng
dậy mà nghe
Nguyễn Trãi bình Ngô

chí ta lớn
sao trời không thương
đường đoạn trường
thôi đưa nhau rồi

ly khách xa
buồn như muốn khóc
hôm qua trăng sáng
Đặng Dung ơi

ly khách đi
về đâu khách ơi
lòng ai thôi cũng
nát tơi bời

vỗ tay cho
hết đời nhân thế
chờ ta mà cạn
chén ly bôi.

Nguyễn Xuân Phước là một người khiêm cung, đơn giản. Ngoài một số bạn cùng chí hướng, ít ai nghe anh nói về mình. Đa số người quen chỉ biết một Nguyễn Xuân Phước hồn nhiên, vui tính và hiếu khách. Khi cần phải tự giới thiệu, anh thích khoe cách nấu phở rất ngon, cách làm bánh tét dân chủ [Phước dự tính làm bánh tét bán để lấy tiền giúp cho thân nhân những đồng bào đang bị CS giam tù nên gọi là bánh tét dân chủ trong mỗi dịp Tết] rất nghề hơn là những đóng góp của anh cho tiến trình dân chủ Việt Nam về nhiều mặt, bao nhiêu công sức anh đã đổ ra, bao nhiêu nơi anh đã đến, bao nhiêu tháng năm anh đã miệt mài.

Nguyễn Xuân Phước có tấm lòng luôn rộng mở. Căn nhà của anh bên bờ hồ Irving là địa điểm gặp gỡ giữa các nhà hoạt động, nhà văn, nhà thơ có khuynh hướng dân chủ có dịp ra nước ngoài, lãnh đạo các tổ chức, đoàn thể đấu tranh dân chủ tại hải ngoại và là địa điểm sinh hoạt thường xuyên của giới văn nghệ sĩ trong vùng cũng như từ khắp nơi, kể cả trong nước, khi đến viếng thăm thành phố Dallas.

Anh là người yêu âm nhạc, văn, thơ, thích hát, thích đàn. Khi được yêu cầu, anh thường hát nhạc phẩm Giọt nước có biết mình là sông của Khúc Lan:

…..

Giọt nước có biết mình là sông, nhưng sông vẫn chảy
Ngọn cỏ có biết mình về nguồn, đâu lời khóc than
Giọt nước có biết mình là mây, mây sao chưa nổi
Giọt nước hóa kiếp mình vào đời, dù dặm trường xa xôi….

“Lời khóc than” hay những lời tiên tri dành cho số phận của một áng mây chưa kịp thành mưa tắm mát quê hương đã vội “hóa kiếp mình vào đời” trên quê người, đất lạ.

Từ mái hiên của căn nhà không cao sang, rộng lớn nhưng đầy kỷ niệm của Nguyễn Xuân Phước, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đứng nhìn những giọt mưa nhỏ xuống mặt hồ. Cuộc đời của một người bạn nhỏ thân thương đang tan dần trước mắt anh như thế. Nhà thơ không nói ra nhưng trong lòng anh và trong lòng bạn hữu của Nguyễn Xuân Phước đều biết một cuộc chia tay sắp sửa xảy ra. Đêm đó nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp viết bài thơ Mưa Xám như một lời từ giã:

……
mưa xám
giăng. giăng. qua đời tôi. đời bạn. và còn những ai nữa. hở em
như chiều qua
mưa xám lạnh mặt hồ. ngôi nhà ở irving. của nguyễn xuân phước
tôi ngồi nhìn
mặt trời
nói lời từ giã
adieu.

Vâng, cuộc đời vốn là những adieu, nhưng nếu còn nhớ Nguyễn Xuân Phước, xin hãy nhớ đến anh trong những lần hạnh ngộ.

Cố Tổng thống Abraham Lincoln có lần đã nói, đại ý “Cuối cùng, điều quan trọng không phải bạn đã sống được bao nhiêu năm mà là ý nghĩa cuộc sống của bạn trong những năm tháng ấy” (In the end, it’s not the years in your life that count. It’s the life in your years). Nguyễn Xuân Phước chỉ sống 61 năm nhưng 61 năm dâng hiến cho quê hương, đất nước. Anh đã sống nhiều hơn so với bao nhiêu người có tuổi tác cao hơn.

Cánh hạc Nguyễn Xuân Phước vừa bay nhưng sẽ không xa khuất bên kia bờ ước vọng mà như vẫn còn đây soi bóng dưới mặt hồ Irving. Mai này, bạn bè anh có thể không còn dịp trở lại căn nhà đẹp đó nữa nhưng mùi phở thơm, tiếng đàn và giọng Quảng Nam của Phước nghêu ngao “Giọt nước có biết mình là sông nhưng sông vẫn chảy” sẽ còn vang vọng mỗi đêm. Tất cả còn đó và sẽ mãi mãi còn trong mỗi trái tim người.

Những người thân yêu của Nguyễn Xuân Phước ơi, đừng khóc cho giờ chia tay hôm nay mà hãy cùng cười hồn nhiên và vui tính với anh. Xin dành những giọt nước mắt đó cho “ngày đoàn viên dân tộc, ngày hội lớn tự do dân chủ trên quê hương, ngày phục hưng của dòng giống Đại Việt anh hùng” mà Nguyễn Xuân Phước thân yêu của chúng ta hằng mơ ước.

Trần Trung Đạo
Boston, viết xong vào ngày Phước đi xa, 22 tháng 6, 2015

Nằm vào mục: Tâm Bút | Góp ý »

Tâm bút cùng Trà Kiệu

trakieuLàng Phật Giáo Mã Châu, nơi tôi sinh ra, cách làng Công Giáo Trà Kiệu, nơi Th., bạn tôi, sinh ra, khoảng mười cây số và một con sông. Trong làng tôi, ngoài trừ gia đình người chú họ, sau khi đi làm ăn xa trở về làng cũ, trong hành trang của chú còn có thêm một cây Thánh Giá và bức hình Đức Mẹ, tất cả bà con còn lại đều là Phật Tử. Đoạn đường từ trạm Nam Phước lên đến quận Duy Xuyên chỉ dài hơn năm cây số nhưng đã có đến bốn ngôi chùa. Các ngôi chùa làng rất nhỏ, mái ngói cong, thường xây cạnh những cây đa già. Tuổi thơ tôi lớn lên trong một môi trường Phật Giáo và dưới bóng mát của hồn quê hương đơn sơ chất phác đó.

Phần lớn bạn học các lớp trung học đệ nhất cấp ở trường quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, trong đó có cả Th., và Diệp đều là người Trà Kiệu. Ba của Diệp lái xe Lam ba bánh. Cuối tuần tôi thường ra Chợ Quận đứng chờ xe của bác đi ngang là tôi đi theo lên Trà Kiệu chơi với đám bạn. Từ Mã Châu đi Trà Kiệu không xa nhưng phải qua Cầu Chìm, một chiếc cầu nhỏ bắc ngang một trong những nhánh sông Thu Bồn chảy ra hướng Cửa Đại. Vì được xây quá gần với mặt nước nên mỗi khi trời mưa lớn là xảy ra cảnh nước chảy qua cầu. Đám học sinh bên kia sông buổi sáng đi bộ đến trường nhưng buổi chiều nhiều khi phải đi đò về nhà. Bên chân cầu là một chiếc lô-cốt bằng xi-măng, tàng tích của chế độ Thực Dân còn để lại và cũng là một nhắc nhở của vết thương hằn sâu trên da thịt quê hương tôi, làm nhức nhối bao nhiêu thế hệ đã qua và còn mưng mủ cho đến bây giờ.

Trà Kiệu, với diện tích khoảng một cây số vuông, đẹp một cách hùng vĩ và linh thiêng. Phía Tây Trà Kiệu là rặng núi Kim Sơn chạy dài, hút sâu vào dải Trường Sơn trùng điệp. Phía Nam là di tích thành lũy và hoàng cung của một thời vàng son trong lịch sử Chiêm Thành. Theo sử sách ghi lại, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu phần lớn từ miền Bắc di cư vào miền Trung, bắt đầu là người ở Kẻ Chợ Hà Đông vào khoảng năm 1684. Họ sống tập trung nhau để dễ bề giữ đạo và giúp đỡ cho nhau. Trong tôi vẫn còn in lại hình ảnh những bậc tam cấp bằng đá của nhà thờ Trà Kiệu, nơi chúng tôi đã ngồi trong những buổi chiều vàng nhìn xuống xóm nhà của các bạn tôi, được dựng bên những thửa ruộng xanh bao vòng quanh chân núi.

Thế nhưng, không phải ai ở quê tôi cũng đối xử với nhau một cách vô tư, hồn nhiên và hòa đồng như tôi và đám bạn Trà Kiệu của tôi. Không ít người dân Quảng, vốn rất tự hào về truyền thống cách mạng, chống Thực Dân Pháp, Địa Linh Nhân Kiệt, Ngũ Phụng Tề Phi, thường nghĩ về Trà Kiệu như là một làng Công Giáo biệt lập. Càng tự hào với truyền thống chống Thực Dân bao nhiêu thì họ lại càng dễ có thái độ khắt khe, xa cách với đồng bào Trà Kiệu bấy nhiêu. Với những người mang nặng định kiến, hẹp hòi và bảo thủ, đồng bào Trà Kiệu, dù sống trên cùng một quê hương nhưng không cùng chung nhau trọn vẹn một chiều dài lịch sử. Sự xa cách đó không phải tự nhiên mà có, cũng không phải chỉ đơn giản là sự cách biệt lương giáo chung chung mà thôi, nhưng những chia rẽ giữa những người đã chôn khúc nhau trên cùng mảnh đất, bắt đầu bằng máu, đổ xuống trong đêm 1 tháng 9 năm 1885 và chảy dài suốt thời kỳ thực dân đầy thù hận, khổ đau, tang tóc.

Đêm đó nghĩa quân thuộc phong trào Văn Thân tỉnh Quảng Nam với khẩu hiệu Bình Tây Sát Tả đã mở liên tục các cuộc tấn công vào làng Công Giáo Trà Kiệu lúc bấy giờ đặt dưới sự lãnh đạo tinh thần của Linh Mục Bruyere, được gọi bằng tiếng Việt là Cố Nhơn, thuộc Hội Thừa Sai Pháp. Trong làng thời đó chỉ có khoảng 370 thanh niên có thể chiến đấu với vỏn vẹn 5 khẩu súng. Họ phải tự rèn gươm giáo, đúc súng đạn, dành dụm từng chút lương khô trong cuộc chiến tranh tự vệ khó khăn và quyết liệt. Sau lưng là núi, trước mặt là con đường độc nhất dẫn ra tỉnh đã bị bao vây. Họ không có đường lui và cũng không còn đường tiến. Cuộc chiến đấu của họ mang trọn vẹn ý nghĩa của “tự do tôn giáo hay là chết”.

Sau 21 ngày tấn công và chống đỡ đẫm máu giữa người Quảng và người Quảng, giữa người Việt và người Việt, giữa những tín đồ Thiên Chúa Giáo và các đơn vị Văn Thân Bình Tây Sát Tả, đã gây ra rất nhiều thiệt hại, mất mát cho cả hai bên. Máu người dân Quảng đã chảy trên đồi Bửu Châu thiêng liêng, xương người dân Quảng đã phơi trên cố đô Chiêm Thành huyền bí.

Cuối tháng 9 năm 1885, sau gần một tháng tấn công không thành công, các đơn vị Văn Thân rút lui. Đồng bào Công Giáo Trà Kiệu tin rằng Đức Mẹ đã hiện ra trong những đêm 10 và 11 tháng 9 năm 1885 để che chở cho con cái của Mẹ và giúp đẩy lui quân đội của cả một phong trào Văn Thân rộng lớn của tỉnh Quảng Nam đông gấp trăm lần. Từ đó, hằng năm vào ngày 31 tháng 5, ngày cuối của tháng Hoa, người dân Công Giáo Trà Kiệu tổ chức lễ cung nghinh Đức Mẹ để ghi ơn Mẹ đã cứu giúp Trà Kiệu thoát khỏi bị tận diệt.

Trong cái nhìn của riêng tôi, đồng bào Trà Kiệu thời bấy giờ không có một chọn lựa nào khác. Họ đã phải chiến đấu trong một hoàn cảnh tự vệ, không những để bảo vệ niềm tin Thiên Chúa mà còn vì mạng sống của chính họ và gia đình họ. Nhiều trong số họ đã ngã xuống cho niềm tin mà họ tôn thờ. Nếu họ thua, có thể làng Công Giáo Trà Kiệu không còn hiện diện trên bản đồ như ngày nay nữa. Niềm tin đã giúp Trà Kiệu đứng vững. Ngày 31 tháng 5, trong bình diện tôn giáo, vì thế, phải được hiểu như là ngày của Niềm Tin hơn là một chiến thắng quân sự chống lại Văn Thân. Niềm tin tôn giáo đó vô cùng cao cả và trong sáng. Đồng bào xứ Quảng thời đó đã sống có niềm tin và đã chết vì niềm tin. Những hy sinh của họ xứng đáng được kính trọng và phải được nhìn từ khía cạnh thuần túy tâm linh.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc ít may mắn. Rất hiếm hoi trong mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta có được một thời bình yên và ổn định đủ dài để xây dựng đất nước hay ít ra đủ kết hợp một tiềm năng, như trường hợp Nhật Bản, đủ sức chống chỏi với các áp lực từ bên ngoài. Sau suốt cả ngàn năm Bắc thuộc là Trịnh Nguyễn phân tranh. Khi cuộc nội chiến vừa yên thì các chiến hạm Pháp cũng vừa thả neo dòm ngó ngoài cửa biển. Nói ra có vẻ cải lương nhưng quả thật dân tộc Việt Nam đúng là một dân tộc đã trưởng thành trong khói lửa.

Tôn giáo tại Việt Nam đã chia xẻ trọn vẹn những bất hạnh chung của dân tộc. Phần lớn các tôn giáo lớn được truyền vào Việt Nam cùng lúc với những biến động lịch sử lớn của đất nước. Theo các quy luật kinh tế đã được các nhà kinh tế thuộc mọi trường phái thừa nhận, chủ nghĩa thực dân là một bệnh chứng tất yếu trong quá trình tiến hóa của nhân loại. Với hệ thống giáo dục lỗi thời và chính sách đối ngoại vô cùng thiếu ngôn ngoan của triều đình nhà Nguyễn cộng với các kỹ thuật chiến tranh cách biệt quá xa về kỹ thuật giữa tây phương và của các quốc gia khu vực Nam Á thời bấy giờ, dù có hay không có sự xuất hiện của Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam trong giai đoạn đó thì nước ta vẫn mất, nhà ta vẫn tan.

Chỉ tiếc là chúng ta không có những ông vua sáng suốt như Minh Trị Thiên Hoàng (1852-1912) biết nhìn xa hiểu rộng, kịp thời canh tân đất nước. Chúng ta cũng không có được những ông vua như Rama IV (1851-1868) của Thái đủ khôn ngoan để thấy được xu thế chính trị kinh tế của thời đại, ngõ hầu dung hóa các ngoại lực. Thay vào đó, các vua nhà Nguyễn đã theo đuổi chính sách bế môn tỏa cảng để rồi cuối cùng dẫn đến mất nước. Tiếng súng của Đô Đốc Perry đã đánh thức nước Nhật nhưng tiếng đại bác của viên sĩ quan Pháp, Le Lieur, bắn vào Đà Nẵng năm 1856 không lay tỉnh một triều đại ngủ quên trong cái học từ chương, thi phú cung đình. Những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điều … chỉ là vài giọt nước tan loãng vào biển hủ nho phong kiến. Tương tự, những lời can gián cương trực của hai danh sĩ Quảng Nam, Phó Sứ Phạm Phú Thứ và Binh Bộ Thượng Thư Lê Đĩnh, chẳng đủ công hiệu để giết hết được loại vi trùng định kiến, hoài nghi, bảo thủ, lo sợ mất quyền, mất nước truyền trong máu từ bao đời trước.

Thế nhưng, nói như thế, cũng không có nghĩa, tôi đang trách tổ tiên ông bà chúng ta trong phong trào Văn Thân, Cần Vương kháng Pháp. Thảm cảnh, trong đó hàng vạn người Việt Nam được trang bị bằng dao mác, tầm vông, đã gục xuống như rơm rạ trước nòng đại bác thực dân, đã làm sục sôi máu hờn căm của những người dân Việt đang đau vì vận nước. Ông bà chúng ta thời đó, ngoài giặc Pháp, chẳng còn một nơi nào hay một ai để trút lòng phẩn uất, lửa căm thù của họ, khác hơn là các giáo sĩ Tây phương và những người theo đạo từ Tây phương truyền đến.

Và để nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không thể trách các vua nhà Nguyễn đã bế quan trong bốn bức tường thành. Làm sao các vị đó hiểu được những gì đang xảy ra trên thế giới và cho vận nước khi cả đời vùi mài trong tứ thư ngũ kinh. Làm sao các vị đó có được chọn lựa sáng suốt hơn khi mang trong người dòng máu sợ người ngoài như sợ thú dữ, truyền lại từ suốt ngàn năm lệ thuộc Bắc phương.

Trở lại với Trà Kiệu, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu thời bấy giờ đã dù bị bạc đãi, dù chịu đựng trấn áp nhưng đã không vì thế mà bỏ rơi đất nước. Các tín đồ Thiên Chúa Giáo Quảng Nam đã không nghe lời Giám Mục Pellerin làm nội gián cho quân của tướng Rigault De Genouilly khi viên tướng nầy đem quân đánh Đà Nẵng vào ngày 1 tháng 9 năm 1857. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Phạm Văn Sơn: “Viên Trung Tướng nầy [Rigault De Genouilly] còn thất vọng thêm ở chỗ không thấy có giáo dân nổi lên hưởng ứng nên đã kỳ kèo giám mục Pellerin vì trước đây giám mục đã đoan quyết như vậy. Lúc nầy giám mục cũng theo quân đội (Pháp) và có mặt trên chiếc tàu Némésic. Giám mục vừa xấu hổ vừa tức giận nên bỏ về ở nhà tu Pinang tại Mã Lai“.

Hẳn nhiên không phải ở đâu cũng có những người Việt Nam như thế, không phải nơi nào dân tộc ta cũng may mắn có được những người con biết làm ngơ trước vinh hoa để bảo vệ sự sống còn lâu dài của dân tộc như thế. Trong suốt 40 năm chiến đấu trong gian nan tuyệt vọng để ngăn chận bước chân của thực dân Pháp (1847-1887), bao nhiêu mẩu chuyện đầy bẽ bàng chua xót, bao nhiêu việc làm đáng trách của một số người Việt còn ghi lại trong sử sách.

Nhắc lại những điều đáng ca ngợi hay nêu lên đôi điều đáng trách đó, tôi không có ý định đào sâu những vết thương đã một thời lở lói trong lòng dân tộc. Nhưng để chúng ta cùng nhìn về quá khứ một cách khách quan, chân thành, bao dung và trân trọng, để từ đó biết tránh xa những ổ gà, những hầm hố, những vết xe đổ, trên đường đi tới một tương lai tươi sáng cho đời sau. Không ai muốn giết nhau. Không ai muốn tàn sát nhau. Định mệnh lịch sử đã bẫy dân tộc ta vào một căn hầm không lối thoát, trong đó, các thành phần dân tộc vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng, vừa là đồng lõa và nhiều khi cũng vừa là tội phạm. Đọc lại lịch sử Việt Nam các thế kỷ 17, 18 để thấy ông bà chúng ta đáng thương và tội nghiệp biết bao nhiêu. Cả dân tộc, thời bấy giờ, như một bầy cừu non, không hề chuẩn bị, trước nanh vuốt của Thực Dân Pháp.

Tôi chỉ mong có một ngày những người dân Quảng sẽ cùng về lại Trà Kiệu, cùng nhau lau sạch những bậc đá trên đồi Bửu Châu như lau đi những vết thương hằn sâu nhiều thế kỷ. Tôi vẫn mơ có một ngày cùng nhau xây lại đình làng Ngũ Xã Hoàng Châu và các làng mạc chung quanh Trà Kiệu, nơi đã từng là bãi chiến trường, là biên giới của phân ly, hoài nghi, xa cách. Trà Kiệu, Mã Châu, Thi Lai, Hà Mật, Kỳ Lam, Giao Thủy, Đà Nẵng, Hội An….là những phần thân thể đáng yêu và bất khả phân ly của xứ Quảng. Tôi yêu Trà Kiệu như yêu chính ngôi làng Mã Châu nhỏ bé của tôi.

Chiều hôm qua, đọc bài viết công phu của linh mục Trần Quý Thiện về nhà thơ Công Giáo Hàn Mặc Tử, tôi xúc động và hãnh diện khi biết rằng mẹ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, cụ bà Nguyễn Thị Duy, sinh năm 1881, là người Trà Kiệu. Thân phụ của tác giả Đây Thôn Vỹ Dạ nổi tiếng, cụ Vinh Sơn Phaolô Phạm Toản (1882-1926) vì chống Pháp phải thay đổi họ từ Phạm sang họ Nguyễn. Giọt sữa mẹ và hùng khí quê ngoại Quảng Nam đã góp phần tạo nên Hàn Mặc Tử, nhà thơ lớn của Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Chúng ta không thể sửa lại quá khứ, chúng ta không thể làm lại lịch sử, chúng ta không thể xoay ngược bánh xe thời gian, chúng ta cũng không thể nào quên đi quá khứ, nhưng xin hứa với nhau, chúng ta sẽ không sống bằng quá khứ.

Chúng ta sẽ học những bài học đắng cay của cha ông chúng ta một cách nghiêm túc, chân thành và trân trọng. Nhưng không phải học để rồi khóc than thương tiếc, mà để từ đó xây dựng một Việt Nam thương yêu, đoàn kết trong tương lai, kính Chúa nếu là con cái Chúa, kính Phật nếu là đệ tử Phật, tương kính đạo của nhau giữa những người khác đạo, và biết vượt qua mọi khó khăn để gìn giữ căn nhà chung của mẹ Việt Nam.

Các tôn giáo sẽ mãi mãi là những dòng suối của tình thương, những dòng sông của bác ái, hòa vào mạch sống chung của dân tộc, đem lại dòng sinh khí cho quê hương vốn đã bao năm chìm đắm trong hận thù tang tóc. Các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo trong Việt Nam tương lai sẽ là những cột kèo, mái vách gìn giữ cho căn nhà đạo đức Việt Nam mỗi ngày một thêm bền vững. Các ngài sẽ là những bậc thầy đáng kính dạy dỗ cho các thế hệ Việt Nam mai sau được lớn lên trong tình đồng bào ruột thịt, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau.

Khoảng cách không phải một sớm một chiều mà xóa hết nhưng vẫn còn đó trong mỗi chúng ta chung một niềm hy vọng. Xin cầu nguyện.

Trần Trung Đạo

Nằm vào mục: Tâm Bút | Có 2 ý kiến »

Kính báo tin buồn

MeHoaHung-chinhthuc
Kính báo cùng thân hữu và độc giả, dưỡng mẫu tôi, người nuôi dưỡng tôi trong những năm tháng đầy khó khăn ở Sài Gòn và tình thương của mẹ là nguồn thôi thúc để tôi viết nhiều bài thơ, bài văn về mẹ vừa qua đời tại Việt Nam sau thời gian ngắn lâm bịnh.
Mẹ tôi tên là Phan Thị Diên, Pháp danh Diệu Hồng, sinh năm 1924, qua đời ngày 21 tháng 12 năm 2014 tại Hòa Hưng, Sài Gòn, hưởng thượng thọ 91 tuổi. Lễ an táng sẽ diễn ra tại Sài Gòn, ngày 25 tháng 12, 2014.
Kính báo tin.

Trần Trung Đạo và gia đình

Nằm vào mục: Tâm Bút | Có 3 ý kiến »